BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO T
ẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI NGUYỄN VĂN MUÔN
“NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
SỬ DỤNG TỔNG HỢP VÀ HIỆU QUẢ
NGUỒN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG
TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
Mã số: 60-62-30 LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. NGUYỄN THU HIỀN
2. PGS. TS. LÊ THỊ NGUYÊN
Hà Nội - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, các kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và rõ ràng.
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 4
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1. Nghiên cứu sử dụng tài nguyên nước trên thế giới 9
1.1.1. Sử dụng tài nguyên nước trên thế giới 9
1.1.2. Quản lý tổng hợp nguồn nước trên thế giới 9
1.2. Nghiên cứu sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam 11
1.2.1. Tài nguyên nước Việt Nam 11
1.2.2. Quản lý tổng hợp nguồn nước ở Việt Nam 13
1.2.3. Nhận xét về tình hình sử dụng nước hiện nay 15
1.3. Tổng quan về biến đổi khí hậu và các kịch bản biến đổi khí hậu 16
1.3.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu 16
1.3.2. Kịch bản biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21 18
1.3.3. Lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu để tính toán 20
CHƯƠNG 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 22
LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG 22
2.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 22
2.1.1. Vị trí địa lý 22
2.1.2. Địa hình, địa mạo 24
2.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng 25
2.1.4. Thảm phủ thực vật 26
2.1.5. Đặc điểm khí hậu 27
2.1.6. Đặc điểm thủy văn 29
2.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội 30
2.2.1. Dân số 30
2.2.2. Cơ cấu kinh tế 30
2.2.3. Hiện trạng các ngành kinh tế 30
SÔNG HƯƠNG 51
4.1. Hiện trạng sử dụng nước trên lưu vực sông Hương 51
4.1.1. Hiện trạng sử dụng nước cho sinh hoạt 51
4.1.2. Hiện trạng sử dụng nước trong công nghiệp 51
4.1.3. Hiện trạng sử dụng nước trong nông nghiệp 52
4.1.4. Hiện trạng sử dụng nước cho nuôi trồng thủy sản 52
4.1.5. Hiện trạng sử dụng nước cho du lịch 53
4.1.6. Hiện trạng sử dụng nước cho giao thông thủy 53
4.1.7. Hiện trạng sử dụng nước cho thủy điện 53
4.2. Áp dụng mô hình MIKE BASIN tính toán cân bằng nước lưu vực sông
Hương 54
4.2.1. Tài liệu dùng cho tính toán 54
4.2.2. Phân vùng tính toán 54
4.2.3. Sơ đồ tính toán cân bằng nước lưu vực sông Hương 57
4.2.4. Tính toán dòng chảy đến tại các tiểu khu 57
4.2.5. Tính toán nhu cầu dùng nước tại các tiểu khu 59
4.2.6. Kết quả tính toán cân bằng nước hiện trạng 2011 64
4.3. Tính toán cân bằng nước hệ thống lưu vực sông Hương theo quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và kịch bản biến đổi khí hậu 70
4.3.1. Tính toán cân bằng nước theo các kịch bản 70
4.3.2. Phân tích kết quả tính toán 71
4.3.3. Đánh giá chung 79
4.4. Đề xuất các giải pháp sử dụng tổng hợp và hiệu quả nguồn nước 81
4.4.1. Giải pháp phi công trình 81
4.4.2. Giải pháp công trình 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
Nguyễn Văn Muôn Trang 3 Lớp CH19Q
Nguyễn Văn Muôn Trang 4 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng biểu
STT
Ký hiệu Tên bảng Trang
1 Bảng 1.1
Mức tăng nhiệt độ (
0
C) trung bình của Thừa Thiên
Huế so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải
trung bình (B2)
21
2 Bảng 1.2
Mức tăng nhiệt độ (
0
C) trung bình so với thời kỳ 1980
