Suy thoái kinh tế và chính sách kích cầu của Chính phủ Việt Nam - Pdf 12

A. Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu.
1. Lý do chọn đề tài.
Ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức thương mại thế giới WTO. Sự kiện này cũng đánh dấu sự hội nhập sâu của
kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế mở ra cho Việt Nam
nhiều cơ hội để có thể vươn lên “sánh vai với các cường quốc” nhưng cũng đưa đến
không ít những khó khăn thách thức.
Như một con tàu vươn ra biển lớn, để kinh tế Việt Nam có thể chống chọi
với “bão táp phong ba” mà vẫn vững vàng về đích thì Chính Phủ Việt Nam với vai
trò là thuyền trưởng cần có những bước đi đúng hướng để ứng phó với mọi tình
hình biến động từ bên ngoài cũng như giải quyết các tốt các vấn đề nội bộ.
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 2007-2010
đã ảnh hưởng tới hầu hết mọi nền kinh tế trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vậy
suy thoái kinh tế là gì? Nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng này như thế nào?
Chúng ta biết gì về khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu những năm
2007-2010 và nó ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam ra sao? Chính phủ Việt Nam
đã có những hành động gì trong bối cảnh đó?
Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên, em đã chọn đề tài nghiên cứu khoa
học cho mình là “ Suy thoái kinh tế và chính sách kích cầu của Chính phủ
Việt Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Mục tiêu tổng quát:
Nhằm nâng cao hiểu biết của bản thân về các vấn đề kinh tế xã hội.
- Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hoá lý thuyết suy thoái kinh tế, tìm hiểu nguyên nhân, cách
nhận biết cũng như giải pháp.
1
Phân tích, đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm từ gói kích cầu của chính
phủ Việt nam trong năm 2009.
Tìm hiểu, phân tích và rút ra kinh nghiệm từ giải pháp kích cầu của
Chính phủ Trung Quốc.

xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng
tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán
thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ
kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời
kỳ suy thoái.
3. Nguyên nhân suy giảm kinh tế theo quan điểm Keynes.
Theo lý thuyết Keynes, trong ngắn hạn sản lượng thực tế có thể thấp
hơn so với mức sản lượng tự nhiên của nền kinh tế. Và nguyên nhân của hiện
tượng này là do sự suy giảm tổng cầu của nền kinh tế.
Trong một nền kinh tế mở tổng cầu bao gồm các yếu tố sau: (i) tiêu
dùng của các hộ gia đình (C); (ii) đầu tư tư nhân (I); (iii) chi tiêu của Chính
phủ (G); (iv) và xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữa xuất khẩu(X) và
nhập khẩu (M).
4
Hình 2: Sự dịch chuyển của đường tổng cầu
AD = C + I + G + NX
Sự suy giảm của tổng cầu được biểu diễn bằng sự dịch trái của đường
AD (AD0=>AD1). Khi đó nền kinh tế sẽ di chuyển theo đường tổng cung (AS)
từ trạng thái cân bằng E0 đến trạng thái cân bằng mới E1.Tại trạng thái cân
bằng mới, sản lượng của nền kinh tế giảm từ Y0 xuống Y1 và mức giá giảm từ
P0 đến P1. Như vậy là sự suy giảm của tổng cầu dẫn đến giảm sản lượng của
nền kinh tế và giảm giá cả.
Chính vì lẽ đó mà Keynes chủ trương cần có sự can thiệp của nhà nước
làm cho đường tổng cầu dịch chuyển trở về vị trí ban đầu hay còn gọi là chính
sách kích cầu khi nền kinh tế lâm vào trạng thái suy giảm.
II. Chính sách kích cầu.
1. Khái niệm.
5
Kích cầu là sử dụng các công cụ chính sách để làm tăng các thành phần

