TIỂU LUẬN: Báo cáo thực tập tại công ty Xi Măng Hoàng Thạch - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Báo cáo thực tập tại công ty
Xi Măng Hoàng Thạch
I.Quá trình hình thành và phát triển của công ty Xi Măng Hoàng Thạch:
Cách đây 30 năm, nước ta vốn là một nước công nghiệp chậm phát triển lại vừa trải
qua cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, ác liệt, đời sống của nhân dân còn nhiều khó
khăn. Công nghiệp, nông nghiệp còn lạc hậu, quy mô nhỏ bé và thiếu thốn về cơ sở
vật chất. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển
kinh tế xã hội trong đó sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất xi măng.
Ngày 15/12/1976, Phó Thủ Tướng Chính Phủ Đỗ Mười ký quyết định 474/TTg
“phê chuẩn nhiệm vụ thiết kế nhà máy Xi Măng Hoàng Thạch” (cho phép xây dựng
nhà máy) với tên gọi: Nhà Máy Xi Măng Hoàng Thạch. Địa điểm xây dựng tại thôn
Hoàng Thạch (xã Minh tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) và thôn Vĩnh Tuy
(xã Vĩnh Khê, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
Hơn 3 năm, kể từ ngày Thủ Tướng Chính Phủ ra quyết định phê chuẩn nhiệm vụ
thiết kế, xây dựng Nhà Máy Xi măng Hoàng Thạch. Các đơn vị tham gia thi công

trên địa bàn 6 tỉnh phía Bắc và thủ đô Hà Nội.
Đi đôi với việc triển khai thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch được giao, Đảng bộ và Ban
lãnh đạo công ty còn triển khai thực hiện chỉ thị số 227/XMVN-ĐMQLDN của tổng
công ty Xi măng Việt Nam ngày 02/04/1999 về việc cổ phần hoá xưởng may bao.
Ngày 08/01/1999, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 04/1999/QĐ-TTg về
việc chuyển xưởng May Bao thuộc công ty xi măng Hoàng Thạch thành công ty Cổ
phần bao bì Hoàng Thạch, theo đề nghị của Hội đồng quản trị Tổng công ty xi măng
Việt Nam. Với tổng số vốn điều lệ là 6 tỷ đồng, trong đó cổ phần Nhà nước là 1,21
tỷ đồng.
Sau khi tiến hành cổ phần hoá xưởng may bao thuộc công ty Xi măng Hoàng Thạch
thành công ty cổ phần bao bì Hoàng Thạch, được sự chỉ đạo trực tiếp cuả Tổng công
ty xi măng Việt Nam, công ty xi măng Hoàng Thạch tiếp tục cổ phần hoá Đoàn vận
tải thuỷ thành công ty cổ phần thương mại-dịch vụ-vận tải với tổng số vốn điều lệ
trên 6 tỷ đồng trong đó cổ phần Nhà nước 3,354 tỷ đồng.
Căn cứ Nghị quyết số 29/NQ-ĐU, ngày 18/02/2002 của Đảng uỷ công ty xi măng
Hoàng Thạch về công tác tổ chức công ty cổ phần thương mại-dịch vụ-vận tải chính
thức được thành lập và đi vào hoạt động.
Sau 25 năm sản xuất và kinh doanh, công ty xi măng Hoàng Thạch đã thực sự
trưởng thành. Giai đoạn bắt đầu sản xuất, công ty có 979 cán bộ công nhân viên,
trong đó Đại học 86 người, Trung học 89 người, công nhân kỹ thuật 664 người, đến
nay công ty có 2802 cán bộ công nhân viên, trong đó Đại học trên 477 người, công
nhân kỹ thuật tay nghề từ bậc 4 trở lên là 1656 người. Với đội ngũ công nhân viên
chức tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, nâng cao trình độ đã vươn lên làm chủ thiết
bị công nghệ, công tác sản xuất ngày càng được chủ động đảm bảo vận hành cả 2
dây chuyền an toàn hiệu quả sản lượng năm sau cao hơn năm trước. Mỗi năm công
ty sản xuất ra hàng triệu tấn xi măng có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn ISO 9001 và
ISO 14001 được các cơ quan chức năng trong nước và quốc tế thừa nhận.

