TIỂU LUẬN: Hoạt động thẩm định tài trợ vốn các dự án đầu tư tại chi nhánh Ngân hàng Công thương (NHCT) tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2007 - Thực trạng và giải pháp potx - Pdf 12

TIỂU LUẬN:

Hoạt động thẩm định tài trợ vốn các dự án
đầu tư tại chi nhánh Ngân hàng Công
thương (NHCT) tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2006 - 2007 - Thực trạng và giải pháp
Lời mở đầu

Trong nền kinh tế, nhất là một nền kinh tế có tăng trưởng, hoạt động đầu tư là
hoạt động không thể thiếu, giúp duy trì hay làm tăng lên giá trị tài sản của nền kinh tế,
phục vụ cho đời sống của dân chúng. Hoạt động đầu tư luôn là một hoạt động lâu dài,
hiệu quả mang tính chất tương lai, vì vậy mà các nhà đầu tư khôn ngoan luôn lập cho
mình một kế hoạch hay một dự án đầu tư để có thể có một bức tranh đầy đủ về hoạt
động đầu tư của mình. Thẩm định dự án đầu tư là một công đoạn có tính chất quyết định
cuối cùng đối với việc ra quyết định: Có nên thực sự đầu tư cho dự án hay không.
Trong công cuộc đầu tư, với nguồn lực hữu hạn về vốn, chủ đầu tư tất yếu phát

chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình là: “Hoạt động thẩm định tài trợ vốn các dự
án đầu tư tại chi nhánh Ngân hàng Công thương (NHCT) tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2006 - 2007: thực trạng và giải pháp”, góp phần giúp những người quan tâm đến vấn
đề này có thêm thông tin về công tác thẩm định tại một chi nhánh của một trong bốn
ngân hàng thương mại có thị phần lớn nhất cả nước tại một tỉnh có điều kiện kinh tế
trung bình so với cả nước như Phú Thọ.
Trong quá trình tìm hiểu thực tế, cũng như quá trình xây dựng đề tài chắc chắn sẽ
còn nhiều hạn chế do còn chưa có nhiều kinh nghiệm. Vì vậy, em rất mong sẽ nhận
được những góp ý của các thầy cô giáo.
Chuyên đề của em ngoài Lời mở đầu, Kết luận gồm hai chương:
Chương I: Tình hình thẩm định tài trợ vốn các dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT tỉnh
Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2007
Chương II: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác thẩm định tài trợ vốn các dự
án đầu tư tại chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ

CHƯƠNG I
TÌNH HÌNH THẨM ĐỊNH TÀI TRỢ VỐN CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CHI
NHÁNH NHCT TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2006 - 2007

1.1. Vài nét khái quát về chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ
Chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ là chi nhánh ngân hàng cấp 1 loại I trực thuộc hệ