- Để giảm nhập khẩu (giảm M), có thể sử dụng chính sách thuế xuất
nhập khẩu, các hàng rào phi thuế quan khác hoặc khuyến khích sử
dụng hàng trong nước thay thế nhập khẩu.
4. Những nguyên tắc quan trọng khi kích cầu
Theo các nhà kinh tế học kích cầu không phải là việc mà các nhà hoạch
định chính sách thiết kế các phương án rồi cứ thế thực hiện mà điều quan
trọng hàng đầu là phải đảm bảo các nguyên tắc riêng của nó .Nhà kinh tế học
Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu trưởng trường đại học
Harvard và là cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama) cho rằng để một gói
kích cầu có hiệu quả (effective) thì phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí (3T), đó là
kịp thời (timely), đúng đối tượng (targeted) và ngắn hạn hay nhất thời
(temporary).
4.1. Kích cầu phải kịp thời – Timely
Tính kịp thời của kích cầu thường được dựa vào việc chính phủ can
thiệp vào nền kinh tế ngay khi có nguy cơ suy thoái, đồng thời việc can thiệp
của chính phủ sẽ có tác động kích thích ngay tổng cầu.
Chính Phủ phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệp chưa thu
hẹp sản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng. Nếu thực hiện sớm
quá, kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng và tăng áp lực lạm phát.
Nhưng nếu thực hiện chậm quá, thì hiệu quả của kích cầu sẽ giảm. Việc thực
hiện kích cầu đúng lúc càng phải được chú ý nếu các quá trình chính trị và
hành chính để cho một gói kích cầu được phê duyệt và triển khai là phức tạp.
Thường thì chính phủ phải đệ trình quốc hội kế hoạch kích cầu và phải được
7
cơ quan lập pháp tối cao này thông qua. Và, muốn nó diễn ra suôn sẻ thì cần
có các bằng chứng thuyết phục và kế hoạch rõ ràng. Do đó, thách thức lớn
nhất chính là sự thiếu chính xác trong xác định thời điểm chuyển pha của chu
kỳ kinh tế. Có trường hợp nền kinh tế đã chuyển hẳn sang pha suy thoái một
thời gian rồi mà công tác thu thập và phân tích số liệu thống kê không đủ khả
năng phán đoán ra.

Tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này
tiến hành các khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm
chi tiêu.
Việc đánh giá tính hiệu quả trong việc lựa chọn đối tượng kích cầu
thường được thực hiện qua việc đánh giá hiệu quả kích cầu trên một đồng đô
la thực hiện kích cầu, hay nói cách khác, một đồng đô la bỏ ra sẽ làm tăng
tổng cầu lên bao nhiêu đồng.
Ví dụ: Giả sử ông A nhận được khoản tiền mặt trợ cấp 100 đồng từ gói
trợ cấp của Chính phủ. Với gia cảnh cũng như thói quen của mình, ông A sẽ
sử dụng một phần số tiền trợ cấp nhận được. Đây được gọi là xu hướng tiêu
dùng cận biên. Nếu ông A tiêu hết 90 đồng thì xu hướng tiêu dùng cận biên sẽ
là 90%. Nếu ông A mua sảm phẩm của ông B thì ông B sẽ có thu nhập là 90
đồng. Và cũng giống như ông A, ông B sẽ tiêu dùng khoảng 81 đồng (90%
thu nhập), vào sản phẩm của ông C. Đến luợt mình, 81 đồng đó sẽ tạo ra thêm
72,9 đồng cho tổng cầu của nền kinh tế. Trong ví dụ này, 100 đồng kích cầu
sẽ tạo ra thêm tổng cầu là 243 đồng, nếu tất cả người có thêm thu nhập có
mức tiêu dùng cận biên cao là 90% và chỉ tiêu dùng hàng sản xuất nội địa.
9
Nhưng nếu ở đây có hiện tượng “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập thì 100 đồng
kích cầu sẽ không tạo ra thêm lượng tổng cầu như cũ nữa mà thấp hơn. Cũng
ví dụ trên, nếu ông A dùng 30 đồng mua hàng ngoại nhập thì chỉ còn 60 đồng
tiêu dùng trong nước, lượng cầu mới tạo ra đã bị “rò rỉ” đi mất 30 đồng ở
vòng 1. Tương tự như vây, hiệu ứng tạo cầu trong vòng 2 còn phụ thuộc vào
có bao nhiêu trong tổng số đồng ông B nhận được bị “rò rỉ” sang hàng ngoại
nhập. Như vậy, lượng “rò rỉ” sẽ ảnh hưởng đến việc tạo thêm tổng cầu cho
nền kinh tế. Nếu nó càng lớn thì hiệu quả của gói kích cầu sẽ càng bé.
Vậy để kích cầu có hiệu quả thì gói kích cầu phải nhắm vào những đối
tượng có khuynh hướng tiêu dùng biên cao và mức độ “rò rỉ” sang hàng ngoại
nhập thấp.
Khi nền kinh tế khủng hoảng thì nhóm người có thu nhập thấp là nhóm

