1
Báo cáo tốt nghiệp
Quản lý kinh tế đối với sự phát triển KTNQD ở
nước ta
2
Mục lục
Lời nói đầu :
Chương I:
Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển KTNQD ở nước ta.
I/ Kinh tế ngoài quốc doanh và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế ở
Việt nam
1/ Đặc điểm và vai trò của KT ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay.
1.1/ Sự phân chia KT nhà nước, KT tư nhân và KTQD, KTND.
2/ Xu hướng phát triển của KT NQD ở Việt nam.
2.1/ Khu vực KT NQD có vốn đầu tư trong nước.
2.2/ Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
II/ Tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.
1/ Tín dụng Ngân hàng vàvai trò của nó đối với sự phát triển KT NQD ở
nước ta.
1.1/ Tín dụng Ngân hàng.
1.2/ Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của KT NQD.
2/ Các nhân tố ảnh hưởng tới sự mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân
hàng đối với KT NQD.
2.1/ Môi trường kinh tế.
2.2/ Nhân tố pháp luật.
2.3/ Những quy định của Nhà nước và Ngân hàng Trung ương.
2.4/ Năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng.
2.5/ Yếu tố chủ quan của Ngân hàng.
III/ Khái quát cơ chế tín dụng đối với KT NQD.
1/ Cho vay ngắn hạn.
1.1/ Cho vay từng lần.
1.2/ Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
2/ Cho vay trung và dài hạn.
2.1/ Phương thức cho vay theo dự án đầu tư.
4
I/ Định hướng về mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng đối với KT NQD tại
5
chi nhánh NHNT Quảng ninh.
II/ Những giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng
đối với KT NQD tại chi nhánh NGNT Quảng ninh.
1/ Đa dạng hoá các hình thức tín dụng đối với KT NQD.
2/ Thực hiện biện pháp thẩm định kỹ trước khi cho vay và tăng cường kiểm
tra trong và sau khi cho vay.
3/Thực hiện các biện pháp bảo đảm trong kinh doanh tín dụng.
4/ Chủ động tìm khách hàng và chú ý đầu tư vốn cho các doanh nghiệp viên
doanh hợp tác đầu tư với nước ngoài có kỹ thuật công nghệ hiện đại.
5/ Chi nhánh cần tích cức giải quyết các vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi và
bảo toàn vốn.
6/ Công tác cán bộ.
7/ Đổi mới chính sách khách hàng, quảng cáo sâu rộng về chính sách chế độ,
thể lệ tín dụng của Ngân hàng đối với KT NQD.
III/ Kiến nghị
1/ Đối với hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước.
1.1/ Nhà nước cần sớm hoàn thiện các chính sách và cơ chế vĩ mô của mình.
1.2/ Tăng cường các biện pháp quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp là
kinh tế NQD.
1.3/ Chấn chỉnh hoạt động công chứng.
7
Lời nói đầu
ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt nam
tháng 12 năm 1986 và nghị quyết 16/BCT ngày 15 tháng 08 năm 1988 của
Bộ chính trị đã đề ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng XHCN. Đây là một bước ngoặt lịch sử quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta, sau hơn 10 năm đổi mới đất
nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ: Tốc độ tăng trưởng kinh
tế trung bình 8.2%/năm, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, hoạt
động sản xuất kinh doanh được chấn chỉnh và đi vào nề nếp, các nguồn tiền
tệ tích tụ trong nền kinh tế đã được động viên khai thác bằng nhiều hình
thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển
Từ những kết quả trên cho thấy chủ trương phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Từ chỗ thấy được
vai trò quan trọng của kinh tế ngoài quốc doanh đối với sự phát triển kinh tế
của đất nước, Đảng và nhà nước ta bằng nhiều chính sách, biện pháp khuyến
khích tạo điều kiện giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực
bên trong và bên ngoài cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
Nội dung đề tài được chia thành 3 phần chính
Chương I
Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế ngoài quốc doanh ở
nước ta.
Chương II
Thực trạng quan hệ tín dụng giữa chi nhánh Ngân hàng ngoại thương
Quảng ninh với kinh tế ngoài quốc doanh.
