1
Luận văn
Thực trạng hoạt động quản
lý của Cục Đầu tư nước
ngoài
2
BÁO CÁO TỔNG HỢP
I. Quá trình hình thành và phát triển Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế
hoạch và Đầu tư.
1.Tổng quan về quá trình hình thành, phát triển của Bộ Kế hoạch - Đầu tư
và Cục Đầu tư nước ngoài
Sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công, để đi vào xây dựng ổn định đất nước
và tạo lập tiền phương vững chắn, Hồ Chủ Tịch đã nghiên cứu và bàn bạc với Đảng
và nhà nước ký sắc lệnh thành lập Ngành Kế hoạch. Một ngành không thể thiếu để
giúp cho các cán bộ từ Trung Ương đến địa phương hoạt động một cách có hiệu
quả, có định hướng. Trải qua một thời gian dài với nhiều biến động, đến 1988,
Đảng và nhà nước ta đã quyết định sửa đổi Ngành Kế hoạch thành Ủy Ban nhà
nước về Hợp tác và Đầu tư. Với vị trí là cơ quan trực thuộc ngang Bộ, Ủy Ban nhà
nước về Hợp tác và Đầu tư có các vụ ban đầu:
- Vụ thẩm định;
- Vụ quản lý dự án;
- Vụ Pháp luật và xúc tiến đầu tư;
- Vụ khu chế xuất;
- Văn phòng Bộ;
- Cơ quan đại diện Phía Nam;
- …
Với sự chuyển đổi này, nhà nước ta đang từng bước thực hiện cơ chế mở cửa
với các nước trên thế giới và từng bước sửa đổi bổ sung Ngành Kế Hoạch cho phù
18. Vụ quản lý dự án;
19. Vụ pháp luật và đầu tư;
20.Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ;
21. Thanh tra;
22. Văn phòng.
Đến tháng 7/2003, các Vụ Quản lý dự án, Vụ đầu tư nước ngoài, cơ quan đại
diện phía Nam và tiếp nhân chức năng xúc tiến đầu tư từ Vụ pháp luật đầu tư đã
4
hợp nhất trở thành Cục Đầu tư nước ngoài. Với bộ máy giúp việc và các đơn vị trực
thuộc tuy chỉ mới thành lập ( những đã có nguồn gốc từ lâu đời), Cục Đầu tư nước
ngoài đang từng bước ổn định và hòa nhập vào với nhịp độ chung của guồng máy
xã hội đang trong quá trình phát triển và hội nhập.
2.Vị trí và chức năng của Cục Đầu tư nước ngoài
Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư có chức năng giúp Bộ
trưởng thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và
đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài. Trong đó, Cục Đầu tư nước ngoài có
tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và tài khoản cấp 2, được ngân sách nhà nước
cấp kinh phí hoạt động và được tổng hợp trong dự toán hàng năm của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư.
3.Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục đầu tư nước ngoài
Để giúp được Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài, Cục Đầu tư nước ngoài có các quyền hạn và nghĩa vụ sau:
1. Làm đầu mối giúp Bộ trưởng quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam và của Việt Nam ra nước ngoài; chủ trì và phối hợp với các đơn vị có liên
quan soạn thảo quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án thu hút đầu tư nước ngoài cho
phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển chung của cả nước trong từng
thời kỳ để trình cấp, có thẩm quyền quyết định và kiến nghị điều chỉnh trong trường
hợp cần thiết.
2. Làm đầu mối tổng hợp kế hoạch về đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ công
tác tổng hợp kế hoạch Kinh tế quốc dân, tổng hợp kiến nghị, xử lý các vấn đề có
tư về nội dung liên quan đến dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc thẩm quyền;
- Thực hiện thủ tục cấp giấy phép đầu tư sau khi dự án được chấp thuận và
thông báo các trường hợp chưa hoặc không được chấp nhận cấp giấy phép đầu tư
cho các chủ đầu tư;
7. Về quản lý nhà nước các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài sau khi được cấp
giấy phép đầu tư.