tính bất ổn của nền kinh tế. Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt
hơi và tổng cầu có thể không bị kích thích nữa, khiến cho gói kích cầu trở
thành lãng phí. Ngược lại gói kích cầu lớn qua tạo ra tác động kéo dài khiến
cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn trong trạng thái tiếp tục được kích thích
thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên. Thường thì khi
thực hiện các biện pháp kích thích nền kinh tế việc mở rộng chi tiêu (tạm
thời) của Chính Phủ sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách. Do đó phải đảm bảo các
chính sách kích thích kinh tế trong ngắn hạn không có tác động xấu tới nền
kinh tế trong dài hạn hoặc gây khó khăn cho ngân sách trong dài hạn hay làm
thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn. Việc đảm bảo rằng trong dài hạn tình
hình kinh tế không kém đi cũng là yếu tố qua trọng để gói kích cầu ngắn hạn
đạt hiệu quả hơn. Thâm hụt ngân sách lớn trong tương lai cũng đồng nghĩa
với suy giảm tiết kiệm trong dài hạn, dẫn tới giảm đầu tư và ảnh hưởng tới
11
tăng trưởng. Vì vậy cần phải thiết kế một gói kích cầu vừa đủ tức là gói kích
cầu sẽ hết hiệu lực khi nền kinh tế đã trở nên tốt hơn.
Thứ ba, thời điểm rút kích cầu cũng rất quan trọng. Chính phủ cần rút
kích cầu khi nền kinh tế đã phục hồi. Nếu rút kích cầu quá muộn sẽ làm cho
nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, gây lạm phát tạo ra sự bất ổn kinh tế. Còn
nếu rút kích cầu quá sớm, khi nền kinh tế còn chưa phục hồi hay dấu hiệu
phục hồi chưa rõ ràng thì sẽ làm cho nền kinh tế không thể phục hồi hoặc sẽ
đi vào trạng thái chu kỳ hình W. Như vậy thời điểm rút kích cầu cũng rất
quan trọng, nó quyết định cho kết quả của quá trình kích cầu và trạng thái mới
của nền kinh tế.
Tóm lại: khi nền kinh tế lâm vào tình trang suy thoái thì chính phủ cần
có chính sách kích cầu phù hợp. Để có thể đưa nền kinh tế ra khỏi suy thoái
nhanh nhất và không ảnh hưởng tới khả năng phát triển trong tương lai chính
phủ cần chú ý đến các biện pháp kích cầu và các nguyên tắc khi thực hiện
chính sách kích cầu.
12

