Câu hỏi ôn tập môn:
1. Phân tích vai trò của giáo dục trong sự phát triển con người?
2. Phân tích các nhân tố chủ yếu tác động đến giáo dục?
3. Phân tích các chỉ số phát triển giáo dục trong cộng đồng, quốc gia? Vì sao?
4. Các mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ?
5. Xu thế phát triển Gd và lựa chọn ưu tiên Gd- Đt nước ta và một số vấn đề phát
triển gd nước ta hiện nay?
6. Hãy xác định rõ mục đích, ý nghĩa và cách đo chỉ số phát triển Gd, chỉ số
người lớn biết chữ, chỉ số nhập học tổng hợp và phương pháp phân tích số
năm đi học trung bình? Gia quyền?
7. Phân biệt 2 chỉ tiêu GDP&GNP. Quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển
Gd. Liên hệ nước ta.
Nội dung soạn:
1. Phân tích vai trò của giáo dục trong sự phát triển con người?
Gd là nền tảng cho việc truyền thụ phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ
khác. Gd là phương tiện để đánh thức và nhận ra những khả năng, năng lực tiềm
ẩn của mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người.
Vai trò của Gd rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân. Ở đây ta
nói vai trò của Gd trong sự phát triển con người, từ sự phát triển con người tác
động đến sự phát triển xã hội.
“Hiền dữ đâu là tính sẳn
Phần nhiều do giáo dục mà nên!”
(HCM)
Vai trò của Gd thể hiện rõ:
Thứ nhất, Gd là nhu cầu thiết yếu cho mỗi con người, đồng thời là nhân tố cơ
bản nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội chọn lựa của con người.
- Đã là con người ai cũng có những nhu cầu cơ bản như ăn uống, mặc, đi
lại gọi chung là những nhu cầu sinh tồn và cao hơn nữa là nhu cầu an sinh: sống
thoải mái hạnh phúc, vui vẻ, được thể hiện bản thân; mỗi người là một chủ thể
1
sáng tạo không khác với các chủ thể khác cho nên cách thể hiện ở mỗi cá thể là
con người được hiểu là qua giáo dục tiếp thu được kiến thức, kỹ năng thái độ, đạo
đức tham gia vào quá trình sản xuất của xã hội. Tạo ra một nền kinh tế phát triển nhờ
vào nguồn tài nguyên các mỏ khoáng sản, dựa vào sự hiểu biết khả năng, trình độ,
lao động lành nghề của đội ngũ lao động thúc đẩy phát triển xã hội.
+ Vốn tổ chức:
Nhờ có Gd mọi người có trình độ hiểu biết hình thành tinh thần ý thức làm việc
theo khuôn khổ, có tổ chức có hiệu quả, mọi người đối xử bình đẳng, nhân ái tinh
thần đồng đội quan tâm giúp đở lẩn nhau.
+ Vốn xã hội:
Là mức độ đoàn kết, tinh thần sẳn sàng hành động vì những điều tốt đẹp, thể
hiện sự đồng thuận trong hợp tác làm việc theo quy tắc xã hội thống nhất.
Gd là nhân tố tạo ra sự gắn kết giữa những con người có hiểu biết, trình độ lao
động lành nghề, làm việc có tổ chức quy tắc khuôn khổ thống nhất và tạo ra một xã
hội thống nhất phát triển vì mục tiêu chung, xây dựng xã hội phát triển hài hòa văn
minh tiến bộ.
Ba nguồn vốn trên chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó vốn con người
là quan trọng nhất và từ đó mới có vốn tổ chức và quyết định vốn xã hội. Ngược lại
vốn tổ chức, vốn xã hội tác động cho vốn con người cao hơn.
Thứ ba, Gd là nhân tố quan trọng nhất để phát triển nguồn lực con người.
Người ta thường nhấn mạnh đến 5 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến nhân tố con
người : GD, dinh dưỡng và sức khỏe, Môi trường, Việc làm, Tự do chính trị và kinh
tế.
Trong 5 yếu tố trên thì Gd là quan trọng nhất;
Ông Joseph Stightz cho rằng: “ Gd đóng vai trò quan trọng không chỉ nó làm tăng
vốn con người mà còn vì giáo dục làm cho con người có khả năng chấp nhận và
thích ứng với thay đổi”.
Vd: Làm ăn buôn bán với nước ngoài, lấy chồng ngoại quốc thay đổi cuộc sống,
hay du học;
3
sở vật chất không đáp ứng kịp dẫn đến chất lượng học sinh sẽ kém.
Nếu hệ thống giáo dục quốc dân không phân hóa kịp thời sẽ gây ra những khó
khăn cho quá trình giáo dục, gây ra tác dụng giáo dục ngược.
Chẳng hạn tình trạng thừa thầy thiếu thợ, thiếu lao động chân tay.
Ngày nay nhu cầu học tập càng cao, các trường Đại học được mở ra nhiều để
đáp ứng nhu cầu học tập nhưng tình trạng thiếu giáo viên, cơ sở vât chất dẫn đến
tình trạng mất cân bằng.
