Suy thoái kinh tế và chính sách kích cầu của Chính phủ Việt Nam - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A. Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu.
1. Lý do chọn đề tài.
Ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức thương mại thế giới WTO. Sự kiện này cũng đánh dấu sự hội nhập sâu của
kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế mở ra cho Việt Nam
nhiều cơ hội để có thể vươn lên “sánh vai với các cường quốc” nhưng cũng đưa đến
không ít những khó khăn thách thức.
Như một con tàu vươn ra biển lớn, để kinh tế Việt Nam có thể chống chọi
với “bão táp phong ba” mà vẫn vững vàng về đích thì Chính Phủ Việt Nam với vai
trò là thuyền trưởng cần có những bước đi đúng hướng để ứng phó với mọi tình
hình biến động từ bên ngoài cũng như giải quyết các tốt các vấn đề nội bộ.
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 2007-2010
đã ảnh hưởng tới hầu hết mọi nền kinh tế trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vậy
suy thoái kinh tế là gì? Nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng này như thế nào?
Chúng ta biết gì về khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu những năm 2007-
2010 và nó ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam ra sao? Chính phủ Việt Nam đã có
những hành động gì trong bối cảnh đó?
Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên, em đã chọn đề tài nghiên cứu khoa
học cho mình là “ Suy thoái kinh tế và chính sách kích cầu của Chính phủ
Việt Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Mục tiêu tổng quát:
Nhằm nâng cao hiểu biết của bản thân về các vấn đề kinh tế xã hội.
- Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hoá lý thuyết suy thoái kinh tế, tìm hiểu nguyên nhân, cách
nhận biết cũng như giải pháp.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phân tích, đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm từ gói kích cầu của chính
phủ Việt nam trong năm 2009.

- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao
động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất
nghiệp tăng cao.
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản
xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng
tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán
thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ
kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời
kỳ suy thoái.
3. Nguyên nhân suy giảm kinh tế theo quan điểm Keynes.
Theo lý thuyết Keynes, trong ngắn hạn sản lượng thực tế có thể thấp
hơn so với mức sản lượng tự nhiên của nền kinh tế. Và nguyên nhân của hiện
tượng này là do sự suy giảm tổng cầu của nền kinh tế.
Trong một nền kinh tế mở tổng cầu bao gồm các yếu tố sau: (i) tiêu
dùng của các hộ gia đình (C); (ii) đầu tư tư nhân (I); (iii) chi tiêu của Chính
phủ (G); (iv) và xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữa xuất khẩu(X) và
nhập khẩu (M).
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hình 2: Sự dịch chuyển của đường tổng cầu
AD = C + I + G + NX
Sự suy giảm của tổng cầu được biểu diễn bằng sự dịch trái của đường
AD (AD0=>AD1). Khi đó nền kinh tế sẽ di chuyển theo đường tổng cung (AS)
từ trạng thái cân bằng E0 đến trạng thái cân bằng mới E1.Tại trạng thái cân
bằng mới, sản lượng của nền kinh tế giảm từ Y0 xuống Y1 và mức giá giảm từ
P0 đến P1. Như vậy là sự suy giảm của tổng cầu dẫn đến giảm sản lượng của
nền kinh tế và giảm giá cả.
Chính vì lẽ đó mà Keynes chủ trương cần có sự can thiệp của nhà nước
làm cho đường tổng cầu dịch chuyển trở về vị trí ban đầu hay còn gọi là chính

- Để tăng chi tiêu của chính phủ cho hàng hoá dịch vụ (tăng G), có thể
tăng chi tiêu cho tiêu dùng hoặc tăng chi tiêu cho đầu tư công.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Để tăng xuất khẩu (tăng X), có thể sử dụng chính sách tỷ giá hối
đoái, các hoạt động xúc tiến thương mại.
- Để giảm nhập khẩu (giảm M), có thể sử dụng chính sách thuế xuất
nhập khẩu, các hàng rào phi thuế quan khác hoặc khuyến khích sử dụng hàng
trong nước thay thế nhập khẩu.
4. Những nguyên tắc quan trọng khi kích cầu
Theo các nhà kinh tế học kích cầu không phải là việc mà các nhà hoạch
định chính sách thiết kế các phương án rồi cứ thế thực hiện mà điều quan
trọng hàng đầu là phải đảm bảo các nguyên tắc riêng của nó .Nhà kinh tế học
Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu trưởng trường đại học
Harvard và là cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama) cho rằng để một gói
kích cầu có hiệu quả (effective) thì phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí (3T), đó là
kịp thời (timely), đúng đối tượng (targeted) và ngắn hạn hay nhất thời
(temporary).
4.1. Kích cầu phải kịp thời – Timely
Tính kịp thời của kích cầu thường được dựa vào việc chính phủ can
thiệp vào nền kinh tế ngay khi có nguy cơ suy thoái, đồng thời việc can thiệp
của chính phủ sẽ có tác động kích thích ngay tổng cầu.
Chính Phủ phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệp chưa thu
hẹp sản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng. Nếu thực hiện sớm
quá, kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng và tăng áp lực lạm phát.
Nhưng nếu thực hiện chậm quá, thì hiệu quả của kích cầu sẽ giảm. Việc thực
hiện kích cầu đúng lúc càng phải được chú ý nếu các quá trình chính trị và
hành chính để cho một gói kích cầu được phê duyệt và triển khai là phức tạp.
Thường thì chính phủ phải đệ trình quốc hội kế hoạch kích cầu và phải được
cơ quan lập pháp tối cao này thông qua. Và, muốn nó diễn ra suôn sẻ thì cần

