Phát triển sản xuất nông nghiệp Đồng bằng Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực trạng và một số giải pháp ứng phó - Pdf 12

Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
MỤC LỤC
PHẦN I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I. KHÍ HẬU THỜI TIẾT – MỘT TRONG NHỮNG NHÂN TỐ QUAN TRỌNG
NHẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
2. Điều kiện khí hậu trời tiết và ảnh hưởng của nó đối với sản xuất
nông nghiệp.
II. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP
1. Khái niệm biến đổi khí hậu và nguyên nhân.
1.1. Biến đổi khí hậu là gì?
1.2. Nguyên nhân của Biến đổi khí hậu.
2. Thực trạng Biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
3.1. Những tác động nghiêm trọng
a. Tác động của nước biển dâng
b. Tác động của sự nóng lên toàn cầu
c. Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan
3.2. Dự báo tác động tiềm tàng của BĐKH đối với các lĩnh vực và
khu vực
a. Đối với tài nguyên nước.
b. Đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
c. Đối với lâm nghiệp
d. Đối với thủy sản
1
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
PHẦN II – THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI

3. Giải pháp thích ứng
PHẦN IV – KẾT LUẬN
3
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
LỜI MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Hồng là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu
sông Hồng với một nền nông nghiệp có truyền thống lâu đời.Là một trong hai vựa
lúa lớn nhất cả nước, Đồng bằng sông Hồng đã đóng góp rất nhiều cho sự phát
triển của đất nước.Với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, Đồng bằng sông Hồng phụ
thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu,lượng mưa hàng năm. Những năm
thời tiết thuận lợi, sản xuất nông nghiệp được mùa, người dân có lương thực, Nhà
nước có sản phẩm để xuất khẩu, thu được nguồn ngoại tệ lớn.Nhưng những năm
hạn hán hay lũ lụt, mùa màng có khi còn mất trắng, gây tổn thất nặng nề cho người
dân và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của đất nước.Ngày nay, sự
thay đổi của khí hậu ( Biến đổi khí hậu) ngày càng nghiêm trọng, gây nên những
tổn thất vô cùng lớn cho các ngành sản xuất, cho đất nước nói chung, cho sản xuất
nông nghiệp tại Đồng bằng sông Hồng nói riêng. Vì vậy, nhóm chúng em chọn đề
tài “ Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí
hậu. Thực trạng và một số giải pháp ứng phó” để thấy được sự ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu như thế nào? Từ đó đề ra những giải pháp để ứng phó với tình trạng
thay đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
4
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG
ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I. KHÍ HẬU THỜI TIẾT – MỘT TRONG NHỮNG NHÂN TỐ QUAN TRỌNG
NHẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đông thời
cũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp.
Với lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt phong
phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào, tập đoàn cây
trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao.những năm thời tiết thuận lợi,
cây trồng cho năng suất cao, sản xuất được mùa.
Tuy nhiên,bên cạnh những thuận lợi nêu trên,điều kiện thời tiết cũng tạo ra
nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng
trong năm gây lũ lụt, ngập úng. Nắng nhiều gây khô hạn. Khí hậu ẩm ướt, sâu
bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây tổn thất lớn đối với mùa màng. Tất cả
những điều đó làm giảm sản lượng nông nghiệp, thậm chí có thời điểm mất trắng
( không có thu hoạch ).
II. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP
1. Khái niệm biến đổi khí hậu và nguyên nhân.
1.1. Biến đổi khí hậu là gì?
6
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
Biến đổi khí hậu được định nghĩa là: sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm
khí quyển , thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các
nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. ( nguồn : VACNE )
"Những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu", là những biến đổi trong môi
trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành
phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản
lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc
lợi của con người ". (Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu)
1.2. Nguyên nhân của Biến đổi khí hậu.
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt
động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp

thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển.
BĐKH hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là chủ
yếu do hoạt động của con người.
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng
ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than,
dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu
ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi
băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và
tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ
khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ
tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu
tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng
8
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng
650 nghìn năm qua.
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O)
cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp
lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí
chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn
cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có
trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ
phẩm phát triển.
Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc
tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng
lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa
(46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản
xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng

quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto.
Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của
Liên hợp quốc về BĐKH là: “Các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của
các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với
trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong
việc đấu tranh chống BĐKH và những ảnh hưởng có hại của chúng”.
• Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính
Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí
oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khí khác như argon, đioxit cacbon, mêtan,
ôxit nitơ, nêon, hêli, hyđrô, ôzôn,… và hơi nước. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ,
các khí vết này, đặc biệt là khí CO2, CH4, NOx, và CFCs - một loại khí mới chỉ có
10
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất
quan trọng đối với sự sống trên trái đất. Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên
hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này
lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng
ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị
lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt
đất.
Các chất khí nói trên, trừ CFCs, đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là
các khí nhà kính tự nhiên. Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên, trái đất
của chúng ta sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33oC, tức là nhiệt độ trung bình trái đất
sẽ khoảng 18oC. Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so với trường hợp không
có các khí nhà kính được gọi là “Hiệu ứng nhà kính”. Ngoài ra, khí ôzôn tập trung
thành một lớp mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển có tác dụng hấp thụ các bức
xạ tử ngoại từ mặt trời chiếu tới trái đất và thông qua đó bảo vệ sự sống trên trái
đất.
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp về trước, ít nhất khoảng 10.000 năm, nồng độ

nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông qua số liệu quan
trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình
toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển
trung bình toàn cầu.
Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành
phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương,
các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước
trên đất liền. Các kết quả nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển sẽ cao
hơn từ 0,5 – 1,4m vào cuối thế kỷ XXI.
12
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
2. Thực trạng của Biến đổi khí hậu.
* Thực trạng của Biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Theo số liệu quan trắc, những năm gần đây khí hậu ở Việt Nam có những
thay đổi đáng lưu ý sau:
- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm
(TBN) ở Việt Nam đã tăng lên 0,7ºC. Nhiệt độ TBN của 4 thập kỷ gần đây (1961 -
2000) cao hơn TBN của 3 thập kỷ trước đó (1931 - 1960). Nhiệt độ TBN của thập
kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình
(TB) của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6ºC. Năm 2007, nhiệt độ
TBT ở cả 3 miền trên đều cao hơn TB của thập kỷ 1931 – 1940 là 0,8 – 1,3ºC và
cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,5ºC.
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa TBN trong 9
thập kỷ vừa qua (1911 – 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác
nhau, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Trên lãnh thổ Việt Nam,
xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất khác nhau giữa các khu vực.
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm Cửa
Ông và Hòn Dấu cho thấy, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm.
Số đợt không khí lạnh (KKL) ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập

Đồng bằng sông Hồng rộng hơn 1,4 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn
quốc với một vùng biển bao la ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của vùng là
18.400.600 ngời(2007), chiếm 21,6% số dân cả nớc. Hiện tại cung nh trong tơng lai,
đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng đóng vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nớc .
14
Phỏt trin sn xut nụng nghip B Sụng Hng trong iu kin bin i khớ hu. Thc
trng v mt s gii phỏp ng phú
Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế có tầm quan trọng đặc
biệt trong phân công lao động của cả nớc. Đây là vùng có vị trí địa lý và điều kiện tự
nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, dân c đông đúc, nguồn
lao động dồi dào, mặt bằng dân trí cao.
Vùng đồng bằng sông Hồng nằm ở phía Nam của đờng chí tuyến Bắc, vùng
bao gồm đòng bằng châu thổ màu mỡ, dải đất rìa trung du với một số tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên du lịch và vịnh Bắc Bộ giàu tiềm năng. Địa hình của vùng t-
ơng đối bằng phẳng, có độ cao từ 0,4_12m so với mực nớc biển . Vùng có khí hậu
nhiệt đới cận nhiệt đới gió mùa, lợng ma trung bình hằng năm là 1400 -2000mm.
Vùng có vị trí thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội. Đây là cầu nối giữa Đông
Bắc, Tây Bắc với Bắc Trung Bộ, đồng thời cũng nằm ở trung tâm miền Bắc, trong
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Vùng lại tiếp giáp với hơn 400km bờ biển, có cửa
ngõ thông ra biển qua cảng Hải Phòng, dễ dàng mở rộng giao lu với các vùng khác
và các nớc trong khu vực . Tuy nhiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên
thờng xuyên chịu ảnh hởng của thiên tai nh bão, lũ lụt, hạn hán.
Tài nguyên thiên nhiên của vùng khá đa dạng, đặc biệt là đất phù sa sông
Hồng. Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều khả năng về sản xuất lơng thực, thực
phẩm. Trên thực tế đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nớc, sau đồng bằng sông Cửu
Long. Số đất đai sử dụng cho nông nghiệp là 70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện tích tự
nhiên của vùng, trong đó 70% đất có độ phì từ trung bình trở lên. Nhìn chung,đất đai
của đồng bằng sông Hồng khá màu mỡ do đợc phù sa của hệ thống sông Hồng và
sông Thái Bình bồi đắp. Vùng có hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình nên

năng hiện có. Rau gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27,8% diện tích rau cả nớc, tập
trung chủ yếu ở các vành đai xung quanh khu công nghiệp và thành phố. Nguồn thực
16

Trích đoạn Mực nước biển dõng cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status