hoạch khai thác, đảm bảo chất lượng ổn định. Sau đó được vận chuyển tới trạm đập
nghiền và đưa vào kho chứa đồng nhất.
Quặng sắt và quặng bô xít được mua ngoài, vận chuyển bằng đường sông, tập kết
vào kho.
b.Giai đoạn nghiền liệu và đồng nhất:
Đá vôi, đá sét cùng các nguyên liệu điều chỉnh được đưa vào máy nghiền liệu qua hệ
thống cân cấp liệu tự động theo tỷ lệ kỹ thuật cho phép. Bột liệu sau khi nghiền mịn
được đưa tới hệ thống si lô, các si lô này vừa có tác dụng để chứa đồng thời còn để
đồng nhất bột liệu.
c.Giai đoạn nung Clinker:
Nhiên liệu để nung Clinker là dầu FO và than cám 3B. Phần than nguyên khai có
chất bốc cao được đưa vào máy sấy khô và chuyển về máy nghiền, nghiền thành bột
than mịn sau đó bằng hệ thống bơm khí nén về các đường ống dẫn chuyền về két
chứa ở lò nung, nó được phun vào lò dưới dạng bột khí linh động nhiều hay ít tuỳ
theo yêu cầu kỹ thuật của từng giờ. Dầu FO chỉ dùng để đốt sấy lò khi lò mới trở lại
hoạt động sau một thời gian dừng sửa chữa bảo dưỡng, còn sau khi lò hoạt động ổn
định người ta chỉ dùng than cho rẻ.
Bột liệu từ các si lô chứa trước khi cho và lò được đưa qua hệ thống sấy nóng đến
nhiệt độ 500-600
o
C mới đưa vào lò nung luyện vừa để tiết kiệm thời gian, vừa tiết
kiệm được than dầu. Khí nóng dùng để sấy bột liệu được tận dụng từ khí thải trong
lò ra của quá trình nung luyện trước đó. Bột liệu được nung đến vê viên nhờ các
vòng quay của lò và được vận chuyển, làm lạnh, rồi đưa tới si lô chứa Clinker. Silô
này vừa có tác dụng chứa, vừa có tác dụng ủ cho clinker đạt được các khoáng quy
định, vừa làm nguội clinker.
c.Giai đoạn nghiền xi măng:


Gần 300 thông số công nghệ như: nhiệt độ, áp suất, lưu lượng, vòng quay, tỷ lệ các
thành phần nguyên liệu, dòng điện, điện áp…được liên tục chỉ báo và ghi chép một
cách tự động tại phòng điều khiển nhờ hệ thống các đồng hồ tự ghi, giúp người vận
hành theo dõi, kiểm tra và xử lý khi cần thiết. Ngoài ra tại đây còn có hệ thống các
sơ đồ công nghệ được gắn đèn tín hiệu thể hiện tình trạng hoạt động của từng thiết bị
cùng với hệ thống Camera và truyền hình công nghiệp quan sát được trên 10 vị trí
trọng yếu của dây chuyền sản xuất giúp người vận hành phát hiện các sự cố và phối
hợp xử lý kịp thời.
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT XI MĂNG
GIAI ĐOẠN 1: SẢN XUẤT BỘT LIỆU