03 phòng giao dịch, 05 quỹ tiết kiệm huy động vốn), chi nhánh Đền Hùng, chi nhánh
Nam Việt Trì, chi nhánh thị xã Phú Thọ với 13 quỹ tiết kiệm huy động vốn thuộc các
cấp chi nhánh trực thuộc, tại mỗi khu dân cư tập trung có một điểm giao dịch. Mạng
lưới hoạt động được bố trí tập trung chủ yếu ở các trung tâm thương mại, khu kinh tế
phát triển; gắn với các khu vực thành phố, thị xã, khu kinh tế phát triển, dân cư tập
trung (đặc biệt là các khu dân cư có thu nhập cao), khu vực có khả năng huy động vốn,
đầu tư cho vay hoặc mở rộng các ứng dụng dịch vụ ngân hàng. Đối tượng kinh doanh
của NHCT đã mở rộng tới mọi thành phần kinh tế, ngành nghề kinh doanh với phương
châm: “Vì sự thành đạt của mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp”. Mọi thành phần
kinh tế thuộc mọi ngành nghề sản xuất kinh doanh đều được chi nhánh NHCT tỉnh Phú
Thọ tiếp cận và đáp ứng đầy đủ kịp thời. Hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT
tỉnh Phú Thọ cũng có sự đổi mới căn bản theo định hướng của Đảng, Nhà nước và sự
vận động biến đổi của thị trường. Nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay, bảo lãnh của
chi nhánh đến nay đạt nhiều tỷ đồng, tăng gấp nhiều lần nguồn vốn khi mới thành lập và
chiếm thị phần cao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Tháng 10/2005 thực hiện theo thông báo số 70/NHCT ngày 24 tháng 09 năm
2005 của NHCT Việt Nam về việc triển khai hiện đại hoá hệ thống NHCT Việt Nam,
chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ bắt đầu hoạt động theo mô hình mới, nâng cấp các chi
nhánh trực thuộc là chi nhánh Đền Hùng, chi nhánh Nam Việt Trì, chi nhánh thị xã Phú
Thọ thành chi nhánh cấp 1 loại III trực thuộc thẳng NHCT Việt Nam. Vì vậy từ năm
2005 trở về trước, chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ thực hiện hạch toán chung tất cả các
chi nhánh, nhưng bắt đầu từ năm 2006 đến nay thực hiện hạch toán độc lập. Với hệ
thống giao dịch một cửa chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ đã, đang và sẽ cung cấp những
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tốt nhất cho khách hàng.
Với cố gắng nỗ lực lớn, chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ đạt được những kết quả
đáng khích lệ trong thời gian qua như liên tục được xếp loại giỏi qua các năm và đặc
biệt đến năm 2006 chi nhánh đã được đón nhận Huân chương lao động hạng 3 của Chủ

quốc tế: thanh toán quốc tế, mua bán thu đổi ngoại tệ, nhận gửi vốn bằng ngoại tệ, cho
vay bằng ngoại tệ, séc du lịch và các dịch vụ khác.
- Thực hiện chức năng thanh toán giữa các khách hàng, cất giữ, bảo quản các tài
sản quý của các tổ chức kinh tế và dân cư; mua bán chuyển nhượng các giấy tờ có giá;
thực hiện các dịch vụ tư vấn về tiền tệ, quản lí tiền vốn và các dự án đầu tư phát triển
theo yêu cầu của khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến cầm cố động sản,
bất động sản; đầu tư sửa chữa, nâng cấp tài sản thế chấp đã thuộc quyền sở hữu của chi
nhánh để cho thuê hoặc nhượng bán.
Như vậy, cùng với quá trình phát triển, chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ đã mở
rộng hoạt động và đối tượng khách hàng của mình, thực hiện tương đối tốt chức năng
nghiệp vụ của một Ngân hàng thương mại.
 Các nghiệp vụ chính
- Nghiệp vụ sinh lời:
+ Tín dụng: Với tư cách một tổ chức tài chính trung gian hoạt động kinh doanh
vì lợi nhuận, chi nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ thực hiện cho vay đối với các tổ chức kinh
tế, dân cư, cá nhân, các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
+ Tài trợ thương mại: Chi nhánh thực hiện cho vay các dự án đầu tư trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ, thực hiện thanh toán giúp cho các doanh nghiệp, cá nhân cả với đối tác
trong nước và nước ngoài, cả thanh toán nội tệ và ngoại tệ.
+ Huy động vốn: Cùng với nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ huy động vốn là
nghiệp vụ cơ bản của bất cứ tổ chức tín dụng nào. Chi nhánh thực hiện huy động vốn
đối với tất cả các đối tượng tạm thời có vốn nhàn rỗi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
+ Dịch vụ thanh toán: Chi nhánh thực hiện thanh toán cho khách hàngcó hoạt
động mua bán trong nước, hoạt động kinh doanh mua bán xuất nhập khẩu, mở L/C,
thanh toán kiều hối, thanh toán séc, phục vụ du lịch…
+ Dịch vụ thẻ: Dịch vụ thẻ ATM trong thời gian qua có sự phát triển về số lượng
thẻ, tuy nhiên cũng phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các chi nhánh ngân hàng trên địa
các tầng lớp dân cư được nâng lên 85%. Đến cuối năm 2007 nguồn vốn kinh doanh của
Hội sở chính đạt mức 1.014 tỷ đồng,của toàn chi nhánh đạt mức 1.976 tỷ đồng, so với
cuối năm 2006 tăng 121 tỷ đồng (tăng 6,5%).
Chất lượng công tác phân tích cơ cấu nguồn vốn được đề cao, luôn kết hợp giữa
cung ứng các dịch vụ ngân hàng với khuyến khích vật chất như: thưởng, ưu đãi lãi xuất,
cung ứng nguồn ngoại tệ, miễn giảm phí thanh toán, nên kết quả về huy động vốn của
từng đơn vị ngân hàng trong toàn chi nhánh đều đạt mức tăng trưởng khá.
Nguồn vốn huy động của chi nhánh đều tăng trưởng khá vững chắc. Năm 2007
đạt 1.274 tỷ đồng, tăng gấp 6,4 lần so với năm 1997.

