Bình giảng bốn câu thơ sau đây trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Bài làm:
Chúng ta có thể lầm trong hai năm chứ lầm luôn trong bảy tám năm hay lâu hơn nữa, là
chuyện thảng hoặc mới có ( Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh).
Chuyện thảng hoặc không may mắn ấy đã xảy ra với Quang Dũng. Bao tình cảm dành cho
đơn vị cũ – đoàn quân Tây Tiến với những chàng trai Hà Nội mặc áo lính, rời đô thành tới
chiến đấu ở miền Tây Bắc xa xôi của Tổ quốc và nước bạn Lào, Quang Dũng gửi gắm vào
bài thơTây Tiến viết tại Phù Lưu Chanh năm 1948. Vậy mà bao năm trời, đóa hoa thơ của
thi nhân tài hoa ấy bị loại khỏi khu vườn thi ca dân tộc. Điều kỳ lạ là chính Hoài Thanh lại
là người đi đầu trong sự lầm lẫn ấy. Nhưng cũng chính tác giả Thi nhân Việt Nam đã
khẳng định: “ Tôi tin rằng linh hồn chung của cả một lớp người đủ phức tạp để cảm thông
với hầu hết thơ văn có giá trị”. Người ta có thể nhầm trong năm bảy năm hoặc lâu hơn
nhưng rồi người ta cũng nhận ra giá trị đích thực của Tây Tiến. Những dòng thơ xưa bị coi
là bi lụy giờ được đánh giá lại dưới cái tên đúng hơn, bi tráng. Và đoạn thơ dưới đây là một
trong những minh chứng rõ ràng nhất.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Trong suốt dọc dài kháng chiến, Tây Tiến cũng như bao đoàn quân khác của dân tộc phải
chịu những hy sinh và tổn thất nặng nề. Những hy sinh tổn thất ấy là gấp bội trong ngày
đầu kháng chiến. Nhưng thơ văn một thời nhìn chung đã tránh nói đến mất mát đau
thương. Đó phải chăng là điều cần thiết mà cũng hạn chế của thời đại. Quang Dũng đã
vượt qua hạn chế ấy và phải chăng bởi vậy mà có lúc con người ấy không được hiểu.
Trong tám câu thơ khắc họa hình ảnh đoàn quân Tây Tiến, nhà thơ đã dành đến một nửa để
nói về một Tây Tiến trong sự hy sinh ngay sau những dòng thơ thật hay về người lính
trong chiến đấu. Nhưng khổ thơ không phải là bài ca rên xiết, buồn đau làm mềm lòng
tình yêu Tổ quốc thiết tha, dũng khí lớn lao của đoàn quân Tây Tiến. Quang Dũng không
dùng những vần thơ nồng nàn tha thiết như Chế Lan Viên.
Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông.
Mà tấm lòng ấy cứ lồ lộ ra sau câu thơ đầy hùng tráng tâm chí và vẻ ngang tang của tuổi
trẻ.
Nếu hai câu thơ trước thiên về tình cảm của những người con với đất mẹ thì ở hai câu thơ
sau, ta nhận ra nhiều hơn tình cảm đồng đội của những người đang sống dành cho người đã
ra đi.
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Người chiến sĩ ngã xuống nơi xứ lạ heo hút, không một nét nhang, không quan tài và ngay
đến cả manh chiếu bó thân cũng không có. Họ ra đi với những kỉ vật đã gắn bó với mình
suốt dọc đường hành quân, với tấm áo bạc màu đã cùng họ dầm sương dãi nắng. Những
con người ấy khi sống đã phải chịu vô vàng gian khổ, lúc mất đi vẫn trong cảnh cực kỳ
thiếu thốn. Nhưng Quang Dũng nói đến sự thiếu thốn mà không để lại cho ta ấn tượng
nhiều về sự thiếu thốn khi tác giả nói “ áo bào” rồi “ anh về đất”. Manh áo của người lính
không được diễn tả thuần hiện thực như Chính Hữu, mà với bút pháp lãng mạn Quang
Dũng đã nâng tấm áo mang đầy mưa nắng ấy thầy “ áo bào”. Hình ảnh “ áo bào” gợi cho ta
nhớ những câu thơ cổ đến “ bức chiến bào”. Sự thiến thốn nhòa đi nhường chỗ nhiều hơn
cho không khí trang trọng cổ xưa, sự hy sinh của người lính Tây Tiến đã gặp sự hy sinh
của bao tráng sĩ thuở nào. Chính vì vậy, có gì gợi tới “ Cái chết nhẹ tựa long hồng”. Đặc
biệt với ba chữ “ anh về đất”, tác giả đã hình tượng hóa cái chết như sự trở về với đất mẹ
như đứa con trở về lòng mẹ sau bao năm xa cách. Nhờ thế, dù lần thứ hai liên tiếp trong
bốn câu thơ, tác giả đã nói đến sự hy sinh mà vẫn không để lại ấn tượng nặng nề về tổn
thất, những ấn tượng có thể bóp chết ý chí chiến đấu. Mất mát càng tăng lên bao nhiêu thì
sự hùng tráng của khổ thơ cũng tăng lên bấy nhiêu. Đến tiếng gầm của dòng sông Mã thì
bản hùng ca bi tráng khép lại trong những âm thanh cao nhất, dữ dội nhất mà cũng âm