8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhắm tới đối tượng sao cho gói kích cầu được sử dụng ngay (chi tiêu ngay),
và qua đó làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế. Những biện pháp kích cầu
đúng đối tượng là những biện pháp nhắm tới các đối tượng sẽ chi tiêu hầu như
toàn bộ lượng kích cầu dành cho họ. Mục tiêu của gói kích cầu là làm tăng
cầu, nên chìa khóa để thực hiện điều này là cấp tiền cho những người sẽ sử
dụng ngay những đồng tiền này, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế.
Tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này
tiến hành các khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm
chi tiêu.
Việc đánh giá tính hiệu quả trong việc lựa chọn đối tượng kích cầu
thường được thực hiện qua việc đánh giá hiệu quả kích cầu trên một đồng đô
la thực hiện kích cầu, hay nói cách khác, một đồng đô la bỏ ra sẽ làm tăng
tổng cầu lên bao nhiêu đồng.
Ví dụ: Giả sử ông A nhận được khoản tiền mặt trợ cấp 100 đồng từ gói
trợ cấp của Chính phủ. Với gia cảnh cũng như thói quen của mình, ông A sẽ
sử dụng một phần số tiền trợ cấp nhận được. Đây được gọi là xu hướng tiêu
dùng cận biên. Nếu ông A tiêu hết 90 đồng thì xu hướng tiêu dùng cận biên sẽ
là 90%. Nếu ông A mua sảm phẩm của ông B thì ông B sẽ có thu nhập là 90
đồng. Và cũng giống như ông A, ông B sẽ tiêu dùng khoảng 81 đồng (90%
thu nhập), vào sản phẩm của ông C. Đến luợt mình, 81 đồng đó sẽ tạo ra thêm
72,9 đồng cho tổng cầu của nền kinh tế. Trong ví dụ này, 100 đồng kích cầu
sẽ tạo ra thêm tổng cầu là 243 đồng, nếu tất cả người có thêm thu nhập có
mức tiêu dùng cận biên cao là 90% và chỉ tiêu dùng hàng sản xuất nội địa.
Nhưng nếu ở đây có hiện tượng “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập thì 100 đồng
kích cầu sẽ không tạo ra thêm lượng tổng cầu như cũ nữa mà thấp hơn. Cũng
ví dụ trên, nếu ông A dùng 30 đồng mua hàng ngoại nhập thì chỉ còn 60 đồng
tiêu dùng trong nước, lượng cầu mới tạo ra đã bị “rò rỉ” đi mất 30 đồng ở
9

