Luận văn " Đánh giá thành tựu đạt được và vấn đề tồn tại trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam trong thời gian qua'''' - Pdf 12

Đoàn Hùng Dũng
CQ520589
Kinh tế quốc tế
Đề tài: Đánh giá kết quả đạt được và vấn đề tồn tại trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt nam trong thời gian qua

Bố cục bài tiểu luận:
I. LÝ THUYẾT CHUNG
1. Khái niệm đầu tư quốc tế
3. Khái niệm đầu tư quốc tế trực tiếp (FDI)
3. Nguồn gốc và động lực của đầu tư trực tiếp nước ngoài
II. VAI TRÒ CỦA FDI
1. Với nước nhận đầu tư
2. Với nước đi đầu tư
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ TRỰC TIẾP
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG TỒN TẠI TRONG VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP TẠI VIỆT NAM
V. CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY THU HÚT FDI

I. Lý thuyết chung
Xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng và sâu
sắc. Việt Nam với chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế đã từng bước
hội nhập vào nền kinh tế - thương mại toàn cầu: là thành viên của ASEAN, APEC,
ASEM, đã ký hiệp định thương mại Việt - Mỹ và gia nhập tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) . . . Các nước đánh giá cao vai trò và vị trí của Việt Nam ở khu vực và thế giới,
đồng thời đánh giá cao tiềm năng phát triển của Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) là một loại hình hoạt động kinh tế quốc tế ra, đời và phát triển có tính tất yếu, lâu
dài cùng với xu thế toàn cầu về kinh tế. FDI có vai trò vị trí quan trọng, tích cực đối với cả
nước tiếp nhận FDI lẫn nước đi đầu tư. Công nghiệp hoá - hiện đại hoá là nhiệm vụ của
Đảng, Nhà nước và dân ta trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Trong suốt quá trình
này, chúng ta cần nhiều vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Nên việc thu hút vốn của

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa hai bên hay nhiều bên để
cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trên cơ sở qui định
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập một pháp
nhân mới. Như vậy, hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức liên kết kinh doanh giữa
chủ đầu tư trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài theo từng trường hợp cụ thể,
trong đó các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân riêng chứ không tạo nên bất cứ một
pháp nhân mới nào. Ở đây cũng không chỉ góp vốn và các phương tiện sản xuất mà còn
thoả thuận về nghĩa vụ và quyền hạn của mỗi bên bằng hợp đồng trong việc tiến hành một
công việc sản xuất kinh doanh và những quyền lợi mà họ được hưởng. Hình thức này rất
đa dạng và phù hợp với những dự án có qui mô nhỏ thời hạn hoạt động ngắn.
2. 2 Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư trong đó bên nước ngoài và Việt Nam
cùng góp vốn thành lập liên doanh theo một tỷ lệ đã thỏa thuận. Theo luật định doanh
nghiệp liên doanh được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký hoặc là
doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt
Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp
đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh đươc thành lập theo hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Thời gan hoạt động của
các doanh nghiệp khoảng từ 30-50 năm. Doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ về tài chính vì
vốn pháp định do mỗi bên liên doanh góp (mức góp của bên Việt Nam ít nhất là 30%).
Trong quá trình liên doanh, doanh nghiệp không được giảm vốn nếu muốn tăng vốn phải
làm biên bản giải trình lên Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư để xem xét và giải quuyết. Thông
thường, khi thành lập liên doanh phía Việt nam có lượng vốn rất nhỏ, vì vậy sẽ dẫn đến tỷ
lệ phần quyền lợi rất ít. Do đó, vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh được qui định
luôn nhỏ hơn vốn đầu tư thực tế để đảm bảo quyền lợi cho phía Việt Nam cũng như đảm
bảo tỷ lệ chia lãi hợp lý hơn. Đối với loại hình này, nhà nước đã giành được nhiều ưu đãi
mà cả bên nước ngoài và bên Việt Nam đều được hưởng.
2. 3. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam (luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) Doanh nghiệp