6
- Làm đầu mối hướng dẫn, triển khai, thực hiện dự án, tổ chức lại doanh
nghiệp. Điều chỉnh giấy phép đầu tư, giải quyết các vấn đề phát sinh và theo dõi
hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài; làm đầu mối hòa giải tranh
chấp liên quan đến dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài khi có yêu cầu; thực hiện các
thủ tục giải thể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chấm dứt họp đồng hợp tác
kinh doanh trước thời hạn đối với các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ. Tham gia
với vụ quản lý Khu Công Nghiệp - Khu Chế Xuất trong việc thực hiện các nhiệm
vụ trên đối với các dự án hoạt động theo quy định pháp luật về Khu Công Nghiệp,
Khu Chế Xuất, Khu Công Nghệ cao, Khu Kinh tế mở và các mô hình kinh tế tương
tự khác;
- Làm đầu mối phối hợp với vụ quản lý Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất và
các đơn vị, cơ quan liên quan quy định thống nhất chế độ báo cáo thống kê về tình
hình tiếp nhận, cấp và điều chỉnh giấy phép đầu tư, hoạt động đầu tư của các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong pham vi cả nước;
- Làm đầu mối tổ chức kiểm tra, theo dõi công tác kiểm tra của cơ quan chức
năng và chính quyền địa phương về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quy
định của pháp luật;
- Chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan theo dõi tình hình triển khai
các dự án của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Phối hợp với các đơn vị và cơ quan
liên quan quy định chế độ báo cáo thống kê, đánh giá kết quả đầu tư ra nước ngoài
của Việt Nam;
8. Phối hợp với Vụ Tổ chức các bộ và các đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ làm công tác đầu tư nước ngoài, phối hợp thực hiện công tác thi đua,
3. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước;
4. Xây dựng;
5. Tư vấn kỹ thuật ngành công nghiệp và xây dựng;
8
- Phòng Nông- Lâm- Ngư nghiệp: có chức năng giúp Cục trưởng trong việc
thực hiện công tác quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc lĩnh vực Nông,
lâm, ngư nghiệp theo các nhóm ngành sau:
1. Nông nghiệp và Lâm nghiệp;
2. Thuỷ sản;
3. Công nghiệp chế biến nông, lâm , thuỷ sản;
4. Dịch vụ kỹ thuật nông, lâm, ngư nghiệp;
- Phòng Dịch vụ: có chức năng giúp Cục trưởng trong việc thực hiện công tác
quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc lĩnh vực dịch vụ theo các nhóm
ngành sau:
1. Xây đựng và kinh doanh khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, nhà ở,
khu công nghiệp, khu đô thị, khu vui chơi giải trí, sân golf;
2. Dịch vụ du lịch;
3. Dịch vụ y tế, văn hoá, giáo dục, sản xuất dược phẩm;
4. Dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ giao thông vận tải;
5. Dịch vụ, tài chính, ngân hàng, thương mại;
6. Dịch vụ tư vấn ( trừ tư vấn kỹ thuật thuộc các ngành công nghiệp, xây
dựng, nông, lâm, ngư nghiệp)
- Văn phòng Cục: Có chức năng giúp Cục trưởng trong việc điều phối, đôn
đốc theo dõi hoạt động của các Phòng và Đơn vị trực thuộc Cục Đầu tư nước ngoài
theo chương trình kế hoạch của Cục, thực hiện các công việc liên quan đến hành chính,
quản trị, kế toán, tài vụ, tổ chức cán bộ của Cục.
c. Các đơn vị trực thuộc Cục:
- Trung tâm xúc tiến đầu tư Phía Bắc: Thực hiện chức năng xúc tiến đầu tư
trên địa bàn các tỉnh từ Hà Giang đến Quảng Trị
- Trung tâm xúc tiến đầu Miền Trung: thực hiện chức năng xúc tiến đầu tư
yếu tố nói trên, công tác thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài
10
năm 2003 vừa có những thuận lợi , vừa đan xen những khó khăn . Được sự chỉ đạo của
Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ, Đảng ủy cơ quan và sự hỗ trợ hợp tác của các đơn vị
trong Bộ, Cục đầu tư nước ngoài đã nhanh chóng ổn định tổ chức, bộ máy và nhân sự
theo cơ cấu mới nhằm đảm bảo hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
1.1. Công tác ổn định Tổ chức, Bộ máy, Nhân sự.
Theo quyết định 523/QĐ-BKH ngày 31/7/2003, cơ cấu tổ chức của Cục đầu tư
nước ngoài gồm có 6 phòng chức năng và 3 đơn vị trực thuộc như đã nêu ở phần trên.