Bảng 1.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động giai đoạn 2006 - 2007
(Đơn vị: Tỷ đồng)
Chỉ tiêu
2006 2007
Số tiền % so 2005 Số tiền % so 2006
+Theo loại tiền gửi 952 100 1.274 100
-VND 657 68,9 920 72,2
-Ngoại tệ 296 31,1 354 27,8
+Theo cơ cấu tiền gửi 952 100 1.274 100
-Tiền gửi các TCKT 144 15,1 333 26,1
-Tiền gửi tiết kiệm 782 82,2 866 68
-Phát hành các công cụ nợ 26 2,7 75 5,9
+Theo thời hạn 952 100 1.274 100
Ngắn hạn 548 57,6 738 57,9
Trung dài hạn 404 42,4 536 42,1
Nhận vốn điều hoà từ NHCT
Việt Nam
1.024 900


- Bằng VNĐ 1.581

87,6

1.717

88,3

- Bằng ngoại tệ 224

12,4

227

11,7

Theo loại cho vay

- Ngắn hạn 1.068

59,2

1.119

57,9


59,4

1.120

58

Tổng dư nợ 1.805

100

1.934

100

Tổng tài sản có 2.0992.750Tổng dư nợ/Tài sản có 86.03%70.32%(Nguồn: Báo cáo cân đối vốn kinh doanh tổng hợp giai đoạn 2005 – 2007-
Phòng Khách hàng doanh nghiệp)
Quy mô tín dụng ngày một tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế theo
các chương trình, các ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công

- Loại bỏ được các dự án không có tính khả thi, mặt khác không bỏ lỡ mất cơ hội
có lợi
Để công tác thẩm định đạt chất lượng tốt, người làm công tác thẩm định cần phải
đảm bảo các yêu cầu:
- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, của địa
phương, và các qui chế, luật pháp về quản lí kinh tế, quản lí đầu tư và xây dựng hiện
hành của nhà nước
- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể từng dự án, tình hình và trình
độ kinh tế chung của địa phương, đất nước và thế giới. Nắm vững tình hình sản xuất –
kinh doanh
- Biết khai thác số liệu trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp (hoặc của chủ đầu
tư), các thông tin về giá cả, thị trường để phân tích hoạt động chung của doanh nghiệp
- Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế - kĩ thuật quan trọng của dự
án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế -
kĩ thuật tổng hợp, trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm định
- Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện nội dung dự án
- Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ
- Thường xuyên hoàn thiện qui trình thẩm định, phối hợp và phát huy trí tuệ tập
thể
 Trong quá trình thẩm định, việc sử dụng các phương pháp khác nhau để tiếp cận
từ khái quát đến chi tiết dự án là không thể thiếu, vừa giúp cho việc thẩm định tiết kiệm
thời gian, công sức, chi phí vừa mang tính khoa học giúp việc thẩm định đầy đủ, toàn
diện, chính xác. Quá trình thẩm định dự án đầu tư cần sử dụng các phương pháp cơ bản:
- Thẩm định theo trình tự: Việc thẩm định dự án được tiến hành theo một trình tự
từ tổng quát đến chi tiết, kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau
- Phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu
- Phương pháp phân tích độ nhạy