Theo định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trên ta thấy đặc điểm cơ bản nhất
của nó là việc người nước ngoài đưa vốn vào một nước khác để mở rộng cơ sở sản xuất
kinh doanh mở rộng thị trường. Việc sản xuất hàng hoá tại nước mình rồi xuất sang nước
khác như vậy làm cho chi phí vận chuyển tăng lên. Thay vào đó, chủ đầu tư đưa vốn sang
nước khác để sản xuất và bán ngay tại thị trường nước sở tại thì họ không những giảm
được chi phí vận chuyển mà còn tránh được thuế nhập khẩu hàng hoá vốn do các nước đặt
ra để bảo vệ nền kinh tế của họ. Điều này lý giải tại sao lại có dòng vốn đầu tư cùng chảy
vào và chảy ra tại cùng một nước, tại sao đầu tư vốn mà không nhập khẩu hàng hoá.
Theo học thuyết của D. Ricardo, mỗi nước có lợi thế riêng về các yếu tố sản xuất
mà ông gọi đó là lợi thế so sánh, ở các nước phát triển đó là lợi thế về vốn, công nghệ,
kinh nghiệm sản xuất còn ở các nước đang phát triển đó là lao động rẻ, tài nguyên tại chỗ
phong phú, thị trường sơ khai. Do vậy, khi chi phí sản xuất ở một nước (thường là nước
phát triển) cao họ tìm cách đưa vốn sang nước khác để tận dụng hết lợi thế so sánh của
mỗi nước bằng cách đó họ đã nâng cao được tỷ lệ lợi nhuận biên/chi phí biên. Mọi nhà
kinh doanh đều có xu hướng đa dạng hoá danh mục đầu tư. Thiết lập nhiều cơ sở sản xuất
kinh doanh ở các nước khác, tức là họ đã thực hiện mục tiêu của mình một cách hợp lý.
Sự thay đổi thường xuyên của tỷ giá hối đoái cũng là nhân tố khiến cho việc di chuyển tư
bản trên phạm vi quốc tế diễn ra mạnh hơn. Chẳng hạn, khi đồng USD tăng giá so với
đồng Việt Nam thì hàng hoá nhập khẩu của Mỹ tại thị trường Việt Nam trở nên đắt hơn so
với trước. Nhưng nếu hàng hoá đó sản xuất tại Việt Nam sử dụng đầu vào tại chỗ thì nó sẽ
không thay đổi về giá cả, thậm chí khi đó chủ đầu tư còn có lợi nếu xuất khẩu trở lại Mỹ.
Tuy nhiên, vấn đề này có tính hai mặt tức là khi tỷ giá hối đoái biến động ngược lại thì
chủ đầu tư lại bị thiệt hại.
Trước những năm 1970, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường chỉ diễn ra ở các nước
phát triển với nhau hoặc từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Sau đó cùng
với sự thịnh vượng của khối OPEC (tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa) và các nước
công nghiệp mới (NICs) thì một lượng vốn đầu tư lớn do các nước này đưa sang nước
phát triển và đang phát triển khác. Thể hiện rõ nét cho các xu hướng này là đầu tư từ các
nước Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapo. . . sang khu vực Tây Âu và các nước
đang phát triển ngày càng tăng. Sự phát triển của thương mại và thị trường tài chính quốc