- 1999 theo kịch bản phát thải cao (A2)
21
3 Bảng 1.3
Mức thay đổi (%) lượng mưa của Thừa Thiên Huế so
với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung
bình (B2)
21
30
12 Bảng 2.6
Diễn biến diện tích gieo trồng các loại cây trồng qua
các năm
31
13 Bảng 2.7
Biến động diện tích cây lương thực có hạt phân theo
huyện
31
14 Bảng 2.8 Diễn biến đàn gia súc, gia cầm qua các năm 32
15 Bảng 2.9 Diễn biến diện tích nuôi trồng thuỷ sản qua các năm 32
16 Bảng 4.1
Phân vùng và khu sử dụng nước trên lưu vực sông
Hương
56
17 Bảng 4.2
Kết quả tính toán lưu lượng trung bình tháng theo
từng vùng
59
18 Bảng 4.3 Định mức sử dụng nước sinh hoạt 59
19 Bảng 4.4
Nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt tại các vùng sử
dụng nước
60
20 Bảng 4.5 Định mức sử dụng nước trong chăn nuôi 60 Nguyễn Văn Muôn Trang 5 Lớp CH19Q
nước đến năm 2020
64
28 Bảng 4.13
Tính toán cân bằng nước vùng thượng lưu và
trung lưu sông Bồ
66
29 Bảng 4.14
Tính toán cân bằng nước vùng hạ lưu sông Bồ và
Bắc sông Hương
67
30 Bảng 4.15
Tính toán cân bằng nước vùng thượng lưu sông
Hương
68
31 Bảng 4.16
Tính toán cân bằng nước vùng Nam sông Hương 69
32 Bảng 4.17
Tính toán cân bằng nước vùng lưu vực sông
Nông
69
33 Bảng 4.18
Tính toán cân bằng nước vùng lưu vực sông
Truồi và ven đầm phá
70
Nguyễn Văn Muôn Trang 6 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
STT Ký hiệu Tên bảng Trang
39 Bảng 4.24
Tính toán cân bằng nước vùng thượng lưu sông
Hương đến năm 2020 theo kịch bản phát thải cao
(A2)
76
40 Bảng 4.25
Tính toán cân bằng nước vùng Nam sông Hương
đến năm 2020 theo kịch bản phát thải trung bình
(B2)
77
41 Bảng 4.26
Tính toán cân bằng nước vùng Nam sông
Hươngđến năm 2020 theo kịch bản phát thải cao
(A2)
78
42 Bảng 4.27
2 Hình 3.1 Sơ đồ lập mô hình phân bổ nước của Mike Basin 45
3 Hình 4.1
Phân vùng và khu sử dụng nước trên lưu vực
sông Hương
56
4 Hình 4.2
Sơ đồ tính toán cân bằng nước hiện trạng năm
2011
57
5 Hình 4.3
Nhu cầu nước hiện trạng và quy hoạch đến năm
2020
65 Nguyễn Văn Muôn Trang 7 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sông Hương với chiều dài 128 km, là con sông lớn nhất tỉnh Thừa Thiên
Huế. Lưu vực sông Hương nằm ở vị trí trung tâm và bao trùm phần lớn lãnh thổ
thành phố Huế, chiếm 67% diện tích tự nhiên, 68% về dân số và đóng góp 70 - 80%
giá trị gia tăng trong GDP, trên 80% giá trị gia tăng công nghiệp và 60 - 70% giá trị
xuất khẩu của toàn tỉnh.
Lưu vực sông Hương bao gồm các huyện: Nam Đông, Hương Thủy, Hương
Trà, Phong Điền, thành phố Huế và một phần thuộc các huyện A Lưới, Quảng Điền,
- Tổng quan các vấn đề nghiên cứu.
- Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực sông Hương.
- Giới thiệu mô hình tính toán cân bằng nước lưu vực.
- Tính toán cân bằng nước lưu vực sông Hương bằng mô hình MIKE
BASIN.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp sử dụng tổng hợp và hiệu quả nguồn
nước lưu vực sông Hương.
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận của luận văn là kế thừa có chọn lọc, bổ sung và tiếp cận hệ
thống.
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp kế thừa tài liệu và kết quả nghiên cứu đã có.
- Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu liên quan.
- Phương pháp phân tích, xử lý, đánh giá số liệu.
- Phương pháp sử dụng mô hình toán: Sử dụng mô hình MIKE BASIN để
tính toán cân bằng nước cho các tiểu vùng thuộc lưu vực sông Hương cho hiện tại
và tương lai theo các kịch bản tính toán trong điều kiện biến đổi khí hậu đến năm
2020.