Xem xét khía cạnh này tương đương với việc đánh giá thu nhập của các nhà đầu
tư là chủ sở hữu đầu tư vào dự án. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Khi đầu tư vào dự án chủ sở
hữu thu được những gì? Phần thuộc về chủ sở hữu là phần giá trị còn lại nhận được từ
dự án sau khi đã chi trả toàn bộ các khoản chi phí xuất quỹ, thanh toán hết các khoản nợ
hàng năm (bao gồm cả gốc vay và lãi vay), nộp thuế cho nhà nước và thu thanh lí tài sản
cố định cuối đời dự án. Vậy dòng tiền thu được từ dự án của chủ sở hữu là:
Lợi nhuận sau thuế (LNST) + Khấu hao (KH) + Thu thanh lí tài sản cố định - Gốc vay
hàng năm
Để có thể đánh giá được hiệu quả về mặt tài chính của dự án đứng trên quan
điểm của chủ sở hữu, cần có lãi suất hiệu quả tính theo năm mà chủ sở hữu đòi hỏi khi
đầu tư vào dự án, từ đó tính ra được giá trị hiện tại hóa của cá dòng tiền thuộc về chủ sở
hữu và so sánh với giá trị vốn chủ sở hữu đầu tư vào dự án S. Lãi suất hiệu quả đó chính
là chi phí vốn chủ sở hữu Ks. Như vậy, trong trường hợp này, Ks chính là lãi suất chiết
khấu của dự án.
Trường hợp thứ hai: Xem xét trên quan điểm tổng vốn đầu tư
Xem xét khía cạnh này tương đương với việc đánh giá thu nhập của các nhà đầu
tư vào dự án (cả chủ sở hữu và ngân hàng). Xác định khả năng sinh lời của toàn bộ vốn
đầu tư vào dự án (cả vốn chủ sở hữu và vốn vay). Câu hỏi đặt ra ở đây là: Khi đầu tư
vào dự án các nhà đầu tư thu được những gì? Khi đầu tư vào dự án, ngân hàng sẽ thu
được lãi vay và gốc vay. Vậy dòng tiền thu được từ dự án của tất cả các nhà đầu tư (cả
chủ sở hữu và ngân hàng) là:
LNST + KH + Lãi vay hàng năm + Thu hồi vốn lưu động + Thu thanh lí tài sản cố định Bảng 1.3: Dòng tiền từ dự án theo quan điểm tổng vốn đầu tư
Chỉ tiêu Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm n
Dòng tiền ra (I)

Công thức trên chính là chi phí bình quân gia quyền của vốn (WACC: Weighted
Average Cost of Capital), nhưng là chi phí bình quân gia quyền của nợ trước thuế và
vốn chủ sở hữu. Với lí luận tương tự như trường hợp quan điểm vốn chủ sở hữu, việc
chiết khấu dòng tiền từ dự án mang lại cho các nhà đầu tư sẽ được chiết khấu với lãi
suất chiết khấu được tính theo công thức (1).
- Thẩm định về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của dự án
 Tổ chức thẩm định dự án đầu tư
- Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư: người có thẩm quyền quyết định đầu tư là
người có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án trước khi quyết định đầu tư.
- Quy trình tổ chức thẩm định dự án được tiến hành theo trình tự:
+ Tiếp nhận hồ sơ dự án: Chủ đầu tư gửi hồ sơ dự án đến người quyết định đầu tư
để tổ chức thẩm định. Đơn vị đầu mối tổ chức thẩm định tiếp nhận hồ sơ dự án và lập kế
hoạch thẩm định, tổ chức thẩm định.
+ Thực hiện công việc thẩm định: Đơn vị đầu mối tổ chức thẩm định, phân tích
đánh giá dự án, đề xuất ý kiến.
+ Lập báo cáo kết quả thẩm định

