Tác phẩm dịch DC-16Thị trường tự do có làm xói mòn nhân cách
đạo đức hay không?
Phạm Nguyên Hoàng dịch
© 2011 Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác phẩm dịch DC-16 Thị trường tự do có làm xói mòn nhân cách
đạo đức hay không?
Nhiều tác giả
Phạm Nguyên Hoàng dịch
viên của Ban tổ chức là ThS. Phạm Nguyễn Hoàng (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo
chứng khoán - Ủy ban Chứng Khoán Nhà nước) đã dụng công dịch toàn bộ
13 bài thảo luận
trong cuộc tranh luận Does the free market corrode moral character? do Quỹ John Templeton tổ
chức và sau đó tập hợp lại dưới dạng
một cuốn sách nhỏ. Cuộc thảo luận này nằm trong chuỗi
những cuộc thảo luận về “Các vấn đề lớn” (“Big Questions”) do Quỹ John Templetion tổ chức,
nhằm thu nhận những trao đổi từ các nhà khoa học, học giả và các nhân vật nổi tiếng về những
câu hỏi lớn của thời đại chúng ta.
Có một sự trùng hợp thú vị, là khi khóa học diễn ra, Ban tổ chức mới biết rằng một Khách
mời củ
a chương trình là dịch giả Phạm Nguyên Trường, người ủng hộ kinh tế thị trường và chủ
nghĩa tự do, cũng đã dịch tập tiểu luận này từ trước đó, và đăng tải trên blog cá nhân của ông.
Toàn bộ phần dịch của ông đã được VEPR công bố trong Tác phẩm Dịch
DC-15: Thị trường tự
do có làm băng hoại các giá trị đạo đức hay không?.
Sự trùng hợp này cho thấy những người cùng chia sẻ một mối quan tâm, hay rộng lớn hơn,
một lý tưởng, thường dễ dàng gặp nhau, dù không hẹn trước.
Hai phiên bản tiếng Việt của tập tiểu luận có hơi khác nhau một chút (phiên bản của ThS.
Phạm Nguyễn Hoàng theo sát bản được công bố trên trang web của Quỹ John Templetion, còn
bản của dị
ch giả Phạm Nguyên Trường có nhiều hơn một tiểu luận, và được sắp xếp theo thứ tự
khác), nhưng đều là những bản dịch có chất lượng cao, thể hiện công phu và tâm huyết của
người dịch. Để độc giả có thêm điều kiện tham khảo, VEPR trân trọng công bố cả hai phiên bản
tiếng Việt. Bản dịch này của ThS. Phạm Nguyễn Hoàng được đánh số DC-16, với tự
a đề: Thị
trường tự do có làm xói mòn nhân cách đạo đức hay không?.
Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
TS. Nguyễn Đức Thành
10/2011.
toàn cầu hoá – ví dụ thu nhập tăng lên của những nông dân trồng lúa ở Việt Nam, đã thúc đẩy
những bậc cha mẹ tiếp tục cho con đi học. Rút cuộc là họ đã không còn cần tới những khoản thu
nhập còm cõi từ một lao động trẻ em tăng thêm có thể mang lại.
Hoặc là xem xét bình
đẳng giới. Với toàn cầu hoá, những ngành nào sản xuất hàng hoá và
dịch vụ có thể trao đổi được sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ hơn. Sự cạnh
tranh này đã làm giảm khoảng cách tại nhiều nước đang phát triển giữa tiền công trả cho những
nhân công nam và nữ có trình độ ngang nhau. Tại sao? Bởi vì các công ty cạnh tranh toàn cầu
nhanh chóng nhận thấy rằng họ không thể
tiếp tục giữ những thành kiến ủng hộ nam giới. Dưới
sức ép cắt giảm chi phí và hoạt động hiệu quả hơn, họ ngày càng chuyển từ lao động nam giới
chi phí cao sang lao động nữ rẻ hơn, vì thế thù lao trả cho lao động nữ tăng và trả cho lao động
nam giảm. Toàn cầu hoá chưa tạo ra bình đẳng về lương, nhưng chắc chắn đã thu hẹp khoảng
cách.
Hiện nay có rấ
t nhiều bằng chứng cho thấy Ấn Độ và Trung Quốc, hai nước cùng có những
vấn đề đói nghèo to lớn, đã và đang có thể tăng trưởng rất nhanh bằng cách tận dụng lợi thế
thương mại và đầu tư nước ngoài, và thông qua đó đã giảm được đói nghèo một cách đáng kể.