Nguyễn Văn Muôn Trang 9 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu sử dụng tài nguyên nước trên thế giới
1.1.1. Sử dụng tài nguyên nước trên thế giới
Nghiên cứu sử dụng tài nguyên nước (TNN) từ lâu đã trở thành hướng
nghiên cứu quan trọng của nhiều ngành khoa học, nhất là khoa học địa lý. Trong
phát triển bền vững.
Năm 1996 ra đời hai tổ chức, trung tâm hoạt động quốc tế về nước. Đó là:
1. Hội đồng nước thế giới (World Water Council - WWC) là nơi tập hợp các
nghiên cứu mang tính lý luận.
2. Cộng tác vì Nước toàn cầu (Global Water Partership - GWP) là mạng lưới
hoạt động nhằm đưa các nguyên tắc Dublin vào thực tiễn.
Hai tổ chức này đã thống nhất chọn Quản lý tổng hợp TNN là cách tiếp cận
tổng quát để thực hiện 4 nguyên tắc Dublin.
Tháng 3 năm 2000 - GWP đưa ra định nghĩa quản lý tổng hợp TNN là: “Một
quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý TNN, đất và các tài nguyên liên
quan, sao cho tối đa hóa các lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng
mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu”. Diễn đàn
Nước thế giới lần thứ 2 - La Hague thông qua Tầm nhìn an ninh Nước thế giới và
khung hành động Nước cho mọi người.
Tháng 7 năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Johannesburg đặt Nước
lên hàng đầu trong 5 ưu tiên (WEHAB).
Tháng 3 năm 2003, Diễn đàn nước thế giới lần thứ 3 - Kyoto nhấn mạnh 3 chiến
lược trong quản lý tổng hợp TNN: Quản lý điều hành, tăng cường năng lực, tài chính.
Tháng 11 năm 2003, Diễn đàn Nước Đông Nam Á lần thứ nhất tại Chiang Mai.
Ngày 22/3/2005, Liên hợp quốc đưa ra thông điệp Thập kỷ Nước cho cuộc
sống theo nghị quyết A/RESA/RES/58/217. Trong thông điệp này, Tổng Thư ký
LHQ Kofi Annan đã khẳng định: “Nước là vấn đề cấp bách để phát triển con người
và phẩm giá. Cùng nhau, chúng ta có thể cung cấp nước sạch, an toàn cho nhân
dân trên toàn thế giới. TNN của thế giới là con đường huyết mạch cho sự sinh tồn
và phát triển bền vững trong thế kỷ 21”.
Đối với các nước phát triển (Pháp, Anh, Mỹ, Úc, Nhật ) việc nghiên cứu
TNN đã đề ra các quy trình, quy phạm nhằm quản lý tổng hợp tài nguyên môi
trường nước theo lưu vực sông. Nó bao gồm các biện pháp giảm thiểu chất thải
Nguyễn Văn Muôn Trang 11 Lớp CH19Q
Quy luật phân bố của mưa năm không đều theo không gian, phụ thuộc vào
độ cao địa hình và hướng của sườn đón gió ẩm. Các trung tâm mưa lớn được hình
thành trên lãnh thổ nước ta như: Móng Cái 2.800 - 3.000 mm, Bắc Quang 4.765
mm, Hoàng Liên Sơn 2.600 - 3.000 mm, Mường Tè 2.600 - 2.800 mm, Hoành Sơn
3.500 - 4.000 mm, Thừa Thiên Huế 2.600 - 3.662 mm, Trà Mi - Ba Tơ 2.600 -
3.400 mm, Sông Hinh 2.500 mm, Bảo Lộc 2.876 mm. Hai tâm mưa lớn nhất nước
ta là Bắc Quang và Ba Na đạt 5.013 mm.
Nguyễn Văn Muôn Trang 12 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Ngược lại, những trung tâm mưa nhỏ được hình thành ở những vùng thấp,
khuất, hoặc nằm song song với hướng gió ẩm, đó là các vùng: An Châu 1.000 -
1.200 mm, Sơn La 1.000 - 1300 mm, Mường Xén 800 - 1.000 mm, đặc biệt ở Phan
Rang, Phan Rí chỉ đạt 650 mm.
