Luận văn: Thực trạng quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa Việt Nam và các nước ASEAN pot - Pdf 12



Luận văn
Thực trạng quan hệ hợp tác
đầu tư trực tiếp nước ngoài
giữa Việt Nam và các nước
ASEAN
LỜI MỞ ĐẦU  Tính tất yếu của đề tài .
FDI là nguồn vốn đầu tư vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế của tất cả các quốc gia trên thế giới ,cho dù là quốc gia phát triển hay đang
phát triển .Thật vậy ,nhu cầu về vốn của mỗi quốc gia là rất lớn trong khi
nguồn lực lại có hạn ,chính vì lẽ đó dẫn đến các cuộc cạnh tranh khốc liệt
giữa các quốc gia trong việc tìm kiếm nguồn vốn FDI.
Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nhu cầu về vốn
cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là rất lớn ,lý do tỷ lệ
tích lũy thấp trong khi nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng lại rất cao .Nên
thu hút FDI là một vấn đề mang tính chiến lược trong việc phát triển kinh tế
xã hội của Việt Nam .
Ở tầm vĩ mô thì FDI tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người ,đây là những khía cạnh
để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Còn ở tầm vi mô thì FDI
có tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nước…Dù xét dưới giác độ nào đi chăng nữa thì không thể phủ nhận tầm
quan trọng của FDI trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam. Cùng với sự
tham gia vào nền kinh tế khu vực vũng như thế giới ,hiện nay Việt Nam đã là
thành viên chính thức của ASEAN , WTO ,tham gia Diễn đàn Châu Á - Thái
Bình Dương (APEC) …thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế ,qua đó cải thiện được môi trường đầu tư ,làm tăng tính

Chương I : Tổng quan về quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài
giữa Việt Nam và các nước ASEAN .
Chương II : Thực trạng quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài
giữa Việt Nam và các nước ASEAN.
Chương III : Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy mối quan hệ
hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa Việt Nam và các nước ASEAN. CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ASEAN.

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN.
Ngày 8-8-1967 sau khi các bộ trưởng bộ ngoại giao 5 nước ( Indonexia
,Malaysia ,Philipin ,Singapore ,Thái Lan ) ký tuyên bố Bangkok thì ASEAN
chính thức ra đời ,và cho đến nay tổ chức này gồm 10 thành viên. Năm 2007
,kỷ niệm 40 năm thành lập hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN ,đây
chính là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển mình của ASEAN theo hướng
xây dựng cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột :
Cộng đồng An ninh (ASC) ,việc thiết lập ASC sẽ làm tăng nhanh mức
độ tin cậy và ý thức cộng đồng trong ASEAN ,thúc đẩy hợp tác chính trị ,an
ninh nội khối lên tầm cao mới.
Cộng đồng Kinh tế (AEC) ,việc thiết lập AEC sẽ đưa ASEAN trở thành
một khối có sự liên kết vững chắc ,một thị trường có cơ sở sản xuất thống
nhất ,trong đó có sự lưu thông tự do hàng hóa ,dịch vụ ,đầu tư vốn và nhân
công có tay nghề sẽ tác động đến quá trình cải cách hệ thống pháp luật và nền
hành chính quốc gia trong nước ,tiếp cận nhiều hơn các yếu tố bên ngoài ,nhất
là vốn ,thị trường và công nghệ hiện đại ,tăng cơ hội việc làm và nâng cao
mức sống của dân chúng ,điều này góp phần tạo ra sự thăng bằng trong hợp
tác khu vực và quốc tế ,giúp ASEAN vừa tăng cường tính mở ,vừa duy trì