Họ vẫn còn con đường dài phía trước, nhưng toàn cầu hóa đã cho phép họ cải thiện những đ
iều
kiện cơ bản cho hàng trăm triệu người dân. Một vài nhà chỉ trích đã lên án quan điểm tấn công
đói nghèo thông qua tăng trưởng kinh tế là một chiến lược “nhỏ giọt” chậm rãi. Họ gợi lên
những hình ảnh về những người quý tộc và tư sản no nê, háu ăn đang đánh chén đùi cừu trong
khi những người hầu và chó dưới gầm bàn thì ăn những mẩu thịt và mảnh vụ
n rơi vãi. Trong
thực tế, tập trung vào tăng trưởng được miêu tả tốt hơn như là một chiến lược “kéo lên” mang
tính xã hội. Những nền kinh tế tăng trưởng kéo người nghèo lên những công việc có lợi và giảm
đói nghèo.
Thậm chí nếu họ chấp nhận rằng toàn cầu hoá nhìn chung giúp đạt được những mục tiêu xã
hội nhất định, một số người chỉ trích vẫn tranh luận rằng nó làm suy thoái nhân cách đạo
ấp thụ ý tưởng về quyền và sự bình đẳng của nữ giới. Khi trở về Nhật, họ trở thành các hạt
nhân cải cách xã hội. Thời nay, tivi và Internet đang đóng một vai trò khổng lồ trong việc mở
rộng ý thức xã hội và đạo đức vượt ra ngoài ranh giới những cộng đồng và quốc gia-dân tộc.
Adam Smith nổi tiếng đã viết về “một người nhân đạo ở châu Âu”, là người sẽ không “ngủ
tối nay” nếu “anh ta phải mất ngón tay út vào ngày mai” nhưng sẽ “ngủ ngon với sự yên tâm cao
nhất” nếu một trăm triệu người Trung quốc “đột nhiên bị nuốt gọn bởi một trận động đất”, bởi vì
“anh ta chưa bao giờ nhìn thấy họ”. Đối với chúng ta, những người Trung quốc này không còn
nhìn thấy n
ữa, đã nằm ngoài phạm vi mà David Hume đã gọi là vòng tròn đồng tâm của sự đồng
cảm. Cuộc động đất vào mùa hè năm ngoái tại Trung quốc, với những hậu quả mang tính thảm
hoạ đã ngay lập tức được truyền tới các màn hình của chúng ta, đã được phần còn lại của thế giới
đón nhận không phải với sự thờ ơ mà là sự cảm thông và ý thức sâu sắc về trách nhiệ
m đạo đức
đối với các nạn nhân Trung quốc. Đó là giờ phút đẹp nhất của toàn cầu hoá.
7
Bài 2: Điều đó còn tùy thuộc
John Gray
John Gray là giáo sư danh dự tại Trường Kinh tế Luân Đôn. Những sách viết gần đây của
ông là: “Buổi đầu sai lầm: Những ảo tưởng về chủ nghĩa tư bản toàn cầu” (False Dawn: The
Delusions of Global Capitalism), và “Tập hợp đen tối: Tôn giáo khải huyền và cái chết của xã
hội không tưởng” (Black Mass: Apocalyptic Religion and the Death of Utopia).
Thị trường tự do làm xói mòn một số khía cạnh về tính cách trong khi nâng cao một số khía
cạnh khác. Sau khi cân nhắc kỹ có thể thấy k
ết quả trên là tốt hay không còn phụ thuộc vào việc
người ta nhìn nhận một cuộc sống tốt như thế nào. Một phần nhiều cũng phụ thuộc vào việc liệu
người ta có tin là những hệ thống kinh tế khác có thể hoạt động tốt hơn. Câu hỏi này chỉ có thể
được trả lời bằng cách so sánh những sự thay thế thực tiễn và bằng cách hiểu được những hệ
Chỉ có trong các sách giáo khoa về kinh tế học cho rằng thị trường tự nó điều chỉnh. Trên nền
tảng này, mối quan hệ giữa kinh tế học và đạo đức có thể được nhìn nhận ngày càng rõ ràng hơn.