Thứ ba : Việc thiết lập các cơ sở sản xuất ở nước sở tại, chủ đầu tư cần sử dụng lao
động ở chính nơi đây. Sự xuất hiện hàng loạt các nhà máy mới, nông trại mới đã thu hút
được nhiều lao động vào làm việc. Hơn thế nữa, các nhà đầu tư nước ngoài còn phải đào
tạo những người lao động thành những công nhân lành nghề cho doanh nghiệp của mình.
Điều này góp phần tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao chất lượng lao động cho nhân
dân nước sở tại, do đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở những nước này.
Thứ tư : FDI đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của
nước nhận. Điều này có nghĩa là việc thiếu hụt thương mại có thể được bổ xung bằng
nguồn vốn FDI. Khi FDI chảy vào một nước nó có thể làm giảm thâm hụt cán cân vãng
lai. Nó cũng có thể làm triệt tiêu khoản thâm hụt đó qua thời gian khi các công ty nước
ngoài thu được những khoản xuất khẩu ròng. Thêm nữa khi những lợi thế của nền sản xuất
nước ngoài được đưa vào nước chủ nhà như công nghệ, kỹ năng sản xuất . . . chúng cũng
làm nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của các hãng trong nước do đó có thể làm tăng xuất
khẩu góp phần tạo ra ngoại tệ cải thiện cán cân thương mại .
Thứ năm : Tác động giữa FDI và công nghệ được coi như một trong những nội
dung quan trọng trong việc xem xét đầu tư nước ngoài cả cho nước nhận đầu tư và nước đi
đầu tư. Lý do của điều này là công nghệ mang lại những lợi ích cho cả hai đặc biệt là nước
nhận đầu tư . Đầu tiên người ta hy vọng FDI đem đến những công nghệ tiên tiến cho nước
sở tại. FDI có thể mang đến cho nước chủ nhà các bí quyết sản xuất và công nghệ tiên
tiến. FDI có thể thúc đẩy quá trình cải tiến công nghệ của các nước đang phát triển làm
tăng năng suất lao động. Thông qua FDI các nước chủ nhà sẽ có được những tiến bộ trong
nền sản xuất và xuất khẩu. Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ cung cấp cho nước chủ nhà các
kỹ năng, khả năng quản lý mới thông qua việc đầu tư của mình các nhà đầu tư nước ngoài
mang đến những kinh nghiệm quản lý kỹ năng áp dụng công nghệ mới thực hiện thông
qua các chương trình đào tạo vừa học vừa làm .
Thứ sáu : Do tác động của vốn và khoa học công nghệ, đầu tư trực tiếp sẽ tác động
mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu kỹ thuật, cơ
cấu sản phẩm và lao động. Bên cạnh đó, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ
nhà sẽ có thêm điều kiện để mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Các nước nhận đầu
tư sẽ có thêm nhiều sản phẩm để không những phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà

chỗ các nước tiếp nhận đầu tư phải kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách hữu
hiệu để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
2. Với nước đi đầu tư

2. 1 Tích cực
Thứ nhất, để mở rộng thị trường tiêu thụ, ngay tại nước chủ đầu tư, nhà đầu tư có
thể đã có một vị trí nhất định trên thị trường. Cũng có thể loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà
nhà đầu tư có cung cấp đang bị cạnh tranh gay gắt tại thị trường trong nước. Việc tìm
kiếm những thị trường ngoài nước với những nhu cầu lớn về loại hàng hoá hoặc dịch vụ
của nhà đầu tư sẽ đáp ứng được việc mở rộng sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.
Ngoài ra, các chủ đầu tư có thể có lợi thế độc quyền nhờ sở hữu một nguồn lực hay kỹ
thuật mà các đối thủ cạnh tranh của họ không có được ở thị trường sở tại. Điều này sẽ
mang lại cho nhà đầu tư nhiều lợi nhuận hơn.
Thứ hai là xâm nhập thị trường có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Theo lý thuyết về tỷ
suất lợi nhuận giảm dần, nếu cứ tiếp tục đầu tư vào một dự án nào đó ở một quốc gia nào
đó, tỷ suất lợi nhuận chỉ tăng đến một mức độ nhất định rồi sẽ giảm dần. Vì vậy, các nhà
đầu tư luôn chú trọng tìm kiếm những thị trường đầu tư mới mẻ đề đạt được tỷ suất lợi
nhuận cao hơn. Đồng thời, ở các nước công nghiệp phát triển thường có hiện tượng thừa
“tương đối” vốn nên việc đầu tư ra nước ngoài giúp các nhà tư bản nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
Thứ ba, sử dụng các yếu tố sản xuất ở nước nhận đầu tư. Do sự phát triển không
đều về trình độ của lực lượng sản xuất, ở các quốc gia khác nhau chi phí sản xuất là không
giống nhau. Giữa các quốc gia có sự chênh lệch về giá cả hàng hoá, sức lao động, tài
nguyên, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý . . . Các nhà đầu tư thường lợi dụng sự chênh lệch
này để thiết lập hoạt động sản xuất ở những nơi có chi phí sản xuất thấp nhằm hạ giá
thành sản phẩm. Đầu tư ra nước ngoài có thể giúp các nhà đầu tư hạ thấp chi phí sản xuất
do khai thác được nguồn lao động dồi dào với giá rẻ ở nước sở tại. Đồng thời, khi đầu tư
sản xuất ở nước sở tại, nhà đầu tư có thể sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành
sản xuất của mình ở chính nước này. Việc này giảm bớt được chi phí vận tải cho việc
nhập nguyên nhiên liệu, nhất là khi các nhà đầu tư muốn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng ở