Hình 1.1 : Sơ đồ quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư

Tiếp nhận
hồ sơ

Thực hiện
công việc
thẩm định

Lập báo
cáo thẩm
định
Trình người

chủ sở hữu và do đó NPV, IRR thu được là NPV, IRR của duy nhất chủ đầu tư, thì việc
lấy NPV, IRR đó làm căn cứ để khẳng định hiệu quả của dự án trên góc độ ngân hàng
(là chủ thể dự định sẽ tài trợ vốn cho dự án) sẽ không được chính xác.
- Phân tích rủi ro dự án
Nói chung, tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến dự án đều được thẩm định với mục
đích cuối cùng là đánh giá xem dự án có khả năng sinh lời và trả nợ gốc, lãi vay ngân
hàng hay không. Như vậy, nội dung thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng cũng theo
chuẩn chung, chỉ có sự khác biệt là trong quá trình thẩm định, ngân hàng sẽ tập trung
nhiều vào khía cạnh tài chính và phân tích các rủi ro có thể gặp phải của dự án.
 Tại NHCT Việt Nam, việc sử dụng các phương pháp thẩm định là tùy thuộc vào
kiến thức và kinh nghiệm của cán bộ thẩm định, không có chuẩn phương pháp đối với
việc thẩm định. Trước đây, các ngân hàng thường chỉ tuyển dụng các ứng viên có qua
đào tạo về ngân hàng và các nghiệp vụ thuộc lĩnh vực ngân hàng, cũng vì thế việc thẩm
định dự án đầu tư không thể được thực hiện bài bản, dẫn đến chất lượng thẩm định chưa
được cao, làm rủi ro tín dụng vẫn còn ở mức cao.
 Tại chi nhánh ngân hàng, trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án thuộc về giám
đốc chi nhánh. Giám đốc chi nhánh thực hiện tổ chức thẩm định và giao cho phòng
khách hàng doanh nghiệp thực hiện việc thẩm định các dự án đầu tư xin được tài trợ
vốn, và là người có quyết định cuối cùng đối với việc có đồng ý cho dự án vay vốn hay
không.
 Quy trình thẩm định chung có trình tự như ở phần 1.2.1. đã trình bày, và tại
NHCT, dù có những đặc thù riêng, công tác thẩm định cũng tuân theo quy trình chung
như vậy.

1.3. Thẩm định tài trợ vốn các dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT tỉnh Phú
Thọ giai đoạn 2006 – 2007
Bắt đầu từ năm 2007, toàn hệ thống NHCT Việt Nam thực hiện thẩm định trong

để nhanh chóng được thực hiện.
Trong khoảng thời gian nghiên cứu số liệu qua 2 năm 2006 và 2007, cả số dự án
đầu tư và số tiền cho vay đều tăng lên. Xem xét dưới các khía cạnh khác nhau sẽ cho cái
nhìn tổng quan và sâu hơn về tình hình thẩm định cho vay các dự án đầu tư tại chi
nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ.
 Theo số dự án
Qua 2 năm 2006 và 2007, chi nhánh đã thẩm định được tổng cộng 170 dự án,
trong đó chủ yếu là các dự án có quy mô nhỏ, số dự án có quy mô khoảng 3 – 5 tỷ đồng
chiếm tỷ trọng cao, có một vài dự án chỉ có quy mô dưới 1 tỷ đồng.
Bảng 1.4: Tình hình thẩm định dự án vay vốn giai đoạn 2006 - 2007
Chỉ tiêu 2006 2007
Dự án xin vay vốn 81 89
Dự án được chấp nhận

Tổng số dự án
57 62
Tổng vốn vay (nghìn đồng)
226.187.318 246.024.477
Dự án bị từ chối
24 27
Tỉ lệ dự án được chấp nhận 70,370% 69,966%
Tỉ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn/ Dư nợ cho vay
theo dự án
0,071% 2,936%
Thời gian thẩm định trung