bình, ổn định, và bắt đầu đi vào triển khai tuyên bố đó trong vòng 6 năm
1998-2004.
Năm 2003: Để tiến thêm bước nữa trong tăng cường liên kết khu vực,
ASEAN đã cho ra đời “Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN II” xác định mục
tiêu thành lập một Cộng đồng ASEAN.
Năm 2007: “Hiến chương ASEAN” được ký kết là một bước phát triển quan
trọng nhất của ASEAN từ khi thành lập ,thông qua việc trao tư cách pháp nhân cho
ASEAN tạo nền tảng pháp lý và thể chế để ASEAN xây dựng Cộng đồng
ASEAN. Sau khi Hiến chương đi vào hoạt động thì ASEAN đã từng bước kiện
toàn khung pháp lý để có thể hỗ trợ thêm cho Hiến chương đi vào cuộc sống.
Tháng 2/2009 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 ASEAN đã thông
qua Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN gồm các kế hoạch tổng thể xây dựng
các cộng đồng trụ cột Chính trị-An ninh ,Kinh tế và Văn hóa Xã hội ASEAN.
Năm 2010 với vai trò chủ tịch ASEAN ,Việt Nam đã xác định được
chủ đề trong năm nay là “Hướng tới một cộng đồng ASEAN từ tầm nhìn đến
hành động” .Những hứa hẹn mà Việt Nam mang tới cho ASEAN tại Hội nghị
cấp cao ASEAN 16 là : đảm bảo ổn định tài chính trong khu vực ASEAN và
phục hồi bền vững, thúc đẩy hội nhập kinh tế ASEAN ,tăng cường phát triển
hạ tầng, thúc đẩy phát triển bền vững, củng cố mạng lưới hệ thống an ninh xã
hội, thúc đẩy hợp tác giáo dục, tăng cường đối thoại với khu vực tư nhân, thu
hẹp khoảng cách phát triển trong khu vực ASEAN …
Những thành tựu ASEAN đã đạt được :
 ASEAN đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc tự do hoá
thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư được thể hiện thông qua sự cắt giảm
đáng kể thuế quan trong khu vực ,từng bước giảm thiểu các hàng rào phi thuế
quan đối với thương mại ,mở cửa thu hút đầu tư, hợp lý hoá thủ tục hải quan,
hài hoà các tiêu chuẩn và giảm khoảng cách phát triển ,ngày càng mở rộng
hợp tác nội khối ra nhiều lĩnh vực khác nhau ,tạo khuôn khổ và nền tảng vững
chắc cho việc gia tăng liên kết trong khu vực ,hỗ trợ tích cực cho các nước
thành viên trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

nước thành viên đã tìm kiếm đường đi riêng rẽ có lợi cho chính mình nhiều
hơn có lợi cho Hiệp hội . Hơn nữa ,khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế
giữa các nước thành viên, những quan điểm khác biệt trên một số vấn đề
chính trị, an ninh sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hợp tác trong Hiệp hội trong
những năm tới. Vì thế việc đẩy nhanh tiến trình thành lập cộng đồng ASEAN
sẽ gặp phải không ít những khó khăn .
 Phải thiết lập được một kế hoạch toàn diện và nhất quán cho mỗi trụ
cột của cộng đồng ASEAN ,và phải thực hiện được các kế hoạch này một
cách hiệu quả ,đúng tiến độ .
 Phải củng cố thêm thể chế ,đặc biệt cần thông qua Hiến chương
ASEAN. Hiện nay , ASEAN là một tổ chức khu vực cơ cấu còn lỏng lẻo ,với
Hiến chương này , ASEAN sẽ trở thành một tổ chức có cơ cấu chặt chẽ hơn
nhằm đáp ứng tốt hơn những thách thức đặt ra trong quá trình hội nhập khu vực .
 Thách thức tiếp theo có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển của ASEAN đó là tìm lại vai trò và ảnh hưởng của một tổ chức khu
vực đối với khu vực và đối với từng thành viên mà nó đã từng có nhưng bị
mai một đi trong thời gian gần đây bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách
quan khác nhau. ASEAN vừa phải phấn đấu để trở nên có ích hơn đối với tất
cả các thành viên ,vừa phải mở rộng hợp tác với bên ngoài.
 Trải qua một số cuộc khủng hoảng tiêu biểu như khủng hoảng tài
chính tiền tệ năm 1997, tình hình khủng hoảng ở Indonexia và Đông Timo
năm 1998, 1999…hay cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2008 vừa
qua đã bộc lộ rõ những hạn chế của ASEAN trong việc giúp đỡ các nước
thành viên gặp khó khăn và trong hợp tác chung để đối phó với khủng hoảng
và với những vấn đề kinh tế có tính chất toàn cầu .Tuy nhiên cũng chính qua
cuộc khủng hoảng này ,các nước ASEAN đã nhận thức rõ hơn về tiêu cực của
sự phụ thuộc quá lớn vào bên ngoài ,để củng cố thêm quyết tâm tăng cường
hợp tác kinh tế khu vực ,coi đó là động lực quan trọng thúc đẩy ASEAN phát
triển vững mạnh và đồng đều.
 Những thách thức mà ASEAN đang phải đối mặt hiện nay và trong

nhập, phát triển thuận lợi, nâng cao khả năng cạnh tranh. Nâng cao vị thế của
Việt Nam trong quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ với các nước lớn.
 Đa phần nguồn vốn FDI vào ASEAN là của các nước nội khối ,vì
vậy trong những năm tới Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực thúc đẩy quan hệ với các
nước ASEAN theo chiều sâu, và hiệu quả để có thể thu hút vồn FDI nhiều
hơn nữa từ các nước thành viên này.
Những đóng góp của Việt Nam vào ASEAN :
 Sau khi gia nhập ASEAN ,Việt Nam đã thể hiện những nỗ lực đáng
kể trong việc thúc đẩy quá trình kết nạp các nước Lào, Myanmar và
Campuchia vào Hiệp hội và dẫn tới sự hình thành một ASEAN bao gồm 10
nước thành viên như ngày nay.
 Nỗ lực đưa ra sáng kiến xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Ðông dẫn
đến việc ký tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở Biển Ðông
 Việt Nam đã cùng ASEAN đưa ra Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng
cách phát triển ,góp phần quan trọng trong tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh hợp
tác, khôi phục hình ảnh ASEAN, nhất là định hướng cho sự phát triển, hợp tác của
Hiệp hội trong những năm tiếp theo để thực hiện tầm nhìn 2020.
 Việt Nam cũng đã đưa ra những sáng kiến quan trọng về phát triển
kinh tế - xã hội qua Chương trình hợp tác phát triển Tiểu vùng Mê Công, các
vùng nghèo dọc Hành lang Ðông-Tây rồi cùng với các nước ASEAN tiến
hành đàm phán ,thúc đẩy hợp tác và tự do hoá về thương mại ,dịch vụ ,đầu tư
trong và với các đối tác bên ngoài.
 Hơn thế nữa ,Việt Nam còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình
thành các khuôn khổ hợp tác giữa ASEAN và các nước đối thoại như
ASEAN+3 và ASEAN+1
 Năm 2010 với vai trò chủ tịch ASEAN ,Việt Nam sẽ có thêm nhiều
đóng góp quan trọng hơn nữa cho ASEAN ,trong hội nghị cấp cao ASEAN 16
,Việt Nam đã đưa ra nhiều kế hoạch ,mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của
ASEAN trong thời gian tới ,như : xây dựng cộng đồng ASEAN với sự phối
hợp chặt chẽ hơn nữa giữa Hành pháp và Lập pháp ,khuyến khích tổ chức

đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước ASEAN vào Việt Nam .
Nhưng sau khi Việt Nam chính thức là thành viên của ASEAN ,thì
dòng chảy FDI từ ASEAN vào Việt Nam đã tăng đáng kể ,tổng số dự án lên
đến 328 với 7.815 triệu USD vốn đăng ký ,chiếm xấp xỉ 30% tổng vốn đầu tư
của toàn bộ các quốc gia ,vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam .Nhưng thật
không may mắn ,khi mới gia nhập khối ASEAN được khoảng hơn một năm
,thì xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ xảy ra ở khu vực Châu Á ,sự
kiện này đã ảnh hưởng tới tất cả các quốc gia nội khối ASEAN ,trong đó có
Việt Nam ,hầu như các dự án đầu tư vào Việt Nam đều bị giảm tiến độ .
Bảng 2.1 Đầu tư của ASEAN vào Việt Nam tính đến hết năm 1998.

Nước
Số dự
án
Tổng vốn
đăng ký
(triệu USD)

Tổng vốn
đầu tư thực
hiện (triệu
USD)
Doanh thu
(triệu USD)
Doanh thu
xuất khẩu
(triệu
USD)
Số lao
động

3.264.788.729

Thái Lan 116

1.381.489.492

468.366.046

635.004.348

Malaysia 158

1.251.321.949

598.013.518

799.110.669

Philippin 20

228.123.899

115.057.446

85.470.734

Inđônêxia 12

123.052.000


10.987.599.290

3.932.810.561

4.917.281.871

(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Hết tháng 5/2007, ASEAN có tất cả 1.179 dự án đầu tư FDI được cấp
phép tại Việt Nam với tổng vốn trên 16 tỷ USD trong đó Singapore vẫn giữ vị
trí dẫn đầu với 474 dự án và 9,07 tỷ USD còn hiệu lực và đứng thứ hai trong
tổng số 78 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam,đứng thứ 10 là
Malaysia với 219 dự án và 1,7 tỷ USD.
Trong bối cảnh dòng chảy vốn FDI nói chung vào Việt Nam đang có
xu hướng gia tăng ,đứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung chỉ số niềm tin
FDI, và ở vị trí thứ 93 về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh
.Trong số các nước Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng chỉ số niềm tin
FDI 2010 thì Việt Nam đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20), và
Singapore (vị trí 24)…
Trong năm 2009 việc FDI của các nước ASEAN vào Việt Nam giảm
,điều này không hề phản ánh thái độ của các nhà đầu tư vào thị trường này là
vì bản thân các tập đoàn lớn trên thế giới ,cũng như các quốc gia phát triển
trong khối ASEAN cũng đã gặp phải rất nhiều khó khăn từ cơn bão tài chính
vừa qua ,trong khi đó Việt Nam vẫn không ngừng dành nhiều ưu ái cho các
nhà đầu tư nước ngoài ,và đây chính là yếu tố then chốt giúp Việt Nam có thể
tăng cường hoạt động thu hút FDI trong các năm tiếp theo .
Nhưng trước mắt thì Việt Nam vẫn cần chủ động có những giải pháp
đồng bộ và hiệu quả nhằm khắc phục những tồn tại như sự mất cân đối trong
đầu tư ở các ngành nghề ,vùng lãnh thổ ,tình trạng ô nhiễm môi trường ,phá
vỡ quy hoạch ngành ,đe dọa an ninh năng lượng ,gia tăng đầu cơ trên thị
trường bất động sản và sự bất ổn trên thị trường vốn ,việc chuyển giao và sử

tiếp ở Việt Nam.
Lượng vốn FDI luôn tăng theo các năm và những nét đặc trưng khác với
những đối tác khác ở chỗ :
Đa số các dự án đều có qui mô vốn lớn như dự án của TA Associates
International thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh 1,2 tỷ USD , Khu đô thị
của Water Front thực hiện tại Đồng Nai 750 triệu USD
Định hướng đầu tư rõ ràng đi từ dịch vụ du lịch ,khách sạn sang sản xuất
và sau đó chú trọng nhiều lĩnh vực viễn thông ,hậu cần ,ngân hàng tài chính.
Singapore có sáng kiến đầu tư tay ba tại Việt Nam ,tính đến tháng
5/1996 thủ tướng Singapore đã sang thăm Việt Nam và khai trương khu công
nghiệp Việt Nam – Singapore tại Bình Dương ( VSIP ) đây là một trong
những khu công nghiệp thành công nhất mà Singapore đã hợp tác xây dựng ở
nước ngoài ,cũng tại thời điểm đó VSIP đã thu hút được 235 dự án với 1,5 tỷ
USD vốn đầu tư và đã sử dụng 40000 lao động.
Hình 2.3 FDI của Singapore vào Việt Nam
(Nguồn: Singapore Department of Statistics, tháng 7, 2008)

Tính đến tháng 2 năm 2010 thì Singapore có 792 dự án còn hiệu lực với
tổng vốn đăng ký 17,3 tỷ USD.
Cơ sở của quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore vào
ViệtNam :
Hai bên đã thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973.
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Singapore
được ký ngày 29 tháng 10 năm 1992.
Tháng 3/ 2003 thủ tướng hai nước đã cùng đưa ra sáng kiến chung Việt
Nam – Singapore về hợp tác đầu tư với mục tiêu là xúc tiến và thúc đẩy FDI
từ nước thứ 3 vào Việt Nam.

Việt Nam. HTĐT& QMVốn đầu tư
TSDA
ASEAN
TSDA của
Singapore
Tỷ lệ % trong
ASEAN
Tỷ lệ % trong
Singapore
Tổng số

322

163
1. XN 100% vốn nước ngoài 83 30 36.14 18.4
- Vốn từ 50 triệu USD trở lên

4

1

25

0.6

9.2

- Vốn từ 5 đến 50 triệu USD

106

63

59.4

38.6

- Vốn dưới 5 triệu USD

89

44

49.4

26.9

3. Hợp doanh

19

11

57.8


5.5( Nguồn: Số liệu được tính đến hết tháng 9/ 1997 và được lược trích từ
“Quan hệ thương mại- đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN” /
Võ Thanh Thu, Nguyễn Cường, Bùi Lê Hà. Quan hệ thương mại và đầu tư giữa
Việt nam và các nước thành viên ASEAN H. : Tài chính, 1999 77)
Địa bàn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore vào Việt Nam.
Chủ yếu đầu tư ở thành phố Hồ Chí Minh ,vì đây là một thành phố
năng động, cơ sở hạ tầng tốt, nguồn nhân lực có khả năng kỹ thuật lớn hơn và
trình độ quản lý, trình độ ngoại ngữ cũng khá hơn và là thị trường có sức mua
lớn hơn các địa phương khác của Việt Nam.
Cuối năm 1995, Singapore đã có 63 dự án đầu tư vào thành phố Hồ Chí
Minh với tổng vốn đầu tư là 682.551.392 USD, năm 2000 số dự án của
Singapore đầu tư vào thành phố Hồ Chí Minh lên tới 99, chiếm gần 40 % số
dự án đầu tư của Singapore trong cả nước, với tổng vốn đầu tư gần 1.228
triệu USD, chiếm 18 % trong tổng vốn đầu tư của Singapore vào Việt Nam.
Nhận xét về FDI của Singapore vào Việt Nam thời gian qua.
Lượng FDI của Singapore trong thời gian qua đã giúp cho Việt Nam có
thêm nhiều dự án đầu tư ,mở rộng sản xuất ,tăng nguồn thu ,giải quyết được
việc làm cho người lao động ,đặc biệt giúp Việt Nam nhanh chóng hoà nhập
với môi trường kinh doanh khu vực và quốc tế bằng việc tiếp cận với tổ chức
và bạn hàng quốc tế ngoài khu vực.
Về phía Singapore các nhà đầu tư còn chưa mạnh dạn đầu tư hết mình
vào Việt Nam do bộ máy hành chính còn cồng kềnh ,cung cấp thông tin
không đầy đủ ,không chính xác ,lạc hậu ,không chịu bỏ tiền ra quảng bá hình
ảnh,quảng cáo ,tiếp thị đặc biệt là môi trường kinh doanh và đầu tư
2.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia vào Việt Nam.
Nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, tương xứng với
tiềm năng của hai nước ,thủ tướng hai nước cho rằng cần phải nhanh chóng

Dự án lớn nhất đưa Malaysia vươn lên vị trí dẫn đầu là liên doanh xây
dựng khu liên hợp thép ở Ninh Thuận giữa Tập đoàn Lion của Malaysia và
Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) .Dự án này đã đóng góp
gần 10 tỷ USD vào tổng vốn cam kết đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam.
Lĩnh vực xử lý môi trường cũng là một thế mạnh của các doanh nghiệp
Malaysia .Tuy nhiên lĩnh vực đang được các nhà đầu tư Malaysia quan tâm
hơn nhất là bất động sản , kinh doanh địa ốc vì nhu cầu nhà ở của người dân
tăng cao ,giới trẻ chiếm đa số và có nhu cầu sống độc lập. Điển hình như tập
đoàn Berjaya vừa nhận được giấy phép đầu tư xây dựng một khu đô thị - đại
học quốc tế đầu tiên tại khu đô thị Tây Bắc ,nhận được giấy phép đầu tư dự án
Trung tâm Tài chính Việt Nam với tổng vốn đầu tư 930 triệu USD tại Hồ Chí
Minh ,ngoài ra Berjaya cũng vừa cho khởi công xây dựng khu phức hợp gồm
khách sạn năm sao ,trung tâm thương mại ,văn phòng cho thuê và khu căn hộ
cao cấp tại Đồng Nai, với vốn đầu tư khoảng 100 triệu USD. Bên cạnh
Berjaya, một nhà đầu tư bất động sản lớn khác là SP Setia cũng có mặt với dự
án khu đô thị sinh thái Eco Lake quy mô tầm cỡ ở Bình Dương .
Bên cạnh đó các nhà đầu tư Malaysia cũng rất quan tâm đến lĩnh vực
công nghiệp và xây dựng ( với gần 50% lượng vốn đăng ký ) ,thăm dò và khai
thác dầu khí đã thu hút 17,5% tổng vốn FDI. Dịch vụ cũng chiếm lượng vốn
lớn, 47,3%, trong khi nông - lâm - ngư nghiệp chỉ khoảng 3%.
Các hình thức đầu tư của Malaysia tại Việt Nam :
Các dự án của Malaysia đầu tư theo các hình thức BOT, 100% vốn
nước ngoài ,hợp đồng hợp tác kinh doanh, và liên doanh. Trong đó, hình thức
liên doanh có 42 dự án (chiếm hơn 30%) với tổng vốn 465,7 triệu USD
(chiếm 41%) ,nhìn chung các dự án của Malaysia có quy mô nhỏ, trừ dự án
xây dựng tổ hợp Nhà máy Dệt Hualon tại Đồng Nai.
Nhìn chung các dự án của Malaysia có mặt ở khoảng 20 tỉnh thành
nước ta ,các dự án ngày càng có xu hướng gia tăng cả về hình thức lẫn qui
mô.Nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư hai chiều ,về phía Việt Nam cần
tạo cơ sở và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang

năng thì lượng đầu tư FDI của Thái Lan vào Việt Nam chưa tương xứng với
tiềm năng, hiện tại Thái Lan đứng thứ 8 về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam,
với 182 dự án, tổng số vốn 5,685,2 tỷ USD.
Địa bàn hoạt động của các nhà đầu tư Thái Lan :
Các nhà đầu tư Thái Lan có mặt tại 30 địa phương ,dẫn đầu là Đồng
Nai, thu hút 28 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký 485 triệu USD, chiếm
17,9% số dự án và 28,7% tổng vốn đầu tư đăng ký ,tiếp đến là Hà Nội thu hút
24 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký 366 triệu USD.
Các hình thức đầu tư FDI vào Việt Nam :
Các dự án FDI của Thái Lan tại Việt Nam chủ yếu theo hình thức
100% vốn nước ngoài (với 120 dự án và vốn đăng ký là 939 triệu USD ) .Tiếp
theo là hình thức liên doanh ( với 40 dự án ,vốn đầu tư là 714 triệu USD )
.Còn lại là các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh,
BOT, BTO, BT.
Nhìn chung, các dự án đầu tư của Thái Lan triển khai tốt, nhiều dự án
hoạt động có hiệu quả cao, có những sản phẩm thay thế được hàng nhập khẩu
và tham gia tích cực vào lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Đối với Thái Lan thì Việt Nam là một thị trường lớn nhưng sức cạnh
tranh cũng vô cùng quyết liệt .Song họ cũng đã thành công trên một số lĩnh
vực nhất định như ngân hàng ,dầu khí ,kinh doanh chế biến thực phầm và
chăn nuôi thủy hải sản .Gần đây lĩnh vực công nghệ thông tin và kinh doanh
trên lĩnh vực xây dựng ( thị trường trang trí nội thất, bất động sản và địa ốc )
cũng đang được các nhà đầu tư Thái Lan quan tâm và coi đó là những lĩnh
vực tiềm năng ,đầy kỳ vọng.
Các nhà đầu tư Thái Lan đã và đang rất muốn đầu tư vào Việt Nam ,họ
không thiếu vốn ,song lo ngại của các nhà đầu tư này là thiếu các số liệu về
thị trường, chính sách đầu tư của Việt Nam, thiếu sự giúp đỡ của các cơ quan
chức năng
Phía Việt Nam luôn coi Thái Lan là đối tác quan trọng và là nước có vị
trí quan trọng trong sự hợp tác của nhóm nước khu vực sông Mê Công ,luôn

Hình thức đầu tư chủ yếu là liên doanh và 100% vốn đầu tư nước
ngoài. Hình thức hợp doanh chưa phổ biến điều này nói rằng các nhà đầu tư

Trích đoạn Đánh giá những thành công đạt được Hạn chế của FDI của ASEAN vào Việt Nam Đầutư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam vào các nước ASEAN Ưu điểm chủ yếu Phương hướn g, mục tiêu thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status