TIỂU LUẬN: Báo cáo tổng hợp tại nhà máy xi măng Bỉm Sơn doc - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Báo cáo tổng hợp tại nhà
máy xi măng Bỉm Sơn

I Sự hình thành và phát triển của công ty:

Ngay từ những năm cuối thập kỉ 60, khi mà cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước
của chúng ta đang đi vào giai đoạn ác liệt nhất, Đảng và nhà nước đã đề cập tới
những chiến lược xây dựng đất nước ngay sau khi đất nước thống nhất. Cũng
trong thời gian này, với sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô, Đảng và nhà

máy có được tập thể đoàn kết thống nhất cao và sự điều hành sát, đúng của ban
lãnh đạo nhà máy. Ngoài ra nhà máy còn có sự hợp tác, giúp đỡ của các chuyên
gia Liên Xô.
Do vậy, trong giai đoạn đầu, Nhà máy đã vượt qua được những thử thách, khó
khăn để hoàn thành kế hoạch sản xuất được nhà nước giao.
Năm 1982 nhà máy đã sản xuất và tiêu thụ được 1 51438 tấn xi măng rời và bao.
Năm 1983 đạt 292 485 tấn , tăng 93% so với năm 1982
Năm 1984 nhà máy đã hoàn thành vượt mức kế hoạch, kết quả sản xuất và tiêu
thụ 459 022 tấn xi măng đảm bảo chất lượng và trọng lượng, đạt
101,1 % kế hoạch, tăng 55 % kế hoạch so với năm 1983
Năm 1985 nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất và tiêu thụ 400 000 tấn xi
măng, kết quả năm 1985 nhà máy đã sản xuất và tiêu thụ được 426 828 tấn, đạt
103,7 % kế hoạch. Đặc biệt nhà máy đã khánh thành toàn bộ dây chuyền và sản
xuất được tấn xi măng thứ một triệu.
Từ năm 1986 đến năm 1990, đây là giai đoạn Nhà máy chuyển dần từ cơ chế quản
lý cũ sang cơ chế quản lý hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, dưới ánh sáng
của Nghị quyết đại hội Đảng lầnthứ 6 mà tinh thần cơ bản là đổi mới tư duy, nhất
là tư duy kinh tế.
Đối với nhà máy xi măng Bỉm Sơn thì đây cũng là thời kỳ phải vượt qua những
thử thách khó khăn mới như: Các dây chuyền sản xuất thiếu nguyên liệu, thiếu phụ
tùng thay thế, điện năng cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, ý thức tổ
chức kỷ luật lao động của công nhân còn lỏng lẻo, tư tưỏng bảo thủ trì trệ, tâm lý
bao cấp còn nặng trong một số cán bộ công nhân viên. Công tác tổ chức vộ máy
cán bộ còn chưa phù hợp với cơ chế mới.
Đầu năm 1987 xảy ra vụ " chất lượng xi măng tại phòng thí nghiệm KCS " gây tư
tưởng hoang mang lo lắng đối với một số cán với chủ chốt của nhà máy. Việc tiêu
thụ sản phẩm xi măng luôn bị ách tắc, bị động. Những khó khăn trên càn trực tiếp
ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, có lúc tưởng như không trụ nổi.
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ" năng
suất lao động của công nhân năm 1987 là 289 tấn/ người/ năm đã tăng so với
246,79 tấn của năm 1986 và năm 1987 nhà máy đã sản xuất và tiêu thụ được
651.279 tấn xi măng, tăng 14,4 % so với 1986.
Kết quả của nhà máy năm 1987 bước đầu đã khẳng định, chứng minh cho sự đúng
đắn của việc hạch toán theo cơ chế quản lý mới.
Tình hình quản lý, sản xuất xi măng của nhà máy bước sang năm 1988 có những
thuận lợi mới hết sức căn bản, đó là lần đầu tiên Nhà máy chính thức thực hiện
quyết định 217/HĐBT . Quyết định này đã cho phép lãnh đạo , công nhân chủ
động quyết định toàn bộ hoạt động của nhà máy. Giám đốc thực hiện quyền điều
hành nhà máy theo chế độ thủ trưởng trong việc quản lý, thực hiện kế hoạch sản
xuất và chăm lo đời sống cho công nhân viên chức trong toàn bộ nhà máy.
Bình quân nộp ngân sách là 6,17 triệu đồng 1 người/ năm.
Bước sang năm 1989, kế hoạch chỉ tiêu pháp lệnh được Bộ xây dựng và liên hiệp
các xí nghiệp xi măng Việt nam giao cho nhà máy sản xuất và tiêu thụ 75 vạn tấn
xi măng và clinker thương phẩm. Nhà máy đã thực hiện được 820684 tấn , vượt
chỉ tiêu kế hoạch hơn một trăm ngàn tấn.
Phát huy truyền thống thi đua lao động sản xuất, vượt lên những khó khăn, năm
1990 nhà máy tiếp tục hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra: sản lượng Clinker đạt
998 134 tấn; sản lượng nghiền xi măng 857 699 tấn, đã tiêu thụ được 1 042 774
tấn, doanh thu 213 178 triệu đồng, nộp ngân sách nhà nước 62 951 triệu đồng,
Trong thời kỳ 1991- 1992 ban giám đốc đã xác định và nhận thức đúng đắn sự tác
động của các chính sách, cơ chế quản lý mới, kết hợp với việc nghiên cứu, quán
triệt chủ trương đổi mới quản lý của Đảng và nhà nước được tổ chức thực hiện ở
doanh nghiệp nhà nước; đặc biệt là các Nghị quyết trung ương 6, 7 Đây là thời kỳ
chịu tác động khủng hoảng chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu và
Liên Xô vào nước ta nói chung, trực tiếp tác động vào nhà máy xi măng Bỉm Sơn