Sự phân bố mưa trong năm rất không đều và chia thành hai mùa rõ rệt: mùa
mưa và mùa khô. Do chịu nhiều ảnh hưởng của các khối không khí tương phản
nhau giữa Bắc và Nam nên thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa mưa cũng chênh lệch
nhau giữa nơi sớm nhất và muộn nhất đến 4 tháng.
Tóm lại, yếu tố mưa không những ảnh hưởng đến dòng chảy mặt phân bố
trong không gian như đã đề cập trên đây, mà còn ảnh hưởng đến tính biến động của
dòng chảy theo thời gian.
1.2.1.2. Tài nguyên nước mặt
Theo các công bố gần đây nhất, tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm
của toàn bộ sông suối của lãnh thổ Việt Nam đạt khoảng 835 tỷ m
3
, gồm 522 tỷ m
(1%), các sông còn lại là 94,5 km
3
(11,1%). Nguyễn Văn Muôn Trang 13 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
1.2.1.3. Tài nguyên nước dưới đất
Việt Nam cũng có một tiềm năng trữ lượng lớn về nước dưới đất, đặc biệt ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Tổng trữ lượng có tiềm năng khai thác được
trên cả nước của các tầng trữ nước, chưa kể phần hải đảo, ước tính gần 2.000 m
3
/s,
tương ứng khoảng 60 tỷ m
3
/năm. Trữ lượng này thay đổi nhiều theo các vùng: dồi
dào nhất ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ; khá
nhiều ở Tây Nguyên và ít hơn tại các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và duyên hải
Bắc và Nam Trung Bộ.
Trữ lượng nước ngầm ở giai đoạn tìm kiếm và thăm dò sơ bộ mới đạt khoảng
8 tỷ m
3
/năm tức khoảng 13% tổng trữ lượng. Theo kết quả điều tra, khảo sát và
nghiên cứu đã có đến năm 1999 thì trữ lượng nước ngầm thuộc loại có thể khai thác
ngay với độ tin cậy cao (cấp A) vào khoảng 736.205 m
3
nước khan hiếm đang gây lãng phí và làm mất tính bền vững của việc phát triển
nguồn nước đó. Chẳng hạn nhu cầu về tưới, tiêu cao và các lượng thoát nước ô
nhiễm từ khu vực nông nghiệp cao, đồng nghĩa là lượng nước sạch cho sinh hoạt và
cho các ngành công nghiệp bị giảm đi; nước thải ô nhiễm từ các thành phố và khu
công nghiệp làm nhiễm bẩn các dòng sông và đe dọa các hệ sinh thái; hoặc nếu
lượng nước giữ lại trên sông để nuôi trồng thủy sản và các hệ sinh thái thì nước để
tưới, tiêu cho mùa màng sẽ giảm đi.
Tại Hội thảo khoa học lần thứ 15 nhân dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Viện
Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, đã có những phân tích và nhận định
về vấn đề quản lý TNN như sau:
1. Quản lý TNN hiện nay chưa thực sự theo phương pháp quản lý tổng hợp
và bền vững theo lưu vực sông mà thường là vẫn theo địa giới hành chính.
2. Chưa có quy hoạch phát triển TNN toàn diện trên các hệ thống sông/lưu
vực sông, mà thường là quy hoạch từng ngành riêng rẽ, như quy hoạch thủy lợi, quy
hoạch thủy điện…, và cũng chưa có sự kết hợp quy hoạch các tài nguyên thiên
nhiên khác, như quy hoạch đất, quy hoạch lâm nghiệp
3. Trong khai thác, sử dụng TNN chưa xem xét đến yêu cầu sử dụng nước
của các ngành trong toàn lưu vực sông mà chỉ chú ý đến từng ngành, từng địa
phương riêng lẻ.
4. Khi thiết kế, xây dựng và vận hành các hồ chứa, nhu cầu nước cho duy trì
môi trường hạ lưu công trình chưa được xem xét đầy đủ, tạo nên “đoạn sông chết” ở
phía hạ lưu đập.
5. Việc phân bổ (chia sẻ) nguồn nước giữa các lưu vực sông và giữa các địa
phương trong lưu vực cũng chưa được xem xét một cách hợp lý, thường chỉ chú
trọng đến lợi ích của một ngành dùng nước (thường là phát điện) và địa phương.
