Tài nguyên sinh vật với phát triển kinh tế xã hội potx - Pdf 12

Tài nguyên sinh vật với phát triển kinh tế xã hội
1. Về thành phần loài.
Giới sinh vật nước ta rất phong phú, mặt khác do nằm ở nơi gặp gỡ của các luồng di cư
thực-động vật, cho nên chúng ta có cả các loài bản địa và loài di cư. Các loài di cư chủ
yếu là: Luồng Hymalaya mang yếu tố ôn đới từ Vân Nam-Quý Châu-Hymalaya xuống.
Phân bố nhiều ở Tây Bắc kéo dọc dải Trường Sơn đến vĩ độ 100B (cực Nam Trung Bộ).
Luồng Hoa Nam chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc, đem đến nhiều loài thực
vật đặc sắc vùng Đông Bắc. Luồng Ấn Độ-Mianma từ P.Tây sang, mang đến các loài cây
lá rụng trong mùa khô. Phân bố ở những vùng có gió fơn khô nóng ở Tây Bắc và Trung
Bộ. Luồng Malaixia-Inđônêxia từ phía Nam lên mang theo cây họ dầu, phân bố đến vĩ độ
180B (đặc trưng nhất là Tây Nguyên và Nam Bộ).
2. Về các kiểu hệ sinh thái.
Trên bề mặt đất nổi cảnh quan rừng bao phủ với 15 kiểu hệ sinh thái. Nếu xếp theo độ
cao địa hình được chia làm 2 nhóm: Nhóm hệ sinh thái thực vật nhiệt đới núi thấp, phân
bố ở độ cao 600 - 700m (miền Bắc) và 900 - 1000m (ở miền Nam); và nhóm hệ sinh thái
thực vật á nhiệt đới và ôn đới trên núi (phân bố ở độ cao từ 600 - 700m đến 1600 -
1700m). Các nhóm hệ sinh thái và kiểu rừng:
- Nhóm hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới có các kiểu rừng chính sau.
+ Kiểu rừng nhiệt đới ẩm gió mùa thường xanh: Rừng có nhiều tầng (có 3 tầng gỗ). Là
loại rừng có trữ lượng gỗ lớn nhất nước ta (200 - 300 m3/ha). Phân bố dọc P.Đông
Trường Sơn nơi có nhiệt độ TB > 200C, không có tháng lạnh < 180C, lượng mưa > 2.000
mm/năm, mùa khô không quá 3 tháng. Các loại gỗ chủ yếu thuộc cây họ Dầu. Từ vĩ độ
160B trở ra là các loài (lim, táu, chò chỉ, chò xanh, chò nâu); từ vĩ độ 160B trở vào là các
loài (sao, gụ, kiền kiền ).
+ Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá. Phát triển trong điều kiện có mùa đông
lạnh (< 180C), phổ biến ở miền Bắc & các vùng có mùa khô rõ rệt như Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ. Rừng có nhiều tầng tán (ngoài các cây thường xanh, có 25% số cá thể
rụng lá như sến cát, dầu lông, xoan, săng lẻ. Trữ lượng gỗ ~ 120 - 150 m3/ha.
+ Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá. Phát triển trong điều kiện lượng mưa ít
(1.000-1.500 mm/năm), mùa khô kéo dài 4- 5 tháng. Phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên,
Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Rừng có kết cấu đơn giản (1 - 2 tầng cây gỗ); về mùa khô