GIAI ĐOẠN 2:SẢN XUẤT CLINKER
Đất sét
Đập búa Cầu trục

Đập búa Đá vôi
Kho đồng nhất sơ bộ
đá vôi và đ
ất sét


ấy nghiền liệu

Si lô ch
ứa Clinker

S
ấy dầu

C
ấp liệu vào lò

Lò nung Clinker

Si lô đ
ồng nhất

Sà lan
d
ầu FO

Bể dầu
FO

Cảng
nh
ập


xilô xi măng
Nghiền xi măng
máy đóng bao
cảng
nhập
Đứng đầu bộ máy quản lý là Giám đốc công ty: Giám đốc công ty do tổng giám đốc
bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng Giám Đốc. Giám
đốc là đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước tổng công ty và
pháp luật về điều hành hoạt động của công ty, Giám đốc có quyền điều hành cao
nhất trong công ty.
Giúp việc Giám đốc trong công tác quản lý là các phó giám đốc phụ trách theo lĩnh
vực công tác được phân công bao gồm:
-Phó giám đốc khai thác mỏ: chịu trách nhiệm quản lý chuyên sau kỹ thuật khai thác
đá, vận tải và tổ chức chỉ đạo công tác kỹ thuật, nghiệp vụ đối với xưởng xe máy,
xưởng khai thác đá và phòng kỹ thuật mỏ.
-Phó giám đốc cơ điện: Chịu trách nhiệm quản lý chuyên sâu về cơ khí, điện-điện tử,
tự động hoá và tiến bộ kỹ thuật để tổ chức sửa chữa và bảo dưỡng chế tạo, thay thế,
vận hành các thiết bị trong dây chuyền sản xuất xi măng và các thiết bị khác đảm
bảo thiết bị hoạt động ổn định, liên tục, đồng bộ, chất lượng tốt. Tổ chức chỉ đạo
công tác kỹ thuật nghiệp vụ đối với xưởng cơ khí, xưởng điện-điện tử, phòng kỹ
thuật cơ điện.
-Phó giám đốc sản xuất: chịu trách nhiệm quản lý chuyên sâu về công nghệ, tiến bộ
kỹ thuật để tổ chức sản xuất clinker, xi măng từ các nguyên liệu đá vôi, đá sét, xỉ,
thạch cao, than dầu và các loại vật tư khác, đảm bảo chất lượng sản phẩm nhằm phục
vụ nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức chỉ
đạo công tác kỹ thuật nghiệp vụ đối với xưởng xi măng, xưởng đóng bao, xưởng
nguyên liệu, phòng kỹ thuật sản xuất.

+phòng kế hoạch: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, theo dõi thực hiện kế hoạch cung
ứng vật tư, sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm; tiến hành hợp đồng kinh tế với
các chủ thể ngoài công ty. Đồng thời tham mưu cho ban giam đốc chỉ đạo kịp thời
các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn với hiệu quả cao nhất.
+phòng vật tư: có nhiệm vụ mua sắm vật tư và tiếp nhận nguyên, nhiên, vật liệu
phục vụ sản xuất. Tham gia tư vấn cho ban giám đốc về lĩnh vực vật tư, phụ tùng,
nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào.
+ phòng hành chính quản trị: có chức năng quản lý nghiệp vự và tài sản thuộc lĩnh
vực hành chính, văn thư, quản trị dịch vụ và các loại phương tiện vận tải đưa đón
cán bộ lãnh đạo đi làm việc, công tác.
+Phòng kế toán: Có chức năng quản lý tài chính và giám sát mọi hoạt động kinh tế
tài chính trong công ty, tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán-thống kê-
thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế tài chính của nhà nước tại công ty.
+Phòng đời sống: có chức năng quản lý và tổ chức các nhà ăn phục vụ cho 2 bữa ăn
chính của công nhân viên ở tập thể, các bữa ăn giữa ca, bữa ăn của khách đảm bảo
tiêu chuẩn, chất lượng, vệ sinh sạch sẽ, đồng thời quản lý các nhà trẻ mẫu giáo, nuôi
dạy trẻ.
+phòng y tế: có chức năng nhiệm vụ quản lý chăm sóc sức khoẻ, tổ chức phòng
bệnh, phòng dịch, vệ sinh môi trường, cấp cứu, khám bệnh và điều trị cho cán bộ,
công nhân theo khả năng chuyên môn và phân cấp của ngành y tế, phục vụ tốt việc
điều trị tại chỗ nhằm duy trì sức khoẻ cho toàn thể công nhân viên.
+Phòng điều khiển trung tâm: là trung tâm điều khiển toàn bộ máy móc và hoạt động
của nhà máy bằng hệ thống máy tính và các máy móc tự động hoá.
+Phòng thí nghiệm-KCS: chịu trách nhiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm xuất ra và
nguyên liệu đầu vào.
+Phòng kinh doanh: có chức năng nhiệm vụ tổ chức, điều tra, nghiên cứu thị trường,
chịu trách nhiệm quản lý và tổ chức mọi hoạt động kinh doanh tại công ty.