1. Sự ổn định về chính trị-xã hội.
Yếu tố này giữ vai trò quyết định đối với hoạt động của các nhà đầu tư. V ì thực tế
tình hình chính trị có ổn định, xã hội có trật tự, kỷ cương thì các chính sách, chủ trương
của Nhà nước mới có giá trị thực thi bền vững, đặc biệt là các chủ trương chính sách nhất
quán về đầu tư nước ngoài. Qua kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế
giới, ta thấy rằng ở các quốc gia luôn xảy ra những biến động về chính trị (mâu thuẫn sâu
sắc giữa các Đảng phái, sắc tộc, đảo chính, nội chiến, chiến tranh biên giới. . . )thì rất khó
thu hút các dự án đầu tư hoặc đang là quốc gia thu hút nhiều dự án nhưng bất ngờ xảy ra
những biến động kể trên thì ngay lập tức các nhà đầu tư sẽ thu hẹp lại phạm vi hoạt động,
chuyển vốn về nước hoặc sang nước khác, còn các nhà đầu tư mới được cấp giấy phép
hoặc đang nghiên cứu tiền khả thi sẽ “lặng lẽ” rút lui. Thực trạng này có thể thấy ở các
nước trong khu vực như: Philipines, Malaixia, Indonexia, Thái Lan. . . hoặc các nước khác
trên thế giới như CHLB Nga, Brazin. . . hoặc các nước đi theo chủ nghĩa cực đoan như
Apganistan, Algieri. . . thì chẳng có một nhà đầu tư nào giám mạo hiểm thực hiện các dự
án của mình. Ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu những năm 80 (khi ta mới chỉ có Nghị định
của Chính phủ về đầu tư nước ngoài và đất nước mới được giải phóng) các nhà đầu tư còn
thăm dò và chỉ đến khi chính sách của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thay đổi căn bản
(chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN), có Bộ luật đầu tư nước ngoài khá hoàn
chỉnh và đặc biệt là tình hình chính trị-xã hội ở đất nước ta rất ổn định nên mới thu hút
một lượng vốn đầu tư nước ngoài đáng kể (khoảng 37 tỷ USD) như ngày nay. Thêm vào
đó, tình hình qu ốc tế, khu vực có nhiều chuyển biến tích cực có lợi cho việc mổ rộng
quan hệ kinh tế của Việt Nam nói chung và của hợp tác đầu tư nói riêng. Hiện nay, Việt
Nam là thành viên của ASEAN, tham gia APEC, ASEM. . . đang đàm phán gia nhập
WTO, đã ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, cùng với các chính sách đối ngoại mềm
dẻo trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ đã tạo ra lợi thế so sánh đáng kể của Việt Nam trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước
ngoài.
2. Sự phát triển về kinh tế.
Sự phát triển kinh tế ở đây được hiểu là sự phát triển đồng bộ về các mặt: tăng