Trong khai thác, sử dụng nước, nhất là nước dưới đất quá mức, đã và đang gây nên
hiện tượng cạn kiệt nguồn nước, sụt lún mặt đất.
6. Nhìn chung chưa khai thác, sử dụng TNN theo phương thức tổng hợp và
Nguyễn Văn Muôn Trang 15 Lớp CH19Q
bền vững.
- Trong khai thác, sử dụng TNN chưa xem xét đến yêu cầu dử dụng nước của
các ngành trong toàn lưu vực sông mà chỉ chú ý đến từng ngành, từng địa phương.
Nguyễn Văn Muôn Trang 16 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
- Vẫn xảy ra tình trạng mâu thuẫn giữa sử dụng nguồn nước, đặc biệt là giữa
phát điện với cấp nước và phòng chống lũ cho hạ du…
1.3. Tổng quan về biến đổi khí hậu và các kịch bản biến đổi khí hậu
1.3.1. Tổng quan về biến đổi khí hậu
1.3.1.1. Các nguyên nhân gây nên sự biến đổi khí hậu toàn cầu
Hiện nay, khái niệm biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu không còn xa
lại nữa, ngược lại nó được nhìn nhận như là sự tiềm ẩn của nhiều nguy cơ do hậu
quả tác động của nó. Nhiệt độ toàn cầu gia tăng cùng với sự thay đổi trong phân bổ
năng lượng trên bề mặt Trái đất và bầu khí quyển đã dẫn đến sự biến đổi của các hệ
thống hoàn lưu khí quyển và đại dương mà hậu quả của nó là sự biến đổi của các
cực trị thời tiết và khí hậu. Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ rằng, thiên tai và các hiện
tượng thời tiết cực đoan có nguồn gốc khí tượng ngày càng gia tăng ở nhiều vùng
trên Trái đất.
Cho đến nay, các nghiên cứu đều khẳng định rằng, biến đổi khí hậu là do hai
nguyên nhân chính gây ra, đó là do những biến đổi trong sự vận động khách quan
của tự nhiên và do tác động của con người. Tuy nhiên, phần lớn các nhà khoa học
đều khẳng định rằng nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia
tăng các hoạt động KT - XH của con người gây ra phát thải quá mức vào khí quyển
cũng như sự gia tăng các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa
khí nhà kính như sinh khối, rừng, hệ sinh thái biển…tạo nên hiệu ứng nhà kính.
mực nước biển trung bình toàn cầu dâng khoảng 1,8 mm/năm [2].
1.3.1.3. Những biểu hiện biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Các quan trắc về khí tượng thủy văn ở Việt Nam [2] cho thấy, xu thế biến
đổi của nhiệt độ và lượng mưa là rất khác nhau trên các vùng. Trong 50 năm qua,
nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5
0
C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có
xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ.
Vào mùa đông, nhiệt độ ở các vùng phía Bắc đến Bắc Trung Bộ tăng khoảng
1,3 - 1,5
0
C/50 năm. Các tỉnh từ Nam Trung Bộ trở vào có nhiệt độ tháng I tăng
khoảng 0,6 - 0,9
0
C/50 năm. Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước
ta đã tăng lên 1,2
0
C/50 năm. Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3 - 0,5
0
C/50 năm
trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ trung bình năm, ở Nam Trung Bộ
tăng khoảng 0,3
0
C/50 năm và ở các vùng còn lại tăng 0,5 - 0,6
0
C/50 năm. Lượng
mưa mùa khô (tháng XI - IV) tăng lên chút ít hoặc thay đổi không đáng kể ở các
vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam. Lượng mưa
mùa mưa (tháng V - X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía Bắc
nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam. Xu thế diễn biến
thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn
cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước. Vì vậy, việc nghiên cứu
sử dụng tổng hợp nguồn nước có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu là hết sức cần thiết.