chúng thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu
tư lớn thứ 5 của Mỹ quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được
đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ.
Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14.000 điểm, lần đầu
tiên trong lịch sử.
Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán
dựa trên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh
mục vốn đầu tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân
hàng Trung Quốc. Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà. Cục
dữ trữ liên bang đã cho các ngân hàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp.
Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp
lớn nhất nước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la
từ một nhóm các ngân hàng khác.
Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50
điểm cơ bản từ mức 6.25% xuống 5.75%
Tháng 9: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại
châu Âu chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay
dưới chuẩn ở Mỹ. Trong khi đó, Ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự
cứu trợ từ chính phủ.
Ngày 14/09: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến
bủa vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay thế
chấp Northern Rock - ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh.
Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính
phủ thông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng
14
khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm
do khủng hoảng vay dưới chuẩn. Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake
và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm
của việc vỡ bong bóng bất động sản.
Ngày 15/10: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công

các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp
bất động sản.
Ngày 11/07: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân
hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn
nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD
trong vòng 11 ngày.
Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã
báo cáo thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla.
Ngày 31/07: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo
là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche
Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín
dụng toàn cầu.
Ngày 7/09: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt
quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie
Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.
Ngày 11/09: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác
để bán lại chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
16
Ngày 14/09: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29
USD/cp sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers. Merrill Lynch
được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô la.
Ngày 15/09: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường
này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm
2001. Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill
Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group -
tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản
thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.
Ngày 16/09: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ
USD vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và
ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu. Cổ phiếu AIG giảm

trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công
nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh
nhất từ trước tới nay.
Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân
hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán
lẻ cho đối thủ Citigroup.
Ngày 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ
USD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo
luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân
sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại cơ quan bảo
hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.
Ngày 3/10: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ
phiếu lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171.
18
Không đầy 2 giờ sau đó, Tổng thống Mỹ đặt bút ký để chính thức chuyển kế
hoạch thành đạo luật.
Ngày 4/10: Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã triệu tập cuộc họp
thượng đỉnh khẩn cấp với lãnh đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh Châu Âu
là Anh, Pháp, Đức và Ý. Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý khủng
hoảng, nhưng không thống nhất được một gói giải pháp tổng thể theo mô hình
của Mỹ.
Ngày 5/10: Mặc dù Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chỉ trích quyết
định của Ireland tuần trước về bảo hiểm toàn bộ các tài khoản ngân hàng tại
Ireland, nhưng Bộ trưởng Tài chính Đức đã thông báo tất cả các tài khoản tiền
gửi ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có giới hạn.
Ngày 6/10: Ngân hàng BNP Paribas SA của Pháp gửi email thông báo
đã thỏa thuận chi 14,5 tỷ Euro (tương đương 19,8 tỷ USD) để mua lại ngân
hàng Fortis, trong đó có 9 tỷ Euro bằng cổ phiếu và 5,5 tỷ Euro bằng tiền
mặt. BNP sẽ sở hữu 75% Fortis tại Bỉ, 67% Fortis tại Luxembourg, và toàn bộ
mảng bảo hiểm của Fortis tại Bỉ.