Một nét tính cách có ý nghĩa nhất do thị trường tự do mang lại là tính táo bạo của các doanh
nghiệ
p, sự sẵn lòng đầu cơ và đánh cược, và khả năng nắm bắt và tạo ra cơ hội mới. Cũng cần
lưu ý rằng những điều đó không phải là những tính cách được ca ngợi nhất bởi những nhà luân lý
học bảo thủ. Sự cẩn trọng, tính tiết kiệm và khả năng chịu đựng sức ép một cách kiên nhẫn
những hình thức cuộc sống giố
ng nhau có thể là những phẩm chất đáng ngưỡng mộ, song chúng
không phải luôn dẫn tới thành công trên thị trường tự do.
Trong thực tế, khi thị trường biến động mạnh, những nét bảo thủ này có thể chính là con
đường dẫn tới huỷ hoại. Trang bị lại công cụ cho mọi người, sắp đặt lại, chuyển đổi nghề nghiệp
– những hoạt động chấp nhận rủi ro này giúp mọi ngườ
i tồn tại và thịnh vượng trong những nền
kinh tế thị trường tự do. Song kiểu hành vi rủi ro này không nhất thiết tương thích với các giá trị
truyền thống vốn nhấn mạnh giá trị của việc duy trì những gì gắn bó với con người.
Adam Smith, một trong những người khai sinh ra kinh tế học trường phái tự do, cũng là một
người chỉ trích sắc sảo đối với xã hội thương mại. Smith sợ r
ằng kinh tế thị trường xuất hiện
trong thời kỳ của ông có thể khiến cho công nhân phải lang bạt trong các thành phố thiếu những
cộng đồng gắn kết. Theo như ông nhận thức, động lực mang tính phá vỡ của thị trường không
9
thể chỉ giới hạn trong phạm vi thị trường. Thị trường tự do đòi hỏi mức độ di động cao và sự sẵn
sàng chắc chắn thoát khỏi các mối quan hệ không còn lợi ích. Một xã hội trong đó con người liên
tục di chuyển sẽ không thể là một xã hội có các gia đình ổn định hoặc tuân thủ luật pháp.
Cuối cùng, câu trả lời cho vấn đề này phụ thuộc vào việc người ta nhậ
n thức như thế nào về
một cuộc sống tốt. Những gì mà một nhà đạo đức học truyền thống nhìn nhận về một gia đình đổ
vỡ có thể được một người theo chủ nghĩa tự do nhìn nhận như là việc thực hiện quyền tự chủ cá
10
trường tự do và kế hoạch hoá tập trung. Trong thực tế lịch sử, cả hai mô hình này đều không tồn
tại dưới hình thức do những người cổ suý nó hình dung. Sự lựa chọn thật sự là giữa những sự
pha trộn khác nhau của các thị trường và cơ chế quản lý, và không có mô hình nào trong số này
sẽ là tốt lành hoàn toàn về mặt đạo đức. Một sự pha trộn hợp lý không thể đạt được bằng cách áp
d
ụng một mô hình lý tưởng về nền kinh tế nên vận hành như thế nào. Những sự kết hợp khác
nhau sẽ là tốt nhất trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Nhưng có một điều rõ ràng: một
nền kinh tế thị trường hiện đại không thể hoạt động mà không có một thước đo về sự suy thoái
đạo đức.
tranh của công ty. Nhưng chúng ta biết rằng việc đóng góp này có thể nâng cao hình ảnh của
công ty theo cách nó nâng cao vị thế cạnh tranh. Trong một thị trường tự do, sự nổi tiếng được
dựa trên quan điểm chung, và nhận thức có thể trở thành một lợi ích vật chất.
Thứ hai, nếu xã hội (hoặc ít nhất là đa số trong xã hội) đạt tới một điều mà ta gọi là trạng
thái thặng dư, trong
đó sự sống còn không còn phải lo lắng, mọi người đều có được sự thoả mãn
nhân cách đạo đức của mình. Không ai sẽ lấy đi thức ăn đang được thèm khát khỏi miệng của
chính đứa con của mình để đem đi cho một đứa trẻ nhà khác. Sự trao tặng và bản năng đạo đức
của chúng ta tồn tại, nhưng chúng xếp sau đòi hỏi phải phát triển. Tính hào phóng làm cho lòng
từ thiệ
n trở nên khả thi.