thời gian kích thích đã kết thúc. Hơn thế nữa các biện pháp như tín dụng đầu
tư, hoặc ưu đãi khấu hao tài sản sẽ là những biện pháp kích cầu hiệu quả hơn
khi được thực hiện là những gói tạm thời, ngắn hạn. Nếu là những biện pháp
dài hạn thì sẽ không kích thích được cầu. Điều này là do các biện pháp nếu chỉ
thực hiện trong ngắn hạn sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ
đầu tư để tận dụng ưu đãi. Những biện pháp dài hạn sẽ không phải là một biện
pháp kích cầu tốt, bởi vì các doanh nghiệp sẽ cảm thấy không cần thiết phải
đẩy nhanh tốc độ đầu tư trong giai đoạn nền kinh tế cần được kích thích nhất.
Thứ hai, kích cầu vừa đủ để đảm bảo nền kinh tế có thể vượt qua suy
thoái nhưng không làm ảnh hưởng lớn tới ngân sách trong dài hạn và làm tăng
tính bất ổn của nền kinh tế. Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt
hơi và tổng cầu có thể không bị kích thích nữa, khiến cho gói kích cầu trở
thành lãng phí. Ngược lại gói kích cầu lớn qua tạo ra tác động kéo dài khiến
cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn trong trạng thái tiếp tục được kích thích
thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên. Thường thì khi
thực hiện các biện pháp kích thích nền kinh tế việc mở rộng chi tiêu (tạm
thời) của Chính Phủ sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách. Do đó phải đảm bảo các
chính sách kích thích kinh tế trong ngắn hạn không có tác động xấu tới nền
kinh tế trong dài hạn hoặc gây khó khăn cho ngân sách trong dài hạn hay làm
thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn. Việc đảm bảo rằng trong dài hạn tình
hình kinh tế không kém đi cũng là yếu tố qua trọng để gói kích cầu ngắn hạn
đạt hiệu quả hơn. Thâm hụt ngân sách lớn trong tương lai cũng đồng nghĩa
với suy giảm tiết kiệm trong dài hạn, dẫn tới giảm đầu tư và ảnh hưởng tới
tăng trưởng. Vì vậy cần phải thiết kế một gói kích cầu vừa đủ tức là gói kích
cầu sẽ hết hiệu lực khi nền kinh tế đã trở nên tốt hơn.
Thứ ba, thời điểm rút kích cầu cũng rất quan trọng. Chính phủ cần rút
kích cầu khi nền kinh tế đã phục hồi. Nếu rút kích cầu quá muộn sẽ làm cho
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, gây lạm phát tạo ra sự bất ổn kinh tế. Còn

tồn ước tính cao nhất từ năm 1989. Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm
với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản. Gần 1,3 triệu bất
động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006. Thư ký bộ
tài chính Mỹ gọi bong bóng bất động sản lần này là “mối nguy hiểm ảnh
hưởng trực tiếp đến nền kinh tế”.
Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15
trong số các nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ
đô la thời điểm quý 3 năm 2006, tuyên bố phá sản.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngày 02/04: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất
Mỹ, tuyên bố phá sản.
Tháng 6: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại
chúng thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu
tư lớn thứ 5 của Mỹ quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được
đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ.
Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14.000 điểm, lần đầu
tiên trong lịch sử.
Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán
dựa trên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh
mục vốn đầu tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân
hàng Trung Quốc. Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà. Cục
dữ trữ liên bang đã cho các ngân hàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp.
Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp
lớn nhất nước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la
từ một nhóm các ngân hàng khác.
Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50
điểm cơ bản từ mức 6.25% xuống 5.75%
Tháng 9: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại
châu Âu chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay

các khoản cho vay khó đòi quá lớn.
Ngày 30/01: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự
phòng 4 tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do
những thất thoát quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố.
Ngày 17/02: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngày 28/02: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các
nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản
mất giá là 1,36 tỷ euro.
Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla
một cổ phiếu để tránh phá sản. Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la
để trợ giúp các khoản lỗ của Bear Stearn.
Ngày 29/04: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một
khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho
các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp
bất động sản.
Ngày 11/07: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân
hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn
nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD
trong vòng 11 ngày.
Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã
báo cáo thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla.
Ngày 31/07: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp
theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD.
Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng
hoảng tín dụng toàn cầu.
Ngày 7/09: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt
quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie
Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.

để thâu tóm hoạt động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lehman tại châu Âu và Trung Đông. Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua
20% cổ phần Morgan Stanley.
Ngày 23/09: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman
Sachs; Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và
Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
Ngày 25/09: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân
hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho
vay thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền
kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất
Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài
sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Trong khi đó tại Washington D.C, các thành viên chủ chốt trong quốc hội
đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
Ngày 29/09: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị
trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công
nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh
nhất từ trước tới nay.
Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân
hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán
lẻ cho đối thủ Citigroup.
Ngày 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ
USD (tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo
luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân
sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại cơ quan bảo
hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.
Ngày 3/10: Sau 3 giờ thảo luận và thuyết phục nhau, Hạ viện Mỹ đã bỏ
phiếu lần thứ hai và thông qua dự luật giải cứu với tỷ lệ phiếu 262-171.