Chương III
9
Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng
Ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại chi n hánh Ngân
hàng ngoại thương Quảng ninh. Kết luận Chương I:
Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển
kinh tế ngoàI quốc doanh ở nước ta
I/ Kinh tế ngoài quốc doanh và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế ở Việt
nam.
1/ Đặc điểm và vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta :
1.1/ Sự phân chia kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế quốc doanh,
phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có
hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp
phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Là các cá nhân kinh doanh đầu tư vốn thấp và có qui
mô kinh doanh nhỏ.
Kinh tế tư bản nhà nước: Là hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà
nước với tư bản tư nhân trong nước và giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài.
Kinh tế tư bản tư nhân: Các nhà kinh doanh đầu tư vốn thuộc sở hữu tư nhân
để thành lập doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được pháp luật qui định.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần: Gọi chung là công ty, là
doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng
11
chịu lỗ tương ứng với phần góp vốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty.
Doanh nghiệp tư nhân: Là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn
pháp định, do một cá nhân làm chủ tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh các thành phần kinh tế cơ bản kể trên cũng còn một số hình thức
kinh tế khác cùng song song tồn tại đó là những hình thức liên doanh liên kết giữa
các chủ thể kinh tế trong nước cũng như trong nước với nước ngoài.
1.2/ Đặc điểm kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta :
Suốt một thời gian dài, nước ta xây dựng kinh tế XHCN theo mô hình“quốc
doanh hoá”và“Tập thể hoá”, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh gần như bị
xoá bỏ . Kinh tế ngoài quốc doanh mới thực sự khởi sắc sau khi có luật doanh
nghiệp tư nhân và luật công ty được nhà nước ban hành năm 1991. Chính những
biến cố lịch sử trên nó đã quyết định nên đặc điểm của thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh ở nước ta.
1.2.1/ Khả năng tài chính nhỏ bé nghèo nàn:
truyền thống và công nghệ hiện đại.
Hơn nữa, trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, lại bị Mỹ cấm vận trong nhiều
năm trước đây nên thông tin về công nghệ, kỹ thuật mới còn thiếu, khả năng tiếp
xúc với công nghệ hiện đại còn nhiều hạn chế. Chủ yếu máy móc trong thời kỳ này
là tự sản xuất ở trong nước hoặc nhập khẩu từ đông âu, Liên xô cũ. Trong thời gian
gần đây nhà nước đã thành lập uỷ ban quốc gia về chính sách công nghệ, đã nhập
được một số dây chuyền công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, song còn hạn chế ở một số
lĩnh vực nhất định. Theo điều tra, hầu hết các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh đều
không chú ý tới việc áp dụng công nghệ kỹ thuật mới vì phải đầu tư vốn lớn và sợ
giá thành sản phẩm cao.
13
1.2.3/Trình độ quản lý kinh doanh yếu kém, kỹ năng của người lao động thấp:
Ra đời từ một nền kinh tế hậu chiến và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung
khi chuyển sang cơ chế thị trường, các ông chủ và người lao động của khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh phần lớn chưa qua các khoá đào tạo chính qui có tổ chức, chưa
có kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh, trình độ hiểu biết pháp luật thấp, đặc biệt
là hiểu biết về các qui định theo thông lệ quốc tế trong kinh doanh thương mại,
thanh toán còn nhiều hạn chế. Điều này làm hạn chế tầm nhìn chiến lược và tính
khoa học trong khâu tổ chức và thực hiện sản xuất kinh doanh, gây khó khăn cho
doanh nghiệp trong kinh doanh thương mại quốc tế và trong trường hợp có điều
kiện áp dụng các kỹ thuật hiện đại và tiên tiến.
1.2.4/ Môi trường sản xuất kinh doanh chưa ổn định:
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã làm cho nền kinh tế trì trệ không tạo
được động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế nói chung và kinh tế ngoài quốc
doanh nói riêng phát triển. Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường, các thể chế kinh tế và pháp lý chưa được xác lập, hoàn thiện và
phát triển một cách đầy đủ nên đã ảnh hưởng lớn đến các cơ sở kinh tế ngoài quốc
doanh trong việc xác lập phương hướng sản xuất kinh doanh và chiến lược đầu tư.