hành luật lại vô cùng rắc rối, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau. Đáng ngại hơn là việc áp
dụng luật của các cơ quan thi hành pháp luật với những thủ tục hành chính rườm rà, kém
hiệu quả và thái độ nhũng nhiễu của cán bộ thi hành. Điều này đôi khi dẫn đến tác hại
không nhỏ đối với môi trường đầu tư, làm nản lòng các nhà đầu tư. Do vậy để cải thiện
môi trường pháp lý về đầu tư, ngoài việc sửa đổi và bổ sung thường xuyên các quy định
của pháp luật còn phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thi hành pháp luật để hạn chế những yếu
kém về nghiệp vụ và nâng cao nhận thức của họ.
Ngoài các yếu tố kể trên của môi tường đầu tư còn phải kể đến một số yếu tố khác
như văn hoá, du lịch. . . Có tính chất bổ trợ cho môi trường đầu tư hấp với các nhà đầu tư.
Thực tế cho thấy ở các quốc gia giầu truyền thống văn hoá, thái độ hiểu biết, cởi mở của
người dân và là đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh thì số dự án đầu tư tăng lên nhiều
hơn so với các quốc gia chỉ có ba yếu tố cơ bản kể trên. Ở Việt Nam mặc dù chúng ta có
lợi thế về văn hoá, du lịch nhưng thực tế chưa khai thác hết thế mạnh này, ngoài ra chưa
kể đến có những lúc thái độ đối với các nhà đầu tư nước ngoài còn thiếu thiện chí, chưa
đánh giá đúng về vai trò của đầu tư nước ngoài đối với đất nước mình. . .
Để có được môi trường hấp dẫn, thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài cần phải tiếp
tục cải thiện các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư như đã phân tích ở trên, đồng thời
phải đặc biệt chú ý cải thiện môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, tiến tới áp dụng
một mặt bằng pháp lý và điều kiện kinh doanh cho tất cả các nhà đầu tư nước ngoài vào
đầu tư trong nước. Thêm vào đó cần chú trọng cải cách thủ tục hành chính, đào tạo đội
ngũ cán bộ và quan tâm đúng mức đến hoạt động xúc tiến đầu tư để cho mọi người quan
tâm đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có được ấn tướng tốt đẹp về môi trường đầu tư ở
Việt Nam.
IV. Kết quả đạt được và những tồn tại của nước ta trong
việc thu hút vốn FDI
Gần 25 năm đã qua kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời vào tháng
12 năm 1987. Thành tựu nhiều, nhưng không phải là không có những hạn chế trong thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Giờ là lúc cần phải dựa trên hệ tiêu chí khoa
học để đánh giá khách quan, toàn diện kết quả, tác động của FDI, phát hiện những vấn đề
cần giải quyết làm căn cứ để đề ra định hướng mới, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả

được một lượng lớn vốn FDI. Con số giải ngân cũng khá tích cực (xem bảng).
Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính chung, từ năm 1988 đến năm
2011, tổng vốn đăng ký còn hiệu lực của 13. 496 dự án FDI là 195,9 tỷ USD, vốn thực
hiện là 88,2 tỷ USD, chiếm 43,2% vốn đăng ký.
Và đến sáng 27/3/2013 mới đây, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tổ chức
Hội nghị Tổng kết 25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Vốn
FDI đang chiếm 25% tổng vốn đầu tư xã hội. Tính đến hết tháng 2/2013 Việt Nam đã thu
hút được 14. 550 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt gần 211 tỷ USD, vốn thực
hiện đạt gần 100 tỷ USD.
Dòng vốn FDI đã góp phần hình thành các khu đô thị hiện đại, nhiều khách sạn 4-5
sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp
Những đóng góp to lớn
Theo HSBC, nếu tính tỷ lệ với GDP, Việt Nam là nước lớn đứng thứ hai về thu hút
vốn FDI tại Đông Nam Á sau Singapore. Thành quả này có được là do Việt Nam có
nguồn lao động giá rẻ nhất trong số các nước Đông Nam Á và môi trường kinh doanh
cạnh tranh hơn so với Ấn Độ, Philippines, Indonesia, mặc dù Việt Nam vẫn còn thua đáng
kể so với Thái Lan và Malaysia
Có thể nói, FDI góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước. FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho nền kinh tế, tỷ trọng FDI
trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội 1991 - 2000 là 30%, 2001 - 2005 là 16%, 2006 - 2011 là
28%, hiện nay chiếm khoảng 25%, khơi dậy và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
trong nước. Các doanh nghiệp FDI đóng góp vào GDP thời kỳ 2001 - 2005 là 14,5%, tăng
lên 20% năm 2010, đạt khoảng 19% vào năm 2011. FDI tạo ra khoảng 40% giá trị sản
lượng công nghiệp, có tốc độ tăng khá cao, 2001- 2010 tăng 17,4% / năm trong khi toàn
ngành công nghiệp tăng 16,3%/năm. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh,
2001 - 2005 là 57,8 tỷ USD,2006 - 2010 là 154,9 tỷ USD, bằng 2,67 lần, chiếm khoảng
64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 (kể cả dầu thô) góp phần mở rộng thị trường
quốc tế, bên cạnh thị trường truyền thống, thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng
dần tỷ trọng hàng chế biến; đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng đóng góp tích cực vào ngân sách nhà

nên đánh giá hiệu quả trực tiếp của FDI là năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn FDI
và đánh giá hiệu quả của khu vực FDI đóng góp cho nền kinh tế quốc dân."

2. Hạn chế
Còn đó những nỗi lo
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, hoạt động FDI cũng đã bộc lộ những nhược
điểm và khuyết điểm, như chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế,
một số máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu đã được nhập khẩu, gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. . . Chuyện ô nhiễm ở sông Thị Vải, sông Cầu, sông Nhuệ là ví dụ điển hình.
- Trước hết đầu tư nước ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lí. Mục đích của các nhà
đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ chủ yếu đầu tư vào các
ngành công nghiệp, dich vụ nơi có mức tỷ suất lợi nhuận cao.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng “chảy máu chất xám”.
Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi về thu nhập, việc làm do đó đã lôi
kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà nghiên cứu, công nhân lành nghề của
nước ta về làm việc cho họ.
- Chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dưới sự tác động của cách mạng khoa học – kỹ
thuật, quá trình nghiên cứu ứng dụng ngày càng được rút ngắn, máy móc thiết bị nhanh
chóng trở nên lạc hậu. Để loại bỏ chúng, nhiều nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các
nước nhận đầu tư như một phần vốn góp. Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của
các nước nhận đầu tư ngày càng lạc hậu.
- Chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn. Các nước nhận đầu tư đã
phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài như: giảm thuế, miễn thuế, giảm
tiền thuê đất, nhà xưởng ….
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự canh tranh với các doanh
nghiệp trong nước. Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt các
doanh nghiệp trong nước vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt về thị trường, lao động và
các nguồn lực khác.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có thể gây ra những bất ổn về chính trị,
mang theo nhiều tệ nạn xã hội mới xâm nhập vào nước ta.