cục đã tiến hành khẩn trương việc bố trí, sắp xếp cán bộ có các phòngvà triển khai xây
dựng đưa các Trung tâm nói trên vào hoạt động, đồng thời chỉ định các chức danh
quản lý các phòng chức năng. Đến nay tất cả các phòng đều có 1đến 2 cán bộ phụ
trách. Trung tâm đầu tư nước ngoài phía Nam đã được bổ nhiệm Giám đốc và hai Phó
Giám đốc trung tâm. Còn đối với Trung tâm xúc tiến đầu tư phía Bắc, miền Trung,
Cục sẽ trình lãnh đạo Bộ phương án giao các đồng chí Phó Cục trưởng kiêm nhiệm
giám đốc hai trung tâm này. Đến nay, Cục đã trình lãnh đạo Bộ ký ban hành quyết
định Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu của 3 trung tâm . Cục cũng đã ban hành chức
năng nhiêm vụ và cơ cấu tổ chức của các phòng chức năng và quy chế hoạt động của
Cục.
Cùng với việc kiện toàn bộ máy nhân sự các phòng và các đơn vị trực thuộc, đã tiến
hành kiện toàn tổ chức Đảng và Công đoàn. Đến nay, Đảng bộ Cục ĐTNN đã gồm 26
đảng viên và chỉ định ban chấp hành đảng bộ gồm 5 đồng chí. Các tổ Công đoàn bộ
phận trực thuộc Công đoàn Cục cũng đã được thành lập và sinh hoạt theo tổ chức của
các chi bộ. Việc tổ chức các chi bộ và các tổ công đoàn như hiện nay là tạm thời phù
hợp với tình hình phát triển ban đầu chưa đầy đủ của Cục.
Về công tác văn phòng, Cục đã tiến hành bố trí lại nơi làm việc cho các cán bộ,
chuyên viên trong Cục theo tổ chức mới, bước đầu hình thành bộ máy văn phòng Cục
nhằm đảm bảo các công việc thiết yếu về văn thư, lưu trữ, hậu cần.
Tóm lại, kể từ khi thành lập cho tới nay, mặc dù phải vượt qua nhiều khó khăn,
nhất là do đội ngũ cán bộ còn mỏng, thiếu thốn về cơ sở vật chất nhưng Cục ĐTNN đã
12
điểm trên. Ngoài ra đã phối hợp với các ngành, các địa phương tổ chức hàng chục hội
thảo xúc tiến đầu tư khác ở trong và ngoài nước. Trong năm 2003, nhiều địa phương
trong cả nước đã tổ chức các cuộc hội thảo vận động đầu tư ở trong nước, thể hiện sự
chuyển biến tích cực về nhận thức của chính quyền các địa phương trong việc huy
động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Nhiều cuộc hội thảo
xúc tiến đầu tư ở trong nước của các địa phương như Lào Cai, Sơn La, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Gia Lai… với sự phối hợp của các Vụ trước đây và Cục ĐTNN hiện nay đã thu
được các kết quả tốt, gây tiếng vang lành mạnh và làm sôi động, khởi sắc lại tình hình
đầu tư nước ngoài. Tuy vậy đã xuất hiện nhiều tình trạng tự phát, tổ chức quá nhiều
hội thảo trong cùng thời gian với nội dung đơn điệu, trùng lặp, kém hiệu quả. Để chấn
chỉnh tình trạng này, Cục ĐTNN đã trình Bộ trưởng ký ban hành công văn số 4416
BKH/ĐTNN ngay 22/7/2003 chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng xúc tiến đầu tư
của các địa phương.
Trong suốt 8 tháng cuối năm, kể từ sau chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Phan
Văn Khải tháng 4/2003, Cục ĐTNN đã chủ trì, cùng với các Bộ, ngành liên quan đàm
phối trao đổi phối hợp với các cơ quan, tổ chức phía Nhật Bản, kiên trì triển khai sáng
kiến chung Việt- Nhật. Kết quả là bản báo cáo cuối cùng với nội dung hành động cụ
thể đã được ký kết và trình lên 2 ngài Thủ tướng của 2 nước.