3,440% 8,066%
Công nghiệp chế biến

Số dự án 21 19
Số tiền (nghìn đồng) 82.892.262 71.335.956
Tỉ lệ vốn vay/Tổng dư nợ cho
vay
36,648% 28,995%
Xây dựng

Số dự án 2 17
Số tiền (nghìn đồng) 6.291.006 43.230.210
Tỉ lệ vốn vay/ Tổng dư nợ cho
vay
2,781% 17,572%
Vận tải KB và TT liên lạc

Số dự án 8 5
Số tiền (nghìn đồng) 24.570.382 25.937.428
Tỉ lệ vốn vay/ Tổng dư nợ cho
vay
10,863% 10,543%
Thương mại dịch vụ

Số dự án 25 19
Số tiền (nghìn đồng) 104.903.668 85.675.783
Tỉ lệ vốn vay/ Tổng dư nợ cho
vay
46,379% 34,824%
Tổng số dự án 57 62

Tỉ lệ vốn vay/Tổng dư nợ cho
vay
5,052% 2,822%
Công ty TNHH

Số dự án 18 15
Số vốn vay (nghìn đồng) 88.341.189 63.453.062
Tỉ lệ vốn vay/Tổng dư nợ cho
vay
39,057% 25,791%
Doanh nghiệp tư nhân

Số dự án 12 23
Số vốn vay (nghìn đồng) 81.116.826 116.908.985
Tỉ lệ vốn vay/Tổng dư nợ cho
vay
35,863% 47,519%
Công ty cổ phần

Số dự án 16 17
Số vốn vay (nghìn đồng) 26.490.509 29.200.762
Tỉ lệ vốn vay/Tổng dư nợ cho
vay
11,712% 11,869%
DN có VĐT nước ngoài

Số dự án 4 2

hàng trong công tác thẩm định và quyết định cho vay. Tài sản bảo đảm giờ đây chính là
tài sản của dự án hình thành trong tương lai từ vốn vay.
Để có cái nhìn cận cảnh về hoạt động thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh
NHCT tỉnh Phú Thọ, chúng ta xem xét công tác này trên bốn khía cạnh chính trong việc
thẩm định một dự án đầu tư: tổ chức thẩm định, quy trình thẩm định, nội dung thẩm
định và phương pháp thẩm định.
1.3.2. Công tác tổ chức thẩm định và quy trình thẩm định dự án đầu tư tại chi
nhánh NHCT tỉnh Phú Thọ
 Theo quy định chung của NHCT Việt Nam
Bước 1: Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn và sao gửi hồ sơ cho Phòng quản
lí rủi ro
- Người thực hiện: Cán bộ tín dụng
- Phòng khách hàng hướng dẫn khách hàng lập, hoàn thiện hồ sơ; tiếp nhận và
kiểm tra hồ sơ vay vốn; đồng thời khai thác thông tin từ CIC (là một trung tâm tín dụng
của Ngân hàng Nhà nước) kiểm tra quan hệ tín dụng của khách hàng tại các tổ chức tín
dụng đến thời điểm gần nhất; gửi hồ sơ cho phòng quản lí rủi ro.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Phòng quản lí rủi ro
xem xét hồ sơ và đề nghị Phòng khách hàng bổ sung các hồ sơ, thông tin liên quan còn
thiếu. Khi đó, phòng khách hàng làm việc với khách hàng để yêu cầu bổ sung hồ sơ và
giải thích các vấn đề, thông tin còn chưa rõ.
Bước 2: Thẩm định/tái thẩm định khách hàng vay vốn, dự án đầu tư, biện pháp bảo đảm
tiền vay và trình duyệt tờ trình thẩm định/tái thẩm định
- Thẩm định/tái thẩm định
Người thực hiện: Cán bộ tín dụng, lãnh đạo phòng khách hàng
Căn cứ thẩm định/tái thẩm định: Căn cứ các tài liệu do khách hàng, phòng giao
dịch, điểm giao dịch cung cấp, thông tin thu thập được trong quá trình phỏng vấn, kiểm
tra thực tế tại nơi sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn và các thông tin từ các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status