III. Thực trạng hoạt động của công ty Xi Măng Hoàng Thạch đến năm 2005:
Công ty Xi Măng Hoàng Thạch đã và đang hoạt động được 25 năm, trong đó
năm 2005 là năm thứ 22 công ty sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm theo chỉ tiêu
định hướng của nhà nước. Năm 2005 là năm kỷ niệm 25 năm ngày thành lập công ty
và đón nhận danh hiệu anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới…đồng thời vì mục
tiêu cùng với các đơn vị thành viên trong tổng công ty xi măng giữ ổn định chất
lượng, đáp ứng đủ và nhằm ổn định thị trường tiêu thụ xi măng trong nước, tình hình
hoạt động của công ty diễn ra như sau:
1.Tình hình sản xuất-kinh doanh đến năm 2005:
Khoảng 10 năm trở lại đây, công ty luôn sản xuất vượt mức kế hoạch đặt ra, năm sau
cao hơn năm trước. Công tác lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch luôn được chú
trọng. Để đảm bảo hiệu quả sản xuất, cùng với kế hoạch sản xuất tổng thể các bản kế
hoạch cụ thể về các mảng như: xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn, vận chuyển, mua sảm
khăn cho sản xuất của công ty như: đề tài sử dụng quặng sắt Lạng Sơn, đề tài pha
phụ gia từ 15%- 20% trong sản xuất xi măng PCB40, đề tài nghiên cứu chế tạo lắp
đặt lò đốt phụ cho nghiền than K2…
Về sản phẩm gạch chịu lửa vẫn chưa mở rộng được thị trường tiêu thụ, các công ty
thành viên trong tổng công ty chưa quen sử dụng gạch nội và giá thành sản xuất cao
do giá nguyên vật liệu đầu vào cao, nên sản lượng tiêu thụ của nhà máy vật liệu chịu
lửa kiềm tính chưa cao. Nhưng nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính vẫn khắc phục
những khó khăn do phải dừng sản xuất nhiều ngày để sửa chữa và những khó khăn
do nguồn nguyên vật liệu cung cấp cho sản xuất để tiếp tục sản xuất, sản lượng vật
liệu chịu lửa sản xuất và tiêu thụ đều đạt vượt kế hoạch đề ra.
b. về sửa chữa thiết bị:
Trong năm 2005, công ty đã quản lý tốt khâu sửa chữa thiết bị từ việc xây dựng kế
hoạch đến tổ chức thực hiện đúng qui trình , phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để
rút ngắn thời gian, đảm bảo chất lượng và tiết kiệm vật tư trong sửa chữa. Khi dừng
lò sửa chữa với khối lượng công việc lớn, công ty đã chủ động kết hợp với công ty
lắp máy và xây dựng 69.3, 69.1, công ty xây dựng 201 và các đơn vị gia công chế
tạo phụ tùng để tiến hành sửa chữa. Vì vậy các đợt dừng sửa chữa đều đảm bảo yêu
cầu kỹ thuật, chất lượng và đúng tiến độ đề ra. Chủ động duy trì công tác vệ sinh,
bảo dưỡng góp phần đưa thiết bị hoạt động ngày một ổn định hơn, dài ngày hơn.
Ngoài việc sửa chữa thiết bị trong dây chuyền sản xuất chính, công ty thường xuyên
quan tâm kết hợp sửa chữa đồng thời các công trình kiến trúc, các thiết bị xe máy,
khai thác mỏ theo đúng kế hoạch tổng công ty giao góp phần ổn định sản xuất.
c.công tác vật tư, phụ tùng:
Căn cứ vào kế hoạch sản xuất hàng tháng, tiến độ và thời gian sửa chữa lớn thiết bị,
công ty đã đảm bảo đầy đủ nguyên, nhiên vật liệu, vật tư, phụ tùng cho sản xuất và
sửa chữa thiết bị. Chất lượng vật tư, phụ tùng, nguyên nhiên vật liệu nhập về được
kiểm tra chặt chẽ, đảm bảo yêu cầu. Công tác phụ tùng luôn đợc quan tâm theo dõi
chặt chẽ, các đơn hàng phụ tùng nhập ngoại được rà xét và triển khai sớm kịp thời giá trị đầu tư xây dựng là: 175,545 tỷ đồng, theo kế hoạch đã được tổng công ty
duyệt là 16,723 tỷ đồng, thực hiện cả năm 2005 là: 14,726 tỷ đồng, bằng 88,058% kế
hoạch tổng công ty giao.
Trong đó: Dây chuyền I và các công trình đồng bộ đạt 4,328 tỷ, bằng 82,28% KH;
dây chuyền II đạt 9,258 tỷ, bằng 89,6% KH; dây chuyền II đạt 1,140 tỷ đồng, bằng
100% KH tổng công ty giao.
Trong năm 2005, công ty tiếp tục triển khai thi công các công trình chuyển tiếp từ
năm 2004 sang và đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng các công trình như: cải
tạo mương thoát nước từ cổng chính nhà máy đến công trình 19.1, nhà làm việc
xưởng xi măng, gói thầu mua sắm thiết bị số 5 và số 7 cho xưởng khai thác. Đồng
thời công ty tiếp tục đôn đốc các công trình đang thi công dở dang như: nhà xưởng
điện-điện tử, lọc bụi 48.3 đảm bảo tiến độ bàn giao đưa vào sử dụng, tiếp tục giải
quyết các vướng mắc và hoàn chỉnh thiết kế, dự toán bổ xung kiến thiết cơ bản mỏ
Áng Dâu để bàn giao đưa vào sử dụng từ đầu năm 2006.
Dây chuyền Hoàng Thạch 3 về cơ bản đã xét thầu xong gói thầu thiết bị chính giai
đoạn 2.
f. công tác tổ chức, đào tạo và lao động tiền lương:
*Công tác tổ chức: Công ty đã thành lập tổ giám sát hợp đồng lixăng thuộc phòng
kinh doanh công ty từ tháng1/2005; chuyển giao nhiệm vụ phòng xây dựng cơ bản
và một phần của ban quản lý công trình cho các phòng kế hoạch, phòng kĩ thuật cơ
điện, phòng kĩ thuật sản xuất, phòng khai thác mỏ từ 01/6/2005; quyết định đổi tên
xưởng xây dựng cơ bản nội bộ thành xưởng sửa chữa công trình. Đã sắp xếp, điều
động, đề bạt, ổn định tổ chức phù hợp với tình hình hoạt động của cả 2 dây chuyền
như:
+Bổ nhiệm mới 16 cán bộ gồm: 01 quản đốc; 04 phó quản đốc; 04 phó phòng ban
chi nhánh; 01 trưởng chi nhánh; 06 trưởng ca; thực hiện điều động luân chuyển 04
cán bộ. Bổ nhiệm lại 31 trưởng phó phòng ban chi nhánh, quản đốc và phó quản đốc;
12 trưởng ca.