Ngoài việc triển khai Sáng kiến chung Việt- Nhật, Cục ĐTNN đã chủ trì xây dựng
Biên bản ghi nhớ ký về thỏa thuận hợp tác thúc đẩy quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và
Singapore cũng như đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ nước thứ ba.
Trong năm qua đã xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành đề án thu hút
đầu tư của Hoa kỳ và trình Lãnh đạo Bộ đề án tăng cường thu hút đầu tư của Đài
Loan.
Cùng với kết quả khống chế dịch bệnh SARS, việc tăng cường hoạt động xúc tiến
đầu tư đã tạo nên động thái mới trong việc gia tăng mối quan tâm của các nhà đầu tư
nước ngoài. Trong 6 tháng cuối năm 2003, số đoàn doanh nghiệp tới tìm hiểu môi
trường đầu tư ở nước ta gia tăng mạnh. Riêng trong 4 tháng cuối năm, Cục ĐTNN đã
làm đầu mối tổ chức tiếp đón và làm việc với hơn 40 đoàn doanh nghiệp nước ngoài,
Các dự án thăm dò khai thác khoáng sản gặp nhiều khó khăn không những do quy
hoạch không rõ ràng mà còn do thủ tục cấp phép thăm dò đánh giá trữ lượng và tiến
hành khai thác rất phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều khi ý kiến của các cơ
quan không thống nhất, thời gian chờ đợi kéo dài.
1.2.4.Công tác quản lý dự án.
Đến nay trên địa bàn cả nước có 4266 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư là
40,5 tỷ USD, trong đó gồm:
- 960 dự án do Bộ KHĐT quản lý với tổng vốn đầu tư là 30,7 tỷ USD
- 2034 dự án do địa phương quản lý với tổng vốn đầu tư là 3,92 tỷ USD
- 1272 dự án do KCN quản lý với tổng vốn đầu tư là 5,97 tỷ USD
Cục ĐTNN với chức năng và nhiệm vụ mới đã cố gắng giải quyết kịp thời các khó
khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, do đó đã khuyến khích doanh nghiệp tăng vốn và
mở rộng sản xuất.
Về công tác điều chỉnh giấy phép đầu tư, trong năm 2003, đã thực hiện điều chỉnh
tăng vốn cho 345 dự án, với tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt 1,15 tỷ USD. Vốn đăng
ký tăng thêm của các dự án đang hoạt động tiếp tục đạt cao thể hiện ngày càng có
thêm nhiều dự án triển khai có hiệu quả, là tín hiệu tích cực trong thu hút ĐTNN.
Đồng thời thực hiện trên 400 lượt điều chỉnh Giấy phép đầu tư khác như:
- Điều chỉnh thuế chuyển lợi nhuận; 43 lượt
- Điều chỉnh bổ sung mục tiêu:85 lượt
- Điều chỉnh thuế TNDN: 43 lượt
- Điều chỉnh chuyển nhượng vốn: 60 lượt
- Điều chỉnh khác: 178 lượt
Trong năm đã làm thủ tục giải thể trước hạn 83 dự án với vốn đầu tư đăng ký 1,73 tỷ
USD. Lý do giải thể chủ yếu là do các doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính để
tiếp tục thực hiện dự án, hoặc do các bên liên doanh không giải quyết được mâu thuẫn
với nhau.
1.2.5.Về tham gia xây dựng luật pháp và chính sách
15
Năm 2003, Chính phủ đã ban hành một số nghị định quan trọng về đầu tư nước
án hiện có, tuy là một chủ trương hoàn toàn đúng nhưng điều kiện cơ chế phối hợp
quản lý giữa Bộ kế hoạch đầu tư với các địa phương chưa được xác định rõ ràng, cụ
thể, chưa đi vào nề nếp, còn chạy theo vụ việc đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác
tổng hợp, phân tích tình hình chung, làm ảnh hưởng tới việc đề xuất các giải pháp
mang tính vĩ mô của bộ mang tính toàn ngành, liên ngành.
- Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật của cục còn yếu như: số lượng máy tính
chưa đủ, nhiều máy cũ, thường gặp trục trặc kỹ thuật khi sử dụng, chưa được sử dụng
internet, máy Fax thiếu giấy, máy Photo thì quá cũ và thiếu giấy, hay bị hỏng hóc.