Phương hướng kinh doanh chủ yếu hiện nay là “đánh quả”. Các doanh nghiệp kinh
căn cứ vào tính chất sở hữu về tư liệu sản xuất mà căn cứ vào kết quả sản xuất
kinh doanh của các thành viên, các thành viên đều bình đẳng trong sự sàng lọc
của cơ chế thị trường. Trong môi trường kinh doanh đó, kinh tế ngoài quốc
doanh có tính tự chủ, năng động và sáng tạo đã nhanh chóng thích nghi với
những biến đổi thường xuyên của thị trường và ngày càng khẳng định vai trò
không thể thiếu được của mình trong nền kinh tế.
1.3.1/ Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển tạo điều kiện thu hút lao động góp
phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội:
15
Nếu nhìn từ góc độ tạo việc làm và thu nhập cho người lao động thì vai trò
đặc biệt quan trọng của kinh tế ngoài quốc doanh là đảm bảo việc làm, thu nhập và
nâng cao đời sống cho đại đa số người lao động. Với qui mô nhỏ vốn đầu tư không
lớn lắm, có thể dễ dàng thành lập bởi một cá nhân, một gia đình hay một số cổ đông
liên kết lại hoặc dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, cùng với
việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương đối nhiều lao động thì đây là nơi cung cấp
nhanh nhất giúp tạo việc làm với số vốn thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp có
quy mô lớn. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế tập thể bị thu hẹp
dần, kinh tế tư nhân, cá thể phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng
và qui mô hoạt động thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trong dân cư vào mọi lĩnh
vực sản xuất vật chất và dịch vụ như: sản xuất vật liệu xây dựng, điện tử, may mặc,
cơ khí, thủ công mỹ nghệ
Trong 4, 5 năm trở lại đây cùng với số lao động được giải quyết thêm việc
làm bằng nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước khoảng 40 - 50 vạn lao động
mỗi năm, còn có thêm 80 - 85 vạn lao động có thêm việc làm do các đơn vị kinh tế
tư nhân bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Đây là biểu hiện cụ thể của
phương châm đúng đắn “nhà nước và nhân dân cùng làm” do Đảng và Nhà nước ta
đề ra. Theo số liệu của bộ lao động thương binh xã hội tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị
giảm từ 13% năm 1989 xuống còn 6,2% năm 1994, hàng năm có khoảng gần một
triệu lao động có chỗ làm việc mới được tạo ra trong cả nước chủ yếu nhờ vào khu
sản phẩm của cả nước và khối lượng đó có xu hướng ngày càng tăng lên. Hàng hoá
do kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra không những góp phần bổ sung vào quỹ hàng
hoá tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ cho xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.
Trên lĩnh vực lưu thông hàng hoá, sự có mặt của tổ chức thương nghiệp ngoài quốc
doanh đã tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá được thông suốt, hàng hoá trên thị
trường luôn phong phú và đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng ở
mọi nơi và mọi lúc.
1.3.3/ Kinh tế quốc doanh phát triển góp phần tăng nguồn thu Ngân sách nhà
nước :
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề để tạo ra nguồn thu cho ngân sách
nhà nước. Do vậy, để tăng cường nguồn thu ngân sách lành mạnh biện pháp quan
trọng nhất là không ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Nhà nước cần tạo
17
môi trường cho các thành phần kinh tế phát triển, coi trọng vào việc đầu tư cơ sở hạ
tầng, điện nước, thông tin, giao thông vận tải một cách thuận tiện nhất để các thành
phần kinh tế có điều kiện sản xuất, mở rộng liên doanh liên kết với các doanh
nghiệp trong và ngoài nước. Trên cơ sở tăng doanh thu trong sản xuất và kinh doanh
dịch vụ từ đó nguồn thu của ngân sách nhà nước được tăng lên. Trên thực tế hàng
năm kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp từ 30 đến 45% vào ngân sách nhà nước.