Tất nhiên, có những ngoại lệ đối với cả hai quy tắc này, mặc dù chúng chỉ làm mạnh thêm
hoàn cảnh chung cho thị trường tự do. Khi thiếu cạnh tranh thực sự, không có lợi thế thương mại
nào cho hành xử đạo đức. Điều này được chứng minh quá rõ qua hành vi keo kiệt của các thế lực
do Nhà nước bợ đỡ hoạt động ở nước Nga hiện nay. Một nhóm chi phối đơn giản ch
ẳng quan
tâm đến danh tiếng.
Những quốc gia giàu tài nguyên như Arập Xê út và (ngày càng rõ và thật không may) nước
Nga có thể tạo ra tài sản thặng dư bất chấp nền kinh tế mệnh lệnh và nạn tham nhũng có thể viết
thành sách. Nhưng có một sự thặng dư có được mà không cần trách nhiệm – đối với nhân công,
cổ đông, và người tiêu dùng (hoặc cử tri, tôi có thể thêm vào) – dẫn tới tham nhũng đủ loại hình.
Hầu hết tấ
t cả các quốc gia đang hưởng lợi nhiều nhất từ giá năng lượng tăng cao kỷ lục gần đây
đã sử dụng tài sản không làm mà có này để khống chế quan điểm bất đồng và bảo tồn những chế
độ hà khắc nhất thế giới này.
Những người phụ thuộc vào thiện chí của hàng xóm có xu hướng hành động đạo đức. Các
công ty dựa vào sự trung thành của nhân công, sự
ưu ái của người tiêu dùng, và sự ủng hộ của
các nhà đầu tư cũng như vậy (để nói thật, nếu phải đạo đức như họ cần có). Và các chính phủ
dựa trên sự tham gia và đóng thuế của công dân cũng như vậy. Mặc dù sự theo đuổi không
cây gậy.
Tôi dành nửa đời mình sống dưới chế độ này ở Liên Xô. Ở đó, nguyện vọng của mỗi một
người bị đè nén và dồn vào nh
ững gì đã được dự định là định mệnh vĩ đại quốc gia. Nhưng nếu
không có sự tham gia tự nguyện của toàn thể công dân, nhân cách đạo đức không thể được trao
hoặc thiết lập mà không có bản thân ý chí tự do. Liên Xô nhanh chóng rơi vào chế độ độc tài và
khủng bố giống như là nhiều quốc gia cộng sản khác.
Sự thay thế không phải là tình trạng vô chính phủ; một xã hội không phải là xã hội đáng
s
ống nếu không có quy tắc luật pháp và sự bảo vệ những nhóm thiểu số về chính trị, tôn giáo và
kinh doanh. Thay vào đó, sự lựa chọn là một hệ thống trong đó tự do cá nhân được kết hợp với
các động lực hành xử một cách đạo đức. Kinh tế thị trường tự do –cùng với dân chủ, đó là thị
trường tự do của các ý tưởng – là gần nhất với những gì mà chúng ta vừa bàn.
Vì thế
, đúng, thị trường tự do có thể dẫn tới việc mua chuộc nhân cách đạo đức. Bản chất
của con người luôn là muốn nhiều hơn, và thị trường tự do cho phép những ham muốn này với ít
14
sự bảo vệ cho những người không phát triển được. Nhưng cố gắng kiềm chế những bản năng và
ham muốn con người này sẽ dẫn tới những tội ác lớn hơn. Tất cả những bằng chứng cần có có
thể tìm thấy trong thế kỷ qua tại nước Nga, từ Nga hoàng đến Liên Xô và đến chế độ cầm quyền
hiện nay của Putin./.
đình tr
ệ, xã hội dân sự bị tàn lụi, và đạo đức bị suy thoái. Trong những thập kỷ gần đây, những
nền kinh tế kế hoạch hoá đã sụp đổ trong sự mâu thuẫn của chính nó, môi trường không tưởng
này đã chứng tỏ là sự thất bại mang tính hệ thống. Những công dân đã phải chịu đựng nhiều năm
trong khủng hoảng kinh tế, đạo đức và chính trị đã háo hức lo
ại bỏ nó.
Tất nhiên, nền kinh tế thị trường không phải là một hệ thống hoàn hảo. Nhưng những khuyết
tật của thị trường bắt nguồn từ những hoạt động và sự thúc đẩy của những người tham gia trong
đó hơn là do từ bản thân thiết kế thị trường. Kinh nghiệm đã dạy chúng ta rằng một thị trường tự
do có mối liên hệ mật thi
ết với một xã hội tự do. Trong những xã hội tự do, con người có thể
hành động tốt hơn cùng nhau để cải thiện cuộc sống của họ. Xã hội tự do ban cho con người cơ
hội làm cho những hệ thống chính trị và xã hội của chính họ trở nên công bằng hơn. Nói chung,
những hoạt động này hỗ trợ hơn là làm xói mòn đạo đức.