Kinh phí cho tổ chức một số nhiệm vụ chung của Bộ như duy trì sinh hoạt tổ công tác
liên ngành, tổ chức hội họp hội thảo trong nước và quốc tế không có, chỗ làm việc chật
hẹp…). Số lượng cán bộ chưa đủ để bố trí được hết trên các mặt công tác nên một cán
bộ còn kiêm nhiệm nhiều việc như vừa tổng hợp, vừa theo dõi dự án của một ngành cụ
thể, có những ngành quang trọng chỉ có một cán bộ theo dõi.
Về công tác chuyên môn cục cần phải khắc phục thêm một số mặt còn tồn tại nữa:
- Việc bổ nhiệm cán bộ cấp phòng và các trung tâm còn chậm. Tuy đã chỉ định đội ngũ
quản lý cấp phòng nhưng chưa có quyết định đề bạt chính thức của bộ
- Việc bổ sung cán bộ cho các đơn vị mới thành lập như văn phòng cục, trung tâm xúc
tiến đầu tư phía Bắc và miền Trung còn chậm do gặp nhiều khó khăn. Đối với trung
tâm xúc tiến đầu tư phía Bắc sau khi đồng chí giám đốc xin chuyển công tác chưa có
người thay thế nên công việc triển khai chậm. Đối với Văn phòng Cục mới bổ sung
thêm một số cán bộ nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu trong đó như kế toán viên, các trợ
lý…
- Công tác văn thư lưu trữ của Cục do thiếu cán bộ còn có những bất cập, đôi khi việc
chuyển công tác còn chậm , thông tin tới các phòng, ban và trung tâm chưa được cập
nhật và thật đầy đủ.
- Một số chương trình công tác lớn của các Vụ trước đây chuyển sang chưa được thực
hiện xong, vẫn còn dở dang, chồng chất. Chẳng hạn như đề án nghiên cứu giải pháp
17
khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh, đề tài khoa học về thu thập và xử lý thông tin FDI, và nhiều đề tài khác nữa.
Phòng để trình lãnh đạo Bộ bổ nhiệm chính thức đội ngũ lãnh đạo cấp Phòng. Chậm
nhất trong tháng 2 hình thành đội ngũ chủ chốt của Trung tâm xúc tiến đầu tư miền
Bắc và trước tháng 4 đối với Trung tâm xúc tiến đầu tư miền Trung.
- Tiến hành mở tài khoản để đảm bảo kinh phí thường xuyên cho hoạt động của Cục
theo đúng quy định của nhà nước.
- Cố gắng đầu tư bổ sung trang thiết bị cho những phòng đơn vị còn quá thiếu
- Xây dựng mạng thông tin nội bộ về FDI, nâng cấp thông tin FDI trên trang Web
của Bộ
- Phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ để tuyển dụng, bổ sung cán bộ cho các phòng
thưo đúng định biên đã trình lãnh đạo Bộ.
1.2. Về công tác chuyên môn:
a.Thực hiện các đề án lớn nhằm phục vụ công tác chuyên môn gồm:
- Thúc đẩy các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng vốn, mở rộng sản xuất(
đã đăng ký với Bộ năm 2003);
- Chiến lược thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI đến năm 2010;
- Điều chỉnh đanh mục dự án quốc gia kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài đến năm
2005, trình Thủ tướng Chính phủ;
- Đề án xúc tiến đầu tư với các địa bàn trọng điểm và các tập đoàn đa quốc gia;
- Tổng kết 5 năm thực hiện chủ trương phân cấp, uỷ quyền;
- Triển khai thí điểm cổ phần hoá đoanh nghiệp FDI và báo cáo Thủ tướng chính
phủ vào cuối năm;
- Đánh giá tình hình thực hiện quy chế 32 về trò chơi điện tử có thưởng;
- Đánh giá tình hình thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục
và đào tạo theo nghị định 06;
- Giải pháp tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp nhằm tạo sự
chuyển dịch về cơ cấu ĐTNN;
- Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học trong và ngoài Bộ.
19
b.Về công tác quản lý dự án:
- Xử lý kịp thời và đúng pháp luật các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai đự