Năm 1995 sản xuất và tiêu thụ 12 540 143 tấn, bằng 100,2 % kế hoạch
Giai đoạn 1993-1995, mà đỉnh cao là năm 1995 đã đánh dấu bước phát triển toàn
diện của công ty xi măng Bỉm Sơn trong chặng đường 15 năm từ ngày thành lập.
Trải qua khó khăn thử thách với những bước thăng trầm của thời gian, càng khẳng
định sức mạnh trong mỗi người thợ xi măng cùng tập thể cán bộ công nhân viên,
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và ban giám đốc công ty, đã vượt lên chính mình
làm chủ được dây chuyền sản xuất; sản lượng đã đạt và vượt công suất thiết kế,
chất lượng sảm phẩm được thị trường trong và ngoài nước tin dùng. Thực hiện
nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước đầy đủ, đúng quy định, lợi nhuận của công ty
ngày càng tăng, đảm bảo việc làm, đời sống người lao động được cải thiện.
Giai đoạn 1996-1999:
Năm 1996, toàn ngành xi măng Việt nam nói chung và công ty xi măng Bỉm Sơn
nói riêng gặp rất nhiều khó khăn như thời tiết diễn biến khắc nghiệt, thiên tai mưa
bão nhiều và lớn trên diện rộng ở cả ba miền; hậu quả sau cơn sốt xi măng cuối
năm 1995, chuyển giai đoạn "nóng" sang "lạnh", giá xi măng biến động, giảm liên
tục, do có sự cạnh tranh của xi măng nhập ngoại và sản phẩm xi măng của liên
doanh nước ngoài. Nhu cầu tiêu thụ xi măng trên thị trường rất chậm và thất
thường, nhất là 3 quý đầu năm.
Sản lượng sản phẩm sản xuất và lưu thông đạt 1 231 426 tấn, bằng100,8 % kế
hoạch và bằng 98% so với năm 1995, nộp ngân sách đạt 148 536 triệu đồng bằng
102,83 % kế hoạch và bằng 77 % so với năm 1995.
Bước vào năm 1997, cũng là năm đầu tiên công ty xi măng Bỉm Sơn thực hiện
nghị định 59 CP của chính phủ về quản lý tài chính trong doanh nghiệp nhà nước,
thu nhập của cán bộ công nhân viên chức được giám sát, nguồn phúc lợi khen
thưởng cạn kiệt. Điều đó đã tác động đến tư tưởng và đời sống của cán bộ công
nhân. Tuy nhiên với sự cố gắng của lãnh đạo công ty, cán bộ công nhân ở công ty
đã khắc phục được khó khăn từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, nên đã thực

vòng/ năm góp phần hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm sản xuất liên tục, ổn định kể
cả trong dịp tết và các ngày lễ lớn.
Bước vào thực hiện mục tiêu kế hoạch năm 1998, tuy có nhiều thuận lợi cơ bản,
song ngoài những khó khăn của những năm trước chưa được khắc phục công ty đã
chịu ảnh hưởng do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các nước trong khu vực
tác động vào nước ta. Nhiều công trình đầu tư xây dựng bị cắt giảm hoặc dãn tiến
độ làm giảm nhu cầu tiêu dùng xi măng. ở thị trường miền Bắc sản lượng xi măng
" cung " lớn hơn " cầu " rất nhiều, do có một số nhà máy xi măng mới ra đời như
Chinfon, Luraxi nên thị phần của công ty bị giảm đi. Mặt khác các đơn vị này
bán xi măng với giá thấp, làm cho tính cạnh tranh trong kinh doanh mặt hàng xi
măng càng thêm quyết liệt. Do thị phần bị thu hẹp nên năm 1998, sản phẩm tiêu
thụ của công ty bị giảm 59 610 tấn so với năm 1997.
Ngoài ra, công nghệ sản xuất của công ty lạc hậu, tiếp tục xuống cấp, tiêu hao vật
chất nhiều, giá một số loại vật tư chủ yếu tăng làm cho chi phí giá thành tăng,
trong đó giá bán xi măng lại luôn bị giảm.
Trước những khó khăn trên và để thực hiện thắng lợi ba mục tiêu trên, công ty đã
có nhiều giải pháp sát, đúng như: Tập trung đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, có cơ chế
linh hoạt tạo mọi điều kiện để phục vụ tốt khách hàng, gữ vững uy tín chất lượng
sản phẩm. Ngay từ đầu năm lãnh đạo công ty đã đề ra chủ trương " thắt lưng buộc
bụng- thực hành tiết kiệm " được cán bộ công nhân viên trong công ty hưởng ứng.
Sắp xếp lại tổ chức lao động ở một số bộ phận nâng cao năng suất lao động, tiết
kiệm năng lượng, hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời tăng cường công tác bảo vệ,
chống thất thoát tài sản, giữ gìn an ninh trật tự trong đơn vị. Tiếp tục đẩy mạnh
phong trào thi đua, đảm bảo chế độ lao động.
Kết quả là trong năm 1998, công ty đã đạt sản lượng sản xuất 1 156 755 tấn và
tiêu thụ 1 219 527 tấn.
Việc công nghệ thiết bị của công ty lạc hậu nên vấn đề đổi mới công nghệ hiện

và thi công các công trình đầu tư xây dựng. Năm 1999, công ty đã sản xuất và tiêu
thụ 1 119 000 tấn sản phẩm, bằng 107 % kế hoạch; thực hiện doanh thu 757 945
triệu đồng, nộp ngân sách86 317 triệu. Công ty là đơn vị được Cục thuế tỉnh
Thanh Hoá khen thưởng về việc chấp hành nộp ngân sách đầy đủ theo luật định,
lợi nhuận đạt 81 240 triệu đồng cao hơn so với năm 1998 thu nhập của cán bộ
công nhân viên tiếp tục được giữ ổn định ở mức 1 triệu đồng/người / tháng. Kết
quả đó đã tạo thêm niềm tin tưởng, sự phấn khởi cho tập thêt cán bộ công nhân
viên công ty.
Là một doanh nghiệp nhà nước, từ năm 1994 đến 1999, công ty luôn là đơn vị
gương mẫu, chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
nhà nước. Công ty thực hiện đầy đủ các nghĩa cụ với địa phương như: quỹ xây
dựng vùng kinh tế mới, giao thông nông thôn phong trào xây dựng nhà tình
nghĩa. Đồng thời với khả năng cho phép của mình, công ty đã dùng quỹ phúc lợi
hỗ trợ cho các địa phương xây dựng các cơ sở hạ tầng như trường học, đường giao
thông, các công trình phúc lợi xã hội ; ủng hộ nhân dân Cuba và đồng bào lũ lụt
trên một tỷ đồng
II Cơ cấu tổ chức của công ty:
Ngay từ ngày đầu, cùng với quyết định thành lập nhà máy xi măng Bỉm Sơn, bộ
cũng đã ra quyết định thành lập bộ máy lãnh đạo của nhà máy; ban giám đốc gồm
có Giám đốc và bộ phận giúp việc là một phó giám đốc cùng 4 phòng chức năng là
phòng kế hoạch kỹ thuật, phòng tài vụ, phòng tổ chức và văn phòng nhà máy. Khi
nhà máy đi vào sản xuất thì được bổ sung thêm bốn phó giám đốc.
Ngoài ra giúp việc cho ban giám đốc còn có 9 phòng ban gồm :
Phòng kế hoạch cung tiền
Phòng kỹ thuật sản xuất
Phòng kỹ thuật cơ điện
Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm

nghiệp Đời sống có nhiệm vụ cụ thể nhằm giúp ban giám đốc chăm lo, phục vụ
đời sống vật chất cũng như tinh thần cho cán bộ , công nhân của nhà máy.
Ngoài ra, để bảo vệ nhà máy, bảo vệ sản xuất, giữ gìn trật tự an ninh và củng cố
quốc phòng trong tinh hình mới, lực lượng bảo vệ quân sự của công ty luôn được
củng cố và tăng cường, làm tròn trách nhiệm giữ gìn trật tự an ninh, ngăn chặn các
hiện tượng tiêu cực, giữ gìn bảo vệ vật tư, sản phẩm, bảo đảm ổn định sản xuất.
Công ty luôn trang bị mới cho công tác bảo vệ. Xây dựng và bổ sung các quy chế
nội bộ về công tác bảo vệ chống gian lận, móc nối, đồng thời phát giác, ngăn chặn
có hiệu quả những hành vi tiêu cực ngoài xã hội cũng như trong nội bộ công ty.
Tiểu đoàn tự vệ công ty luôn được kiện toàn, tổ chức tốt về số lượng, chất lượng
làm nòng cốt trong công tác bảo cệ sản xuất ở đơn vị.
Mặt khác đến năm 2001, công ty đã được cấp chứng chỉ ISO 9002 về quản lý chất
lượng, do đó cơ cấu tổ chức đã được sắp xếp lại theo sơ đồ:
Đứng đầu các phòng, xưởng là trưởng phòng, và quản đốc phân xưởng.
Kể từ ngày thành lập đến nay, cán bộ công nhân viên của công ty cũng không
ngừng được nâng lên cả về mặt số và chất lượng.

Đội ngũ cán bộ công nhân viên công ty xi măng Bỉm Sơn (1980 -2000)

1980 1981 1985 1990 1995 1999 2000
Tổng số
CBCNV
907 1021 2779 2781 3351 3135 3135
Trình độ
đại học
79 81 180 179 237 227
Trung

Số liệu chi tiết được thể hiện ở bảng sau:

Năm Sản lượng
Clinker
Sản lượng
tiêu thụ
Doanh thu Lợi nhuận Nộp
NSNN
1982 180 613 151 438
1983 287 112 292 485
1984 430 483 459 022
1985 411 022 426 828
1986 464 204 489 122
1987 536 994 561 279
1988 714 053 721 669
1989 783 070 820 684
1990 998 134 1 042 774 213 178 33 080 62 951
1991 919 712 1 012 390 327 432 45 973 63 817
1992 928 598 1 070 734 480 593 54 047 139 286
1993 1 000 013 1 219 679 551 522 67 034 173 728
1994 944 590 1 285 043 632 495 105 702 225 710
1995 952 197 1 254 143 726 444 98 175 190 974
1996 943 040 1 231 426 833 638 46 747 148 537
1997 966 382 1 247 217 907 016 34 772 118 924
1998 1 024 662 1 219 527 958 032 81 116 123 726
1999 926 740 1 119 000 757 945 81240 127 997
Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status