cây lá kim như samu, pơmu, thông nàng, thông ba lá, du sam).
+ Kiểu rừng lùn đỉnh núi cao chỉ có ở độ cao > 2.600m (miền Bắc).
3. Nguồn tài nguyên thực - động vật:
Thực vật có 14.624 loài thuộc ~ 300 họ. Về cây trồng > 200 loài Động vật (cả trên cạn
và dưới nước) có 11.217 loài và phân loài. Trong đó, 1.009 loài và phân loài chim; 265
loài thú; 439 loài bò sát lưỡng cư; 2.000 loài cá biển; trên 200 loài cá nước ngọt; hàng
ngàn loài tôm, cua, nhuyễn thể khác. Trong rừng. Có rất nhiều loài gỗ cứng như (đinh,
lim, sến, táu, nghiến, sao, chò chỉ, kiền kiền). Có nhiều loài gỗ đẹp, được dùng để đóng
đồ trang trí nội thất như (lát hoa, trai, mun, gụ, huỳnh đường, cẩm lai, giáng hương ).
Trữ lượng rừng tự nhiên 657 triệu m3, 60 loài tre nứa (5,5 tỉ cây), 1.300 loại cây thuốc.
4. Sự suy giảm tài nguyên sinh vật
- Diện tích rừng: năm 1943, cả nước còn 14,3 triệu ha rừng tự nhiên (trong đó ~ 10,0
triệu ha là rừng giàu), đất trống đồi núi trọc 2,0 - 3,0 triệu ha. Năm 1993, đất lâm nghiệp
là 20,0 triệu ha; trong đó, rừng tự nhiên ~ 8,6 triệu ha (43,1% diện tích đất lâm nghiệp),
đất trống đồi núi trọc ~ 13,0 triệu ha. Năm 1999, diện tích rừng đã tăng lên 9,3 triệu ha,
nhưng đất trống đồi núi trọc vẫn còn ~ 12,6 triệu ha, rừng giàu còn ~ 61,3 vạn ha tập
trung chủ yếu ở trên những vùng núi cao hiểm trở khó khăn trong khai thác. Đến năm
2005, đất lâm nghiệp có rừng 12,4 triệu ha (37,7% diện tích đất tự nhiên phần đất liền).
Trong đó, rừng tự nhiên 9,53 triệu ha, rừng trồng 2,89 triệu ha, (diện tích rừng lớn nhất là
Mièn núi và trung du Bắc Bộ 4,36 triệu ha (35,11% rừng cả nước), tiếp đến là Tây
Nguyên 2,99 triệu ha (24,12%).
- Độ che phủ rừng: Năm 1943 tỉ lệ che phủ rừng là là 67%, thì đến 1993 giảm xuống còn
29%, tương đương với 12,6 triệu ha rừng bị mất (ở miền Bắc giảm 8,0 triệu ha, và ở miền
Nam giảm 4,6 triệu ha). Lớp phủ rừng bị hủy hoại mạnh nhất ở Miền núi – trung du phía
Bắc (1993 độ che phủ chỉ còn 17%), năm 2005 độ che phủ rừng của cả nước đã tăng lên
37,7%, nhưng vẫn còn là quá ít so với một quốc gia 3/4 diện tích là đồi núi.
- Trữ lượng gỗ năm 1999 chỉ còn 751,5 triệu m3. Trong đó: Tây Nguyên 298,8 triệu m3
(39,8%), Đông Bắc 99,39 triệu m3 (13,2%), Duyên hải Nam Trung Bộ 95,68 triệu m3
(12,7%), Đông Nam Bộ 54,51triệu m3 (7,2%), Tây Bắc 41,75triệu m3 (5,5%), Đồng
bằng sông Hồng 21,33 triệu m3 (0,46%). Trữ lượng tre nứa 8,4 triệu cây, nhiều nhất là

- Trong quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác rừng tập trung vào 3 loại rừng: Đối với
rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng trên
vùng đất trống, đồi núi trọc. Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dạng sinh học
của các vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên về rừng và khu bảo tồn các loài. Đối với
rừng sản xuất: đảm bảo duy trì phát triển diện tích và chất lượng rừng. Nhiệm vụ đến
2010, trồng được 5,0 triệu ha rừng.
- Biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học: Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và
các khu bảo tồn thiên nhiên. Bảo vệ nguồn gien động-thực vật quí hiếm khỏi nguy cơ
tuyệt. Qui định về khai thác: cấm khai thác gỗ quí, khai thác trong rừng cấm, rừng non,
gây cháy rừng, cấm săn bắn động vật trái phép, cấm dùng chất nổ đánh bắt cá và các
dụng cụ bắt cá con, cá bột, cấm gây hại cho môi trường nước.
(Sưu tầm)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status