1.3.2. Kịch bản biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21
1.3.2.1. Kịch bản biến đổi khí hậu trong thể kỷ 21 chung cho toàn cầu
Kịch bản về biến đổi khí hậu được nghiên cứu phân ra làm ba nhóm kịch bản
Nguyễn Văn Muôn Trang 19 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
chính đó là kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B),
kịch bản phát thải cao (A2, A1FI). Theo báo cáo đặc biệt lần thứ 4 của IPCC năm
2007 (AR4) về kịch bản BĐKH vào cuối thế kỷ 21 cho thấy: Nhiệt độ trung bình
toàn cầu tăng ít nhất khoảng 1,8
0
C (1,1 - 2,9
0
C) vào cuối thế kỷ theo kịch bản phát
thải thấp (B1); nhiều nhất khoảng 4
0
C (2,4 - 6,4
0
C) theo kịch bản phát thải cao (A2,
A1FI). Tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng, mưa lớn
tăng ở nhiều nơi. Xoáy thuận nhiệt đới tăng về cường độ và tần số. Lượng mưa tăng
ở vùng vĩ độ cao (trên 30
0
trên lãnh thổ Việt Nam từ 1 đến 4% (giữa thế kỷ) và từ 2 đến 7% (cuối thế kỷ).
Theo kịch bản phát thải cao, lượng mưa năm vào giữa thế kỷ tăng phổ biến
từ 1 đến 4%, đến cuối thế kỷ mức tăng có thể từ 2 đến trên 10%.
Nguyễn Văn Muôn Trang 20 Lớp CH19Q
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
(3) Kịch bản mực nước biển dâng cho Việt Nam.
Các kịch bản phát thải khí nhà kính được lựa chọn để xây dựng kịch bản mực
NBD cho Việt Nam là kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình
của nhóm các kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao nhất của
nhóm các kịch bản phát thải cao (A2, A1FI) [2].
Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào giữa thế kỷ 21, trung bình trên toàn
Việt Nam, mực NBD trong khoảng từ 18 đến 25 cm. Đến cuối thế kỷ 21, mực NBD
cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54 đến 72 cm; thấp
nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 42 đến 57 cm. Trung
bình toàn Việt Nam, mực NBD trong khoảng từ 49 đến 64 cm.
Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào giữa thế kỷ 21, trung bình trên
toàn Việt Nam, mực NBD trong khoảng từ 24 đến 27 cm. Đến cuối thế kỷ 21, mực
NBD cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến 82 cm;
thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 49 đến 64 cm.
Trung bình toàn Việt Nam, mực NBD trong khoảng từ 57 đến 73 cm.
Theo kịch bản phát thải cao (A1FI): Vào giữa thế kỷ 21, trung bình trên toàn
Việt Nam, mực NBD trong khoảng từ 26 đến 29 cm. Đến cuối thế kỷ 21, mực NBD
cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 đến 105 cm; thấp
nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 66 đến 85 cm. Trung
bình toàn Việt Nam, mực NBD trong khoảng từ 78 đến 95 cm.
2070
2080
2090
2100
Mùa đông (XII-II )
0,5 0,8 1,1 1,4 1,7 2,0 2,2 2,5 2,7
Mùa xuân (III-V ) 0,6 0,9 1,2 1,6 1,9 2,2 2,5 2,8 3,0
Mùa hè (VI-VIII ) 0,5 0,7 1,0 1,2 1,5 1,8 2,0 2,2 2,4
Mùa thu (IX-XI ) 0,5 0,7 1,0 1,3 1,6 1,9 2,1 2,3 2,5
Bảng 1.2: Mức tăng nhiệt độ (
0
C) trung bình so với thời kỳ 1980 - 1999 theo
kịch bản phát thải cao (A2)
Khu vực
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020
2030
2040
2050
2060
2090
2100
Mùa đông (XII-II )
-0,9 -1,2 -1,7 -2,2 -2,7 -3,2 -3,6 -3,9 -4,3
Mùa xuân (III-V ) -1,7 -2,4 -3,4 -4,4 -5,4 -6,3 -7,1 -7,8 -8,5
Mùa hè (VI-VIII ) 1,4 2,0 2,8 3,6 4,4 5,1 5,8 6,4 6,9
Mùa thu (IX-XI ) 2,4 3,5 4,9 6,4 7,8 9,1 10,2 11,3 12,2
Bảng 1.4: Mức thay đổi (%) lượng mưa năm so với thời kỳ 1980 - 1999 theo
kịch bản phát thải cao (A2)
Khu vực
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020
2030
2040
2050
2060
2070
2080
Bảng 1.6: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm)
Khu vực
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020
2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Đèo Hải Vân
8-9 13-14
19-20
26-28
36-39
46-51
58-64
70-79
82-94