gia chuỗi giá trị thấp, định hướng thu hút FDI theo ngành, đối tác còn hạn chế; Mục tiêu
thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn), chuyển giao công nghệ chưa đạt
yêu cầu; hiệu ứng lan tỏa của khu vực FDI sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn
chế; một số dự án chất lượng chưa cao, quy mô bình quân dự án nhỏ, tỷ lệ giải ngân thấp
so với yêu cầu; đời sống người lao động chưa cao, tranh chấp và đình công có xu hướng
gia tăng, có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế.
Nguyên nhân gây ra những hạn chế nêu trên, theo Thứ trưởng Bộ KHĐT Đào
Quang Thu, do: điều kiện kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và sự phát triển của doannh
nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu của FDI; hệ thống luật pháp, chính sách và thủ tục
đầu tư chưa đồng bộ, chưa thực sự minh bạch, thiếu nhất quán và hay thay đổi; công tác
quản lý nhà nước về FDI còn nhiều bất cấp.
Trước thực trạng đó, Bộ trưởng Bộ KHĐT Bùi Quang Vinh nhấn mạnh: “FDI rất
quan trọng trong cơ cấu kinh tế nước ta. 25 năm qua, chúng ta rút ra nhiều bài học vô cùng
quan trọng. Việt Nam cần có sự chuyển đổi mạnh hơn, tạo ra sự cạnh tranh mạnh hơn; tạo
ra môi trường kinh doanh tốt hơn đang là nhu cầu cấp bách”.

Thu hút FDI chất lượng cao: Nan giải chính sách
Mặc dù hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực sự là một kênh tạo vốn
quan trọng giúp Việt Nam thực hiện được mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ, cải thiện năng
lực công nghiệp và xuất khẩu nhưng cho đến nay, thu hút FDI cũng đang bộc lộ những tồn
tại làm cản trở quá trình hiện thực hóa mục tiêu thu hút được dòng FDI chất lượng cao để
phát triển bền vững, đồng thời giải quyết được công ăn việc làm hàng năm cho 1,6 triệu
lao động.
Công nghệ thấp và trung bình chiếm ưu thế
Dự thảo báo cáo Đầu tư công nghiệp 2011 (VIR 2011) được Tổ chức phát triển công
nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) công bố tại Hội thảo tham vấn ngày 9/3, tại Hà Nội cho
thấy trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp FDI sản xuất với công
nghệ thấp (dệt may, da giày, đồ gỗ) đang chiếm ưu thế lớn nhất khi không chỉ chiếm số
lượng lớn nhất mà còn mang lại giá trị gia tăng cho người lao động cao hơn 8 lần so với
doanh nghiệp FDI sản xuất với công nghệ cao (điện tử, hóa dược), hơn gần 6 lần so với

vốn đăng ký lại giảm, giai đoạn 1988 - 2005 là 45%, gần đây chỉ còn 30%.
- Ăn sổi
+ FDI vào công nghiệp và xây dựng đứng đầu. Kế theo là dịch vụ và sau
chót là nông nghiệp. Đầu tư vào công nghiệp, các nhà FDI lại ngại công nghệ phụ trợ. Họ
“bao sân” nguyên vật liệu, phụ tùng, chi tiết máy móc nhập vào lắp ráp, hoàn thiện, buộc
chặt ta vào guồng máy kinh tế của họ, “ẵm gọn” chuỗi lợi nhuận tạo ra từ quá trình đó.
+ Nở rộ khách sạn nhiều sao, nhà hàng sang trọng, khu nghỉ dưỡng cao cấp
(resort), sân Golf nhiều lỗ. Có khu nghỉ dưỡng chiếm luôn một khúc bãi biển.
- Thất vọng chuyển giao công nghệ
+ Mặt bằng công nghệ của các FDI khi mang vào cao hơn mặt bằng của ta,
song ngần ấy chưa đủ để vực nền công nghiệp nhằm làm rường cột cho mộng ước “đi tắt,
đón đầu”. Một số nhà đầu tư đã đưa vào máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu, thải loại.
+ Gia công dệt may, da giày, phần mềm; lắp ráp điện tử không thể là tiêu chí
của quốc gia “cơ bản là nước công nghiệp”.
- Bấp bênh xuất khẩu
+ FDI (không kể phần dầu thô) đóng góp trên dưới 20% kim ngạch xuất
khẩu của cả nước. Nếu loại trừ phần nguyên liệu ngoại nhập rất cao trong cấu thành trị giá
hàng dệt may, da giày, điện tử, phần mềm , kim ngạch thực thụ của nó sẽ rất thấp, kéo
theo tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta vốn đã đì đẹt còn lùn hơn. Họ lo cả đầu