1.3.4/ Kinh tế ngoài quốc doanh là đối tác cạnh tranh đối với thành phần kinh
tế nhà nước giúp cho sự phát triển của nền kinh tế ngày càng sôi động:
Thực tế những năm qua cho thấy sự tồn tại và phát triển của kinh tế
ngoài quốc doanh là cần thiết phù hợp với qui luật phát triển kinh tế ở nước
ta trong giai đoạn mới. Việc phát triển kinh tế ngoài quốc doanh chẳng
những không làm suy yếu kinh tế quốc doanh mà còn có tác dụng ngược lại
thúc đẩy kinh tế quốc doanh phát triển mạnh hơn. Kinh tế ngoài quốc
doanh đóng vai trò hỗ trợ cho kinh tế quốc doanh phát triển, giải quyết
những yêu cầu của nền kinh tế đặt ra mà khu vực kinh tế quốc doanh không
thị trường, phần lớn thu nhập của người lao động được trả bằng hiện vật, do
đó làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã trở thành căn cứ trực tiếp
của kế hoạch, giữ vai trò điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp. Khối lượng vật tư hàng hoá tăng nhanh đòi hỏi phải có sự
tăng lên của tiền tệ để đáp ứng nhu cầu của lưu thông hàng hoá và cung ứng
dịch vụ. Trong nền kinh tế thị trường kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng
phát triển cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là thành phần kinh tế tư bản
tư nhân, cá thể.
Hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động dưới hình thức là doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đều mở tài khoản tiền gửi tại
các Ngân hàng thương mại. Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển
nếu các Ngân hàng thương mại tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng
19
tiền mặt, thay đổi phong cách làm việc, khẩn trương, tôn trọng và có trách
nhiệm với các khách hàng thì đây là một thị trường rộng lớn cho việc huy
động vốn của các Ngân hàng thương mại với lãi suất thấp.
Phát triển sản xuất, củng cố lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng
tiền là tiền đề thu hút lượng tiền mặt vào Ngân hàng. Ngược lại nguồn thu
tiền mặt vào ngân hàng càng cao là cơ sở để ổn định lưu thông tiền tệ, kiềm
chế lạm phát. Kinh tế ngoài quốc doanh là điều kiện để tăng quỹ hàng hoá
trên thị trường, góp phần tạo nên sự cân bằng quan hệ cung cầu hàng hoá và
dịch vụ trên thị trường.
2/ Xu hướng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt nam:
2.1/ Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu tư trong nước:
Với chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước đã kích thích phát huy nội
lực trong nền kinh tế. Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh theo qui định của
pháp luật. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu tư trong nước đã phát
thể tự huy động vốn trên
thị trường thông qua phát hành cổ phiếu. Nhưng tốc
độ phát triển của công ty cổ phần phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của
các Ngân hàng. Khi các Ngân hàng phát triển đến một mức nhất định thì các
ngân hàng không chỉ là người bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu công
ty mà còn có thể mua luôn các cổ phiếu, trái phiếu đó để công ty có đủ
nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Loại hình không phải doanh nghiệp ( kinh tế hộ gia đình ): Là khu vực
sản xuất kinh doanh nhỏ bao gồm tất cả các hoạt động của tư nhân nằm
ngoài khu vực doanh nghiệp như: sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, thương mại vận tải và các dịch vụ khác. Theo thống kê hiện
nay có khoảng 1,1 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động. Trong giai đoạn đầu
của cơ chế quản lý mới khu vực kinh tế này phát triển rất nhanh, thu hút mọi
đối tượng tham gia, tận dụng triệt để các nguồn lực sản xuất của xã hội nhằm
tăng thêm thu nhập cho người lao động. Đối với nước ta hiện nay ngành
21
nông lâm nghiệp giữ vai trò quan trọng thì sự phát triển của khu vực này
hiện nay là tất yếu. Trong tương lai với công cuộc công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nước thì khu vực này sẽ từng bước giảm dần chuyển sang lao
động trong các ngành công nghiệp hiện đại.
Theo cơ chế mới nền kinh tế thị trường đa thành phần đã có những
chuyển biến tích cực. Theo dự đoán của các nhà kinh tế Việt nam và thế
giới, nếu tốc độ phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh nhanh hơn tốc độ
phát triển của kinh tế quốc doanh bình quân 1%/năm thì xu hướng biến động
về tỷ trọng các thành phần kinh tế trong cơ cấu tổng sản phẩn xã hội nước ta
trong 10 - 20 năm nữa là : Kinh tế quốc doanh 10%, kinh tế ngoài quốc
doanh 90%. Trong đó thành phần kinh tế tư bản nhà nước không quá 30%,
kinh tế tư nhân 20%, kinh tế tập thể 20%, kinh tế cá thể và gia đình 30%.