lớn kỷ lục kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước
lượng rằng nền kinh tế Hoa Kỳ năm 2009 thu hẹp 2,6%. Năm 2009, GDP của
Đức giảm 6,2%; và dự báo sẽ còn giảm trong năm 2010. Còn GDP của Nhật
20
Bản năm 2009 cũng giảm tới 6%. Những nước phát triển lớn khác bị giảm
GDP là Anh, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Ý. Cả khu vực đồng euro nói
chung giảm 4,8% trong năm 2009 và dự báo sẽ còn giảm 0,3% trong năm
2010.
Trong các nước OECD, chỉ có Hy Lạp, Hàn Quốc, Ba Lan, Slovaky là
không bị rơi vào suy thoái kinh tế (theo cách xác định suy thoái là hai quý
liên tục tăng trưởng dưới 0), song vẫn bị suy giảm tốc độ tăng trưởng.
Các nước công nghiệp hóa mới châu Á đều là những nền kinh tế theo
định hướng xuất khẩu. Suy giảm tăng trưởng kinh tế thế giới đã làm GDP của
các nước này đang từ chỗ tăng tới 5,1% trong năm 2007 giảm xuống chỉ còn
tăng 1,5% trong năm 2008 và dự kiến sẽ giảm 5,2% trong năm 2009. Các
nước và lãnh thổ lâm vào suy thoái là Hồng Kông và Singapore (từ quý IV
năm 2008)
Các nước đang phát triển châu Á hầu hết đều bị giảm tốc độ tăng trưởng,
thậm chi có nước còn tăng trưởng âm. Các nước Bangladesh, Indonesia,
Pakistan, Việt Nam vốn có mức tăng trưởng trên dưới 6% trong các năm 2007
và 2008, sang năm 2009 chỉ còn tăng trưởng trên dưới 3%. Các nước Malaysia
và Thái Lan tăng trưởng với tốc độ -3,0% và -3,5% trong năm 2009.
Các nền kinh tế Mỹ Latinh vốn có độ mở cao và phụ thuộc vào vốn
nước ngoài và xuất khẩu nguyên liệu-năng lượng. Vì thế, các nước trong khu
vực này bị suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức độ khác lớn. Mexico bị
suy giảm nhiều nhất do nền kinh tế này gắn kết chặt chẽ với kinh tế Hoa Kỳ.
GDP của Mexico giảm tới 3,7% trong năm 2009. Những nước lớn khác có
GDP giảm là Argentina, Ecuador và Venezuela.
Tất cả các nước ở Trung Đông đều bị suy giảm kinh tế. Những nước
Trung Đông xuất khẩu nhiều dầu lửa là Ả Rập Saudi, UAE và Kuwait còn bị

cuối năm 2009, nó vẫn còn thấp hơn 2,8% so với thời kỳ trước khủng hoảng.
2.3. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.
Năm 2009 là năm mà tỷ lệ thất nghiệp leo thang tại nhiều nền kinh tế
trên thế giới. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu
tăng 6,6% trong năm 2009. So với năm 2007 thì tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu
năm 2009 tăng 0,9 điểm phần trăm. Số người thất nghiệp năm 2009 trên toàn
23
cầu đã tăng kỷ lục 34 triệu người so với năm 2007, đưa số người thất nghiệp
trên toàn thế giới lên 212 triệu người trong năm 2009. Trong đó, số thanh niên
thất nghiệp đã tăng 13,4% (thêm 10,2 triệu người), mức tăng cao nhất kể từ
năm 1991.
Đồ thị 2:Thất nghiệp toàn cầu giai đoạn 1999 – 2009*
Nguồn: Tổ chức lao động thế giới (ILO), 2009*: Số liệu ước tính sơ bộ
Tại Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 10/2009 đạt mức kỷ lục 10,2%,
mức cao nhất trong 26 năm qua, trước khi giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì ở mức
hai con số 10% trong tháng 11 và tháng 12. Tỷ lệ thất nghiệp EU cũng nằm
trong xu hướng gia tăng qua các tháng năm 2009. Tháng 10/2009 tỷ lệ thất
nghiệp của EU là 9,3%, số người thất nghiệp là 22,51 triệu người, tăng
258.000 người so với tháng 9/2009 và tăng 5 triệu người so với tháng
10/2008. Tháng 11/2009, khu vực EU có thêm nhiều người tham gia nhóm
thất nghiệp, đưa mức thất nghiệp của khu vực này lên con số 9.5%. Tại Nhật
Bản, tỷ lệ thất nghiệp đã đạt mức kỷ lục 5,7% trong tháng 7/2009.
24
3. Nguyên nhân gây ra khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng lần này không phải là quá bất ngờ với giới tài chính
Mỹ nói riêng và thế giới nói chung. Nó là kết quả của một chuỗi những rủi ro
liên tiếp mà chính các tổ chức tài chính, ngân hàng ở Mỹ tạo ra cho chính
mình.
Có thể tóm lại một số nguyên nhân chính, mà thực chất là hệ quả của nhau –
đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tất yếu này ở Mỹ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status