trì lò chạy dài ngày với năng suất cao. Nên năm 2005 giá trị tiết kiệm dự tính đạt
được khoảng 30 tỷ đồng.
2. Những vấn đề lớn còn tồn tại:
Trong thời gian hoạt động, công ty đã đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng
kiểm điểm vào từng việc còn có những thiết sót tồn tại cần được khắc phục như sau:
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế-xã hội của đất nước tương đối ổn
định , tốc độ đầu tư xây dựng tăng mạnh dẫn đến nhu cầu tiêu thụ xi măng liên tục
tăng. Trong khi đó điều kiện thiết bị dây chuyền 1 sau thời gian hoạt động trên 20
năm đã xuống cấp và nhiều thời điểm phải hoạt động trên công suất thiết kế mới đáp
ứng được nhu cầu tiêu thụ của thị trường nên đã gây áp lực cho tình hình sản xuất
của công ty. Hơn thế nữa, đợt hạn hán trong năm 2005 vừa qua dẫn đến việc cung
cấp điện không ổn định, điều đó đã gây khó khăn đáng kể cho tình hình sản xuất của
công ty. Cùng lúc đó, trên thị trường giá vật tư đầu vào cho sản xuất liên tục tăng
(xăng dầu, sắt thép, vỏ bao…); Trong điều kiện kinh tế cạnh tranh hiện nay, thực
hiện chỉ đạo của tổng công ty, về việc hỗ trợ các đơn vị thành viên trong tổng công
ty đã làm tăng giá thành sản phẩm sản xuất của công ty nhưng theo chỉ đạo của
chính phủ thì sản phẩm xi măng vẫn không được tăng giá nên đã gây ảnh hưởng
không nhỏ đến một số chỉ tiêu tài chính của công ty.
Do là một thành viên trong tổng công ty xi măng Việt Nam nên vùng tiêu thụ sản
phẩm của công ty được tổng công ty chỉ định trước, chính điều này đã làm hạn chế
tính chủ động của công ty. Hoạt động tiêu thụ của công ty xi măng Hoàng Thạch
đang rất thụ động: giá cả, số lượng sản phẩm sản xuất và khách hàng đang khá phụ
thuộc vào tổng công ty. Ví dụ: năm 2005 vừa qua công ty tiếp tục thực hiện hợp
đồng Li xăng với công ty xi măng Hoàng Mai theo chỉ đạo của tổng công ty, công ty
đã nhường lại một phần thị trường khu vực miền trung cho sản phẩm xi măng Li
măng, nên đã ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại công ty.


kinh doanh… chứ không phải chuyên ngành kinh tế kế hoạch. Các cán bộ quản lý
tuy đã được bồi dưỡng thêm nghiệp vụ về kinh tế nhưng hiện nay các biện pháp về
lập kế hoạch vẫn chưa được áp dụng nhiều.
Hiện nay, khách hàng của công ty hầu hết đều là khách hàng chỉ định (công ty vật tư
kĩ thuật xi măng, công ty xi măng vật liệu xây dựng Đà Nẵng, công ty kinh doanh
thạch cao xi măng) và khách hàng nhỏ, lẻ. Còn khách hàng là các công trình xây
dựng lớn trên toàn quốc là rất ít. Nguyên nhân của vấn đề này là do phương thức
thanh toán của công ty không cho phép nợ tồn đọng quá lâu, giá xi măng của công ty
hiện nay là khá cao nên gây tâm lí e ngại cho các chủ thầu xây dựng.
Tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt thấp so với nghị quyết đề ra do
chưa triển khai xây dựng dây chuyền HT3 (còn đang trong giai đoạn xét thầu). Các
công trình đồng bộ phải sửa đổi nhiều lần do các qui định của nhà nước thay đổi. Cụ
thể nguyên nhân dẫn đến công tác đầu tư xây dựng không đạt mục tiêu đề ra là do:
hầu hết các hạng mục đầu tư xây dựng của năm đang ở bước chuẩn bị đầu tư. Trong
khi đó các Nghị định, thông tư hướng dẫn đầu tư xây dựng lại có nhiều thay đổi, bổ
sung theo yêu cầu của luật xây dựng mới được ban hành nên thủ tục một số công
trình phải điều chỉnh, sửa đổi hoặc làm lại nhiều lần gây khó khăn, vướng mắc trong
quá trình triển khai thực hiện. Dây chuyền HT3 cơ bản đã xét xong gói thầu thiết bị
chính giai đoạn 2, nên chưa triển khai ký được hợp đồng mua thiết bị, hợp đồng
khảo sát, thiết kế xây dựng, trong khi nguồn vốn kế hoạch đầu tư xây dựng HT3 đã
được dự kiến cho việc thực hiện các công việc này.
Do sản phẩm gạch chịu lửa vẫn chưa mở rộng được thị trường tiêu thụ , do tâm lý
của các công ty thành viên trong tổng công ty chưa quen sử dụng sản phẩm nội cho
nên sản lượng tiêu thụ của nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính chưa cao. Hơn thế
nữa do thời gian dừng sản xuất để sửa chữa nhiều ngày và do nguồn nguyên vật liệu
cung cấp cho sản xuất gặp rất nhiều khó khăn vì vậy năng suất của nhà máy vật liệu
chịu lửa kiềm tính thấp.

8.Công tác tiết kiệm
9.Các mặt công tác khác
Phần II: phương hướng nhiệm vụ năm 2006 bao gồm các nội dung về:
I.Dự kiến kế hoạch sản xuất-kinh doanh năm 2006
II. Những biện pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch năm 2006:
1.Biện pháp công nghệ: bao gồm các biện pháp liên quan đến khâu nguyên liệu, bán
thành phẩm đến thanch phẩm trong quá trình sản xuất; qui hoạch và tổ chức khai
thác6
2.Biện pháp về sửa chữa và đầu tư thiết bị
3.Công tác vật tư, phụ tùng
4.Công ác tiêu thụ sản phẩm
5.Công tác quản lý
6.Công tác bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên.
7.Công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy.
8.Công tác quốc phòng, quân sự địa phương.
Tất cả các con số trong các bản báo cáo tổng kết được tính toán dựa trên việc tính
toán sản lượng sản xuất và tiêu thụ thực tế. Các số liệu đó thu thập từ bản báo cáo
tình hình thực hiện kế hoạch hàng tháng và hàng quí tại công ty và do các chi nhánh
gửi đến.
Sản lượng dự kiến sản xuất năm 2006, dựa trên năng lực sản xuất của máy móc
thiết bị trên cả hai dây chuyền sản xuất sau khi được cân đối.
Dựa vào nội dung công việc đã tham gia và những tình hình của công ty xi măng
Hoàng Thạch, em xin đưa ra 3 hướng đề tài như sau:
-Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty xi măng Hoàng
Thạch.
-Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty xi măng Hoàng
Thạch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status