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cầu, ông cũng là người chỉ trích kịch liệt Chính phủ của Tổng thống Bush, và
là người vạch ra những hiểm họa của tự do thị trường thiếu sự giám sát của
Chính phủ.
Ngày 14/10: Chính phủ Mỹ công bố dành 250 tỉ USD trong gói giải
cứu 700 tỉ USD để rót vào các ngân hàng lớn, đổi lại sẽ nhận được cổ phiếu
ưu đãi của các ngân hàng này. Đây là bước thay đổi lớn trong chiến lược giải
cứu, vì trong kế hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn hướng đến giải pháp mua lại
nợ xấu ngân hàng, không mua cổ phần.
• Năm 2009: Kinh tế thế giới đi vào suy thoái. Chính Phủ các nước
đồng loạt tung ra các gói kích cầu lớn.
2. Những tác động toàn cầu của khủng hoảng.
2.1. Suy thoái kinh tế toàn cầu.
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước trên thế giới.
Các nước phát triển nói chung bắt đầu suy giảm tốc độ tăng trưởng từ
quý III năm 2007 và GDP bắt đầu giảm từ quý III năm 2008. Quý IV năm
2008 ghi nhận mức thu hẹp GDP của các nước phát triển nói chung lên đến
7,97%.
Hoa Kỳ rơi vào suy thoái bắt đầu từ quý III năm 2008 với mức giảm
lớn kỷ lục kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước
lượng rằng nền kinh tế Hoa Kỳ năm 2009 thu hẹp 2,6%. Năm 2009, GDP của
Đức giảm 6,2%; và dự báo sẽ còn giảm trong năm 2010. Còn GDP của Nhật
Bản năm 2009 cũng giảm tới 6%. Những nước phát triển lớn khác bị giảm
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
GDP là Anh, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Ý. Cả khu vực đồng euro nói
chung giảm 4,8% trong năm 2009 và dự báo sẽ còn giảm 0,3% trong năm
2010.
Trong các nước OECD, chỉ có Hy Lạp, Hàn Quốc, Ba Lan, Slovaky là
không bị rơi vào suy thoái kinh tế (theo cách xác định suy thoái là hai quý

Tuy nhiên, kinh tế Côte d’Ivoire và Kenya không những không bị suy giảm
mà lại còn tăng tốc.
Đồ thị 1: Tốc độ tăng trưởng GDP hàng quý của thế giới (đường màu
lam), của khu vực các nước phát triển (đường màu đỏ) và khu vực các nước
đang phát triển (đường màu rêu) thời kỳ 2005-2009.
2.2. Thương mại quốc tế giảm sút.
Do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhu cầu giảm sút mạnh, đặc biệt là ở
các nước phát triển, đã tác động tiêu cực đến hoạt động tương mại thế giới.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tổng hoạt động thương mại toàn cầu năm 2009 giảm 14,4% so với năm 2008.
Bên cạnh giảm sút nhu cầu, giá cả hàng hóa giảm cũng là một nguyên nhân
nữa làm giảm hoạt động thương mại. Giá hàng hóa không phải là năng lượng
giảm 21,6% so với năm 2008. Giá dầu mỏ bình quân trong năm 2009 cũng
thấp hơn các năm trước đó và giảm 36,3% so với năm 2008. Ngoài ra, giá trị
trên một đơn vị hàng sản xuất xuất khẩu trên thế giới cũng giảm 4,9% so với
năm 2008.
Bảng 2: Giá cả và thương mại thế giới (% thay đổi)
Nhìn vào diễn biến thương mại thế giới năm 2009 ở bảng trên có thể
thấy rõ khuynh hướng phục hồi trong nửa sau của năm 2009. Thương mại thế
giới đã giảm mạnh từ năm 2008 và chạm đáy vào tháng 3 năm 2009 (giảm
22%), sau đó có sự phục hồi liên tục. Tuy có sự phục hồi mạnh những đến
cuối năm 2009, nó vẫn còn thấp hơn 2,8% so với thời kỳ trước khủng hoảng.
2.3. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.
Năm 2009 là năm mà tỷ lệ thất nghiệp leo thang tại nhiều nền kinh tế
trên thế giới. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu
tăng 6,6% trong năm 2009. So với năm 2007 thì tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu
năm 2009 tăng 0,9 điểm phần trăm. Số người thất nghiệp năm 2009 trên toàn
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia
tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm. Điều
này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín
dụng càng tăng.
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán
sụt giảm mạnh. Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro
nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên
quan đến bất động sản. Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo
cáo các khoản lỗ kinh doanh.
3.2. Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu
đến cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt
bán ra, tạo nên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi. Sau khi giá
giảm đến một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít
phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn.
25

Trích đoạn Tính ngắn hạn của gói kích cầu. Bài học kinh nghiệm. Gói kích cầu của Trung Quốc. Kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status