Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực trạng và một số giải pháp ứng phó - Pdf 17

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
MỤC LỤC
PHẦN I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I. KHÍ HẬU THỜI TIẾT – MỘT TRONG NHỮNG NHÂN TỐ QUAN TRỌNG
NHẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
2. Điều kiện khí hậu trời tiết và ảnh hưởng của nó đối với sản xuất
nông nghiệp.
II. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP
1. Khái niệm biến đổi khí hậu và nguyên nhân.
1.1. Biến đổi khí hậu là gì?
1.2. Nguyên nhân của Biến đổi khí hậu.
2. Thực trạng Biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
3.1. Những tác động nghiêm trọng
a. Tác động của nước biển dâng
b. Tác động của sự nóng lên toàn cầu
c. Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan
3.2. Dự báo tác động tiềm tàng của BĐKH đối với các lĩnh vực và
khu vực
a. Đối với tài nguyên nước.
b. Đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
c. Đối với lâm nghiệp
d. Đối với thủy sản
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
1. Giải pháp chung
2. Giải pháp giảm thiểu
3. Giải pháp thích ứng
PHẦN IV – KẾT LUẬN
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
LỜI MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Hồng là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu
sông Hồng với một nền nông nghiệp có truyền thống lâu đời.Là một trong hai vựa
lúa lớn nhất cả nước, Đồng bằng sông Hồng đã đóng góp rất nhiều cho sự phát
triển của đất nước.Với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, Đồng bằng sông Hồng phụ
thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu,lượng mưa hàng năm. Những năm
thời tiết thuận lợi, sản xuất nông nghiệp được mùa, người dân có lương thực, Nhà
nước có sản phẩm để xuất khẩu, thu được nguồn ngoại tệ lớn.Nhưng những năm
hạn hán hay lũ lụt, mùa màng có khi còn mất trắng, gây tổn thất nặng nề cho người
dân và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của đất nước.Ngày nay, sự
thay đổi của khí hậu ( Biến đổi khí hậu) ngày càng nghiêm trọng, gây nên những
tổn thất vô cùng lớn cho các ngành sản xuất, cho đất nước nói chung, cho sản xuất
nông nghiệp tại Đồng bằng sông Hồng nói riêng. Vì vậy, nhóm chúng em chọn đề
tài “ Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí
hậu. Thực trạng và một số giải pháp ứng phó” để thấy được sự ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu như thế nào? Từ đó đề ra những giải pháp để ứng phó với tình trạng
thay đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó

Do ảnh hưởng gió mùa, hơn nữa sự phức tạp về địa hình nên khí hậu của
Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm, từ giữa năm này với năm khác và giữa nơi
này với nơi khác ( từ Bắc xuống Nam và từ thấp lên cao.)
Đặc điểm khí hậu như vậy đã tạo ra một nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha
trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn,
phức tạp: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển.
Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đông thời
cũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp.
Với lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt phong
phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào, tập đoàn cây
trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao.những năm thời tiết thuận lợi,
cây trồng cho năng suất cao, sản xuất được mùa.
Tuy nhiên,bên cạnh những thuận lợi nêu trên,điều kiện thời tiết cũng tạo ra
nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng
trong năm gây lũ lụt, ngập úng. Nắng nhiều gây khô hạn. Khí hậu ẩm ướt, sâu
bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây tổn thất lớn đối với mùa màng. Tất cả
những điều đó làm giảm sản lượng nông nghiệp, thậm chí có thời điểm mất trắng
( không có thu hoạch ).
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
II. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP
1. Khái niệm biến đổi khí hậu và nguyên nhân.
1.1. Biến đổi khí hậu là gì?
Biến đổi khí hậu được định nghĩa là: sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm
khí quyển , thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các
nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. ( nguồn : VACNE )
"Những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu", là những biến đổi trong môi

hấp, các đảo nhỏ trên biển. Trong thế kỷ 20, mức nước biển đã dâng lên khoảng 10
đến 20 cm.
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau
của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật , các hệ sinh thái
và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển.
BĐKH hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là chủ
yếu do hoạt động của con người.
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng
ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than,
dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu
ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi
băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và
tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ
khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ
tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu
tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng
31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng
650 nghìn năm qua.
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O)
cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp
lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí

Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn, Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn).
Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua,
song vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực. Dự
tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2
tương đương vào năm 2020, tăng 93% so với năm 1998.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số
thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn
cầu; các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và
các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát
thải toàn cầu. Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về bình đẳng và nhân
quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto.
Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của
Liên hợp quốc về BĐKH là: “Các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với
trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong
việc đấu tranh chống BĐKH và những ảnh hưởng có hại của chúng”.
• Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính
Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí
oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khí khác như argon, đioxit cacbon, mêtan,
ôxit nitơ, nêon, hêli, hyđrô, ôzôn,… và hơi nước. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ,
các khí vết này, đặc biệt là khí CO2, CH4, NOx, và CFCs - một loại khí mới chỉ có
trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất
quan trọng đối với sự sống trên trái đất. Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên
hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này
lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng
ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị

được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách khác, sự tăng lên của
riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất nóng lên nhiều
hơn so với những gì đã quan trắc được, và điều đó càng khẳng định sự biến đổi khí
hậu hiện nay là do các hoạt động của con người chứ không phải do quá trình tự
nhiên.
• Nước biển dâng
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó
không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có
thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt
độ của đại dương và các yếu tố khác. Mực nước biển được đo thông qua hệ thống
thiết bị đo triều ký đặt tại các trạm hải văn hoặc các máy đo độ cao vệ tinh.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phát triển sản xuất nông nghiệp ĐB Sông Hồng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực
trạng và một số giải pháp ứng phó
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC), sự
nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông qua số liệu quan
trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình
toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển
trung bình toàn cầu.
Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành
phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương,
các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước
trên đất liền. Các kết quả nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển sẽ cao
hơn từ 0,5 – 1,4m vào cuối thế kỷ XXI.
2. Thực trạng của Biến đổi khí hậu.
* Thực trạng của Biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Theo số liệu quan trắc, những năm gần đây khí hậu ở Việt Nam có những
thay đổi đáng lưu ý sau:
- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm

Dự tính đến năm 2100 nhiệt độ sẽ tăng lên 3oC.
- Về lượng mưa: Lượng mưa mùa mưa ở các khu vực, trừ Trung Bộ, đều tăng 0-
5% vào năm 2050, riêng Trung Bộ là 0-10%. Lượng mưa mùa khô ở các vùng Tây
Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Trung Bộ, Nam
Bộ và cực Nam Trung Bộ có thể tăng hay giảm 5%, riêng ở Bắc và Trung Trung
Bộ tăng 0-5%. Đáng chú ý là ở những vùng thường xảy ra hạn hán vào mùa khô,
hạn hán có nhiều khả năng tăng lên cả về cường độ và diện tích.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phỏt trin sn xut nụng nghip B Sụng Hng trong iu kin bin i khớ hu. Thc
trng v mt s gii phỏp ng phú
- V mc nc bin: Trung bỡnh trờn ton di b bin Vit Nam, mc nc bin cú
th tng lờn 40cm vo nm 2050 v c tớnh cú th tng lờn 100cm vo nm 2100.
* Thc trng phỏt trin kinh t ng bng sụng Hng
Đồng bằng sông Hồng là tên gọi chung cho vùng đất phù sa sông Hồng và
sông Thái Bình bồi đắp. Đây là một trong hai vùng kinh tế của miền Bắc Việt Nam:
Vùng núi và trung du phía Bắc ( gồm Đông Bắc và Tây Bắc ) và đồng bằng sông
Hồng.
Đồng bằng sông Hồng rộng hơn 1,4 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn
quốc với một vùng biển bao la ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của vùng là
18.400.600 ngời(2007), chiếm 21,6% số dân cả nớc. Hiện tại cung nh trong tơng lai,
đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng đóng vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nớc .
Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế có tầm quan trọng đặc
biệt trong phân công lao động của cả nớc. Đây là vùng có vị trí địa lý và điều kiện tự
nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, dân c đông đúc, nguồn
lao động dồi dào, mặt bằng dân trí cao.
Vùng đồng bằng sông Hồng nằm ở phía Nam của đờng chí tuyến Bắc, vùng
bao gồm đòng bằng châu thổ màu mỡ, dải đất rìa trung du với một số tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên du lịch và vịnh Bắc Bộ giàu tiềm năng. Địa hình của vùng t-

sự phát triển của nền kinh tế cùng với hàng loạt các chính sách mới cũng góp phần
quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề về lơng thực, thực phẩm ở Đồng bằng Sông
Hồng.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phỏt trin sn xut nụng nghip B Sụng Hng trong iu kin bin i khớ hu. Thc
trng v mt s gii phỏp ng phú
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lơng thực luôn giữ vị trí
hàng đầu. Diện tích cây lơng thực khoảng 1,2 triệu ha, chiếm khoảng 14% diện tích
cây lơng thực của cả nớc. Sản lợng lơng thực là 6,1 triệu tấn, chiếm 18% sản lơng
thực toàn quốc (1999). Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhng tập trung nhất và đạt
năng xuất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dơng, Hng Yên, Ninh
Bình. Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nớc về năng suất lúa (70,6 tạ/ha-năm
2006). Nhiều huyện, hợp tác xã đạt năng xuất 10-11 tấn/ha.
Ngành trồng cây lơng thực, đặc biệt là trồng lúa ở đây đã có từ lâu đời và đợc thâm
canh với trình độ cao nhất trong cả nớc. Tuy vậy, việc đảm đảo lơng thc cho con ngời
và cho các nhu cầu khác (phục vụ chăn nuôi, công nghệ ché biến v.v ) còn bị hạn
chế. Mức bình quân lơng thực theo đầu ngời ở Đồng bằng Sông Hồng vẫn còn thấp
hơn mức bình quân của cả nớc (460 kg/ngời so với 490 kg/ngời năm 2006).
Đồng bằng Sông Hồng, việc sản xuất thực phẩm cha tơng xứng với tiêm
năng hiện có. Rau gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27,8% diện tích rau cả nớc, tập
trung chủ yếu ở các vành đai xung quanh khu công nghiệp và thành phố. Nguồn thực
phẩm của vùng đồng bằng phụ thuộc nhiều vào ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi
gia súc nhỏ, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản. Việc phát triển các ngành này còn nhiều
khả năng to lớn. Vấn đề cơ bản là giải quyết tốt co sở thức ăn cho gia súc nhỏ và mở
rộng quy mô của ngành nuôi trồng thuỷ sản.
Hiện nay, chăn nuôi lợn rất phổ biến và thit lợn là nguồn thực phẩm quan trọng trong
bữa ăn hàng ngày của nhân dân. Đàn lợn của Đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau
vùng núi và trng du bắc bộ về số lợng với gần 5,3 triệu con, chiếm 32,5% đàn lợn của
toàn quốc (2005).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status