16
Từ một góc nhìn so sánh lịch sử, chúng ta có xu hướng định nghĩa thị trường như là một hệ
thống kinh tế xã hội hoàn thiện, bao gồm cả các thiết chế kinh tế, quan hệ xã hội và nền văn hoá.
Nhưng khi chúng ta phân tích mối quan hệ giữa thị trường và đạo đức, sẽ hợp lý nếu sử dụng
một định nghĩa hẹp hơn về thị trường như là những quy tắ
c điều phối hoạt động kinh tế.
Vậy thị trường hay đạo đức là tác nhân rõ nhất trong phân tích của chúng ta? Chúng ta phải
thừa nhận rằng những phán xét đạo đức về các hoạt động kinh tế xã hội đặc thù là khác với
những phán xét đạo đức về các quy tắc thị trường. Các giá trị và đao đức kinh doanh định hình
hành vi của các nhân vật kinh tế. Nếu hoạt động của họ kéo theo những hệ qu
ả không được ưu
thích hoặc không dự kiến, chúng ta nên tìm kiếm một sự giải thích trước hết là trong các định
chế xã hội hỗ trợ thị trường chứ không phải là bản thân các quy tắc thị trường.
Những thảo luận về “đạo đức hoá thị trường” - nghĩa là về viêc làm mềm đi một vài hậu quả
của tăng trưởng hoặc là từ sự mở rộng toàn cầ
thống kê và vai trò của các thành phần chủ đạo có thể làm chậm hoặc cản trở sự điều chỉnh này.
Ở châu Âu, sự hội nhập của các nước khối Sô viết cũ vào hệ thống th
ương mại tự do của châu
lục dường như không phải kéo theo nhiều hậu quả đạo đức tiêu cực. Nhưng ở Trung quốc, người
ta có thể dễ dàng tìm thấy bằng chứng về sự xuống dốc của cả đạo đức và triết lý kinh doanh.
Ảnh hưởng chính trị và các vị trí cơ quan chính phủ được mua bán bằng tiền, hối lộ giải thoát
người ta khỏi án phạt hình sự, chủ lao
động trẻ em hiếm khi bị phạt, và buôn bán máu và các bộ
phận cơ thể người trở thành một hiện tượng phổ biến.
Tất cả những hoạt động này là bất hợp pháp tại Trung quốc, nhưng chính phủ đều dung thứ.
Rõ ràng là đất nước này vẫn còn xa mới đạt được quy tắc luật pháp. Thật vậy, nó được cai quản
bởi một nhóm chính trị đứng trên luật pháp. Các tổ chức phi chính phủ
(NGOs) đang đấu tranh
chống lại những vấn đề phiền toái này, nhưng hoạt động của họ bị kiểm soát một cách chặt chẽ
và mỗi một tổ chức phải được giám sát bởi một cơ quan chính phủ. Thay vì tiến hành các hoạt
động mang tính quyết định để ngăn cấm các hoạt động “bất hợp pháp” về mặt danh nghĩa này,
chính phủ đã nỗ lực rất lớ
n kiểm soát báo chí và tranh luận trên Internet về “những tin tức tiêu
cực ảnh hưởng nguy hại đến hình ảnh chế độ.”
Vậy điều gì đáng trách đối với sự phi đạo đức hoá quá trình phát triển tại Trung quốc – bản
thân thị trường tự do hay sự thất bại của Nhà nước và riêng với nhóm cầm quyền? Những người
thiết lập và đảm bảo thực thi các quy tắc của mỗi thị tr
ường đóng vai trò tối quan trọng. Điều này
đặc biệt đúng ở Trung quốc, nơi chính phủ và các quan chức đảng lập ra luật pháp và giám sát
các hoạt động kinh tế cho dù thậm chí bản thân những người này cũng tìm cách kiếm lợi. Chính
sự dung thứ của họ đối với các hoạt động phi đạo đức, chứ không phải là sự tăng trưởng của thị
trường tự do, đã bóp méo trật tự
đạo đức của xã hội Trung quốc.