Dân số được coi như là mẫu số của sự phát triển giáo dục, dân số cũng được
xem xét để đào tạo nguồn nhân lực đầu vào.
Tỉ lệ sinh giảm dẫn đến dân số giảm, dẩn đến trường bị thu hẹp, thừa trường
lớp.
0- 5 tuổi: đây là đầu vào cho các trường Mầm non.
6- 10 tuổi: đầu vào cho Tiểu học
11- 14 tuổi: đầu vào THCS
15- 18 tuổi: đầu vào THPT
19- 24 tuổi: đầu vào ĐH,CĐ, TC, nghề
Dân số ảnh hưởng rất lớn đến Gd, ảnh hưởng chất lượng GD, tạo ra nguồn vốn
con người, nguồn nhân lực phát triển xã hội.
Thứ hai, Sự tăng trưởng kinh tế là nhân tố cho Gd phát triển có chất lượng-
hiệu quả:
Lao động lành nghề là bội số của lao động giản đơn muốn có lao động lành
nghề thì phải qua đào tạo. Mà muốn đào tạo ra đội ngũ lao động lành nghề phải
có chi phí cho GD-ĐT và người ta coi chi phí này như chi phí cho sản xuất.
Khi KH-KT phát triển nhanh mà trình độ con người thấp gây ra tình trạng trì
truệ làm cho nền kinh tế tục hậu. Đầu tư cho Gd là đầu tư cho phát triển.
Kinh tế phát triển tác động đến Gd theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực,
nó như con dao hai lưỡi, không phải đầu tư cho Gd thật nhiều thì hiệu quả sẽ
càng cao cần phải có tác động phù hợp và khoa học.
5
Vd: Khi kinh tế phát triển một số Gia đình có của ăn của để, họ nghĩ việc cho
hỗ trợ bổ sung cho nhau, không chỉ có tích cực mà còn có cả tiêu cực. Cho nên
cần phải có phương pháp, kế hoạch phát triển Gd cụ thể để xây dựng một nền Gd
vững mạnh.
Câu 3: Phân tích các chỉ số phát triển giáo dục trong cộng đồng, quốc gia?
Vì sao?
UNDP công bố dùng các chỉ số sau đây để đo sự phát triển GD của một cộng
đồng,một quốc gia:
1. Chỉ số biểu thị số người trên 15 tuổi biết chữ.
Chỉ số này phản ánh thành tựu và triển vọng phát triển GD của cộng đồng.
Đây là lứa tuổi năng động và sung sức nhất cho lao động, tạo ra những giá trị
trên tất cả các lĩnh vực.
2. Chỉ số biểu thị thanh thiếu niên từ 6- 24 tuổi đang đi học trong các nhà trường
của hệ thống GDQD.
Chỉ số này đảm bảo cho mổi quốc gia thực hiện quyền lợi GD cho thế hệ trẻ.
3. Chỉ số phát triển GD tổng hợp là phép cộng phần trăm dân số người biết chữ
với quyền số 2/3 và phần trăm số thanh thiếu niên 6- 24 tuổi đi học với quyền
số 1/3.
Chỉ số nhập học tổng hợp = a* 2/3 + b* 1/3
Chỉ số này phản ánh thành tựu Gd trong HDI.
4. Số năm học trung bình ( MSY) của người dân trong khối dân hoạt động kinh
tế từ 15 tuổi trở lên.
Chỉ số này phản ánh kết quả phổ cập GD cho nhân dân.
5. Số đầu tư cho GD từ GDP, đây là chỉ số phản ánh sự đảm bảo kinh tế cho GD.
6. Ngoài ra có một số chỉ tiêu khác:
- Chỉ số đầu tư cho GD
- Chỉ số đi học đúng độ tuổi ở tiểu học
- Chỉ số đi học đúng độ tuổi ở bậc THCS
- Chỉ số đi học đúng độ tuổi ở bậc THPT
- Chỉ số đầu tư cho GD từ ngân sách nhà nước
- Chỉ số dầu tư cho GD ở cơ sở
8
Năm 2003 nước ta có số người lớn biết chữ 90,3%. Số người đi học trong độ tuổi 6-
24 là 64%,
0,903*2+ 0,64
G = = 0,82
3
CÂU 4: : 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc.
Vào tháng 9/2000, hội nghị thượng đỉnh của LHQ tại NewYork gồm 189 quốc gia
cam kết thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ. Nội dung như sau:
1. Triệt để loại trừ tình trạng bần cùng (nghèo cùng cực) và thiếu ăn:
* Trong khoảng thời gian 1990-2015, giảm một nửa tỷ lệ dưới 1 USD một
ngày.
* Trong khoảng thời gian 1990-2015, giảm một nửa tỷ lệ người bị thiếu ăn.
* Tạo việc làm thích hợp và hữu ích cho tất cả mọi người bao gồm cả phụ nữ
và thanh niên.
2. Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học:
* Đảm bảo rằng đến năm 2015, tất cả trẻ em, không phân biệt trai gái, đều
được hoàn tất giáo dục tiểu học.
Ở Việt Nam: 2000 đã phổ cập xong GDTH và đang phấn đấu phổ cập THCS.
3. Nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ:
* Xóa bỏ tình trạng chênh lệch về giới tính ở giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở tốt nhất là vào năm 2005 và ở mọi cấp không chậm hơn năm 2015.
4. Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em:
* Giảm hai phần ba tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 1990-
2015.
5. Cải thiện sức khỏe bà mẹ:
* Giảm ba phần tư tỷ lệ tử vong ở bà mẹ trong giai đoạn 1990-2015.
* Đến năm 2015, phổ cập chăm sóc sức khỏe sinh sản.
9
6. Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác:
* Bằng cách hợp tác với các công ty dược phẩm, cung cấp đủ những thuốc trị
bệnh thiết yếu tại các nước đang phát triển.
* Thông qua hợp tác với khu vực tư nhân, phát huy các lợi ích của những công
nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin.
CÂU 7: Phân biệt 2 chỉ tiêu GDP&GNP. Quan hệ giữa phát triển kinh tế và
phát triển Gd. Liên hệ nước ta.
1. GDP
a. Khái niệm: Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa hay GDP (viết tắt của
Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời
gian nhất định, thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia,
nó còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội. GDP là một trong những chỉ số
cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó.
b.Các thành phần trong GDP:
GDP có thể tính là tổng của các khoản tiêu dùng, hoặc tổng của các khoản chi
tiêu, hoặc tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Về lý thuyết, dù theo cách tính
nào cũng cho kết quả tính GDP như nhau. Nhưng trong nhiều báo cáo thống
kê, lại có sự chênh lệch nhỏ giữa kết quả theo ba cách tính. Đó là vì có sai số
trong thống kê.
Theo cách tính GDP là tổng tiêu dùng, các nhà kinh tế học đưa ra một công
thức như sau:
Trong đó:
* C là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế.
* I là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh. Đây được coi là tiêu
dùng của các nhà đầu tư. Lưu ý, đừng lẫn lộn điều này với đầu tư mang tính đầu
cơ tích trữ vào thị trường chứng khoán và trái phiếu.
11
GDP = C + I + G + NX
* G là tổng chi tiêu của chính quyền (tiêu dùng của chính quyền). Quan hệ của
phần này đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khả dụng
được (sau khi khấu trừ thuế phải nộp và trích nộp các quỹ phúc lợi) cũng như
lương của các công nhân Mỹ đang làm việc trong nhà máy được tính là một
bộ phận trong GNP của Mỹ.
** Quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển giáo dục:
Giữa kinh tế và Giáo dục có mối quan hệ tương hỗ tác động qua lại lẫn nhau.
Khi kinh tế phát triển thì nguồn đầu tư cho giáo dục nhiều hơn, ổn định hơn và
giáo dục có nhiều cơ hội phát triển hơn từ đó cung ứng đào tạo ra một đội ngũ,
nguồn nhân lực cho phát triển Kinh tế xã hội. Đầu tư cho Giáo dục cũng là đầu tư
cho phát triển kinh tế.
- Kinh tế là điều kiện cơ sở vật chất để phát triển Gd khi GDP và GNP tăng
trưởng hàng năm cao thì việc đầu tư cho giáo dục cũng được tăng lên.
- Kinh tế phát triển ngân sách đầu tư cho Gd được nhiều hơn hiệu quả được
tăng cao.
- Kinh tế phát triển tạo ra khả năng, năng lực chi trả của nhân dân, của người học
trong quá trình thụ hưởng, đồng thời trình độ phát triển kinh tế chế ước tiến trình
phát triển GD.
- Kinh tế quyết định quyền lực, mục đích, nội dung, phương pháp Gd. Bản thân
phát triển kinh tế có cơ sở là nguồn gốc khách quan để chúng ta xát định các mục
tiêu trong Gd và rồi từ đó xây dựng các mục tiêu liên quan, nâng cao trình độ để
phát triển kinh tế.
- Kinh tế quyết định quy mô tốc độ phát triển Gd, vì phát triển kinh tế đầu tư cho
Gd phát triển nhiều về cả số lượng lẫn chất lượng. Ngược lại kinh tế phát triển
nguồn ngân sách cho GD ít hơn từ đó ít có điều kiện mở rộng quy mô GD-ĐT.
- Chức năng phát triển kinh tế của Gd thể hiện ở chổ:
13
+ Mức tăng trưởng nguồn của cải vật chất tài nguyên của con người. Ngoài ra
còn kết cấu xã hội, sự thay đổi phát triển của các chính sách xã hội tạo điều kiện
để thực hiện sự phát triển xã hội.
+ Là con đường quan trọng nhất để tái sản xuất lao động, tái sản xuất xã hội.
+ Là con đường chủ đạo chuyển hóa KH-KT thành lực lượng sản xuất trực tiếp