Mô hình kinh tế hộ gia đình, các xí nghiệp vừa và nhỏ là phù hợp với đặc
cải cách thủ tục hành chính, chính sách thuế, giảm giá cho thuê đất. Chắc
chắn trong tương lai khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ phát triển
một cách nhanh chóng, sẽ có ngày càng nhiều những dự án kinh doanh có
hiệu quả tạo công ăn việc làm cho người lao động.
II /Tín
dụng ngân hàng đối với kinh tế ngoàI quốc doanh.
1/Tín dụng ngân hàng và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế
ngoài quốc doanh ở nước ta:
1.1/Tín dụng Ngân hàng
:
Tín dụng Ngân hàng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua nhiều hình
thức xã hội khác nhau. Tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau ta có những
cách hiểu khác nhau. Theo quan niệm truyền thống tín dụng là mối quan hệ
kinh tế trong đó một người chuyển giao cho người khác, tổ chức kinh tế khác
quyền sử dụng một lượng giá trị hoặc hiện vật nào đó với những điều kiện
23
được hai bên thoả thuận trước, những điều kiện đó thường là về số lượng,
chất lượng, thời gian hoàn trả và lượng giá trị tăng thêm. Hay nói cách khác
tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu
sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi được một lượng giá trị
lớn hơn giá trị ban đầu.
Theo luật các tổ chức tín dụng: Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng
thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả
bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân
hàng và các nghiệp vụ khác.
Hoạt động tín dụng có từ rất xa xưa và phát triển qua các chế độ xã hội
khác nhau. Tín dụng nặng lãi tồn tại phổ biến trong xã hội phong kiến và
hiện nay vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn, một đặc điểm của hình
một loại hình kinh tế nào khác cũng cần phải có một số vốn nhất định. Vốn ở
đây có thể hiểu bao gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kiến thức kỹ năng
của người lao động, tiền bạc, tiếp đến khi doanh nghiệp có yêu cầu mở rộng
qui mô sản xuất thì yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải có vốn. Từ đó cho thấy
vốn là một yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ giai đoạn sản xuất kinh doanh
nào, nó quyết định sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của một loại hình doanh
nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tình trạng thừa thiếu vốn luôn
là điều không thể tránh khỏi đối với một doanh nghiệp. Để giải quyết sự
thiếu hụt vốn trước mắt và lâu dài thì doanh nghiệp đứng trước ba con đường
lựa chọn: Tự bản thân doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường thông qua
con đường phát hành cổ phiếu, trái phiếu; vay vốn các Ngân hàng thương
mại; vay vốn từ người thân bạn bè hoặc vay nặng lãi ngoài thị trường “ Chợ
đen ”.
25
Tự bản thân doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường thông qua con
đường phát hành cổ phiếu, trái phiếu đòi hỏi doanh nghiệp phải có qui mô
lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có uy tín trên thị trường, hơn nữa
phải có một thị trường vốn hoàn chỉnh với một hệ thống tổ chức tài chính
trung gian đủ mạnh có khả năng đảm đương việc bảo lãnh phát hành cổ
phiếu, trái phiếu của công ty và nó còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân
trí và sự sôi động của thị trường thứ cấp.
ở nước ta hiện nay hình thức này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi mà vẫn
chỉ dừng lại ở việc phát hành cổ phiếu trong nội bộ một số công ty cổ phần.
Vì thị trường chứng khoán chưa được thành lập do còn hạn chế ở hệ thống
pháp luật, hệ thống Ngân hàng còn non yếu, trình độ dân trí thấp. Kinh tế
ngoài quốc doanh với qui mô nhỏ mới được hình thành, chưa có uy tín trên
thị trường, chưa có quá trình tích luỹ.
Chính vì lẽ đó, đối với kinh tế ngoài quốc doanh tín dụng Ngân hàng