Dựa trên kinh nghiệm gần đây của Trung quốc, tôi có thể rút ra ba bài học quan trọng. Trước
hết, cho dù có tất cả các bài viết tán dương trên báo chí quốc tế, ảnh hưởng của chính phủ Trung
Micheal Walzer
Micheal Walzer là giáo sư danh dự tại Trường Khoa học Xã hội thuộc Viện Nghiên cứu cao
cấp Princeton, bang New Jersey. Ông tham gia làm biên tập viên cho “Cộng hoà mới” (New
Republic), đồng biên tập cho “Bất đồng ý kiến”, và gần đây nhất là tác giả của “Suy ngẫm theo
chính trị” (Thinking politically).
Cạnh tranh trên thị trường đặt mọi người vào sức ép lớn phải phá vỡ các quy tắc hành xử tao
nhã và sau đó tạo ra lý do để làm điều đó. Chính sự hợp lý hoá này – việc cần ph
ải liên tục tự lừa
dối mình để đáp ứng điều mấu chốt nói trên và vẫn cảm thấy bình thường về điều đó – đã làm
xói mòn nhân cách đạo đức. Nhưng bản thân điều này không phải là một luận điểm chống lại thị
trường tự do. Hãy nghĩ về những cách thức mà nền chính trị dân chủ cũng làm hỏng nhân cách
đạo đức. Cạnh tranh vì quy
ền lực chính trị đưa người ta vào sức ép lớn – hét lên những lời nói
dối tại các cuộc mít-tinh với công chúng, hứa suông những điều mà họ không thể làm, nhận tiền
từ các nhân vật mờ ám, và thoả hiệp các nguyên tắc không nên bị thoả hiệp. Tất cả những điều
đó phải được bảo vệ bằng cách nào đó, và nhân cách đạo đức không tồn tại được qua sự bảo vệ
này, ít nhất cũng không tiếp tục được mà không bị ảnh hưởng. Song những thói xấu hiển nhiên
này không tạo nên một quan điểm ngược lại dân chủ.
Để chắc chắn, cạnh tranh kinh tế và chính trị cũng tạo ra những dự án mang tính hợp tác
nhiều loại khác nhau – đối tác, công ty, đảng phái, hiệp hội. Trong phạm vi những dự án này, sự
cảm thông, tôn trọng lẫn nhau, tình hữu nghị, và sự đoàn kết được phát tri
ển và củng cố. Mọi
người sẽ học sự tính toán mang tính hợp tác trao và nhận. Họ đảm nhận các vị trí, chấp nhận rủi
ro, và tạo lập các liên minh. Tất cả các quá trình này xây dựng nên nhân cách. Nhưng do lợi ích
quá cao nên các bên tham gia trong các hoạt động này cũng học được cách giám sát và không tín
20
nhiệm lẫn nhau, che đậy các kế hoạch của mình, phản bội bạn bè, và – như chúng ta biết- từ
như thường thấy, và nó cải thiện đáng kể sự lựa chọn cách hành xử đạo đức. Nhà nước phúc lợi
hiện đại được cho là tiến hành điều tương tự đối với nền kinh tế: hiến pháp hoá thị trường bằng
cách đặt ra các giới hạn cho những gì có thể mất. Nhưng trong thực tế, ít nhất tại nước Mỹ,
chúng ta không có nhiều trong con
đường hiến pháp hoá thị trường. Đối với quá nhiều người,
21
cuộc tranh đấu mang tính cạnh tranh này là khá gần với sự tuyệt vọng. Điều đang rủi ro ở đây là
sự sống còn của gia đình, chăm sóc y tế cho con cái, giáo dục tử tế, tước vị cao khi tuổi già. Và
những rủi ro như vậy không có chỗ trống dành cho đạo đức. Những người đàng hoàng sẽ hành
xử một cách đàng hoàng, và hầu hết con người ta đều tử tế khi họ có thể
như vậy. Vẫn như vậy,
các hiệu ứng của cuộc đấu tranh là mang tính huỷ hoại một cách chắc chắn.
Một thành quả khác của nền hiến pháp là việc đặt ra các giới hạn trong quyền lực chính trị
của hầu hết những cá nhân có quyền lực. Họ phải sống với những quyền lực đối chọi, các đảng
phái và phong trào đối lập, các cuộc bầu cử
định kỳ, một nền báo chí tự do và đôi lúc mang tính
chỉ trích. Điểm đầu tiên của những giới hạn này là giảm thiểu các tác hại mà những nhân vật đã
suy thoái đạo đức có thể làm. Nhưng một số chính trị gia của chúng ta thực sự đã tiếp thu những
giới hạn này một cách vô thức, và đó là một quá trình xây dựng nhân cách quan trọng.
Chủ nghĩa thị trường hợp hiến sẽ áp đặ
t những giới hạn tương tự cho quyền lực kinh tế của
những người giàu có nhất. Nhưng rõ ràng một lần nữa chúng ta không có gì nhiều đối với một
hiến pháp thị trường. Những giới hạn về quyền lực kinh tế là rất yếu; quyền lực đối chọi của các
công đoàn lao động đã bị giảm xuống rất nhiều; hệ thống thuế đ
ang gia tăng luỹ tiến; quản lý
ngân hàng, đầu tư, chính sách định giá, và các quỹ hưu trí thì hầu như không tồn tại. Sự kiêu
ngạo của giới thượng lưu kinh tế trong vài thập kỷ qua đang thật ngạc nhiên. Và điều này bắt
nguồn từ một quan điểm được nhìn nhận rõ ràng là họ có thể làm bất kỳ điều gì muốn. Kiểu
quyền lực như vậy, theo như Acton
23
Bài 6: Không! Và, Có
Michael Novak
Michael Novak là học giả quỹ George Frederick Jewett về Tôn giáo, Triết học, và Chính
sách công tại Viện doanh nghiệp Mỹ. Trong số hơn hai mươi lăm đầu sách của ông, có “Tinh
thần của chủ nghĩa tư bản dân chủ”, và gần đây là “Không có ai nhìn thấy thượng đế”.
Vào lúc ra đời nước Mỹ, hầu hết các xã hội đều được tổ chức dựa trên sự nắm giữ đất đai
của tầng lớp quý tộ
c hoặc là những cơ sở quân sự mạnh. Những người thành lập nước Mỹ phản
bác những mô hình này và tranh luận một cách tích cực rằng một xã hội mới, được xây dựng trên
cơ sở thương mại tự do, sẽ sinh ra cả một loạt các đức tính tốt mới và đồng thời chứng tỏ là an
toàn hơn, và có sự cam kết rõ hơn, với quy tắc luật pháp. Một xã hội như vậ
y sẽ không phải là
được dành cho việc theo đuổi quyền lực mà là tạo ra sự sung túc. Như Alexander Hamilton đã
ghi chú trong Những người chủ nghĩa liên bang số 12: “Sự thịnh vượng của thương mại bây giờ
Việc tổ chức một xã hội mới trên c
ơ sở tầng lớp quý tộc hoặc quân sự sẽ là không an toàn
cho một nền cộng hoà, theo lời kết luận của những nhà sáng lập nước Mỹ. Một nền cộng hoà sẽ
cần những công dân độc lập, tự chủ, có tài phát minh và óc sáng tạo, không e ngại bàn tay bị bẩn,
tự hào là những công nhân chăm chỉ, tràn đầy động lực sáng tạo, và quyết tâm tìm ra những cách
thức làm việc tốt hơn (thường là ít nặ
ng nhọc hơn). Sự độc lập và sáng tạo, dẫn tới một lợi ích
chung được cải thiện liên tục, sẽ là thành quả của một xã hội thương mại, ít nhất đối với một nền
cộng hoà như là nước Mỹ non trẻ.
Hơn nữa, các nhà sáng lập nghĩ rằng một xã hội được xây dựng dựa trên thương mại sẽ phải
thiết lập trách nhiệm cá nhân tr
ước luật pháp. Không có một xã hội biết tuân thủ luật pháp mà
dựa trên toà án để cưỡng chế các hợp đồng, làm sao những người can dự vào thương mại có thể
chịu những rủi ro lớn trước khi họ được thanh toán thậm chí đầy đủ cho các nỗ lực của mình?
Các tàu thuỷ từ New England mang trà đen từ châu Á phải thanh toán trước khi họ có thể trở lại
và bán hàng. Cướp biển sẽ cần phải được chố
ng lại, không chỉ bởi luật thành văn mà còn bởi luật
pháp được thực hiện bằng cách chĩa súng trên biển (vì thế mà có các chiến dịch của Jefferson
chống lại cướp biển Barbery). Chẳng thế mà có khẩu hiệu của Amsterdam, khi đó là một thế giới
tư bản thương mại lớn trên thế giới và là một đối tượng thán phục của các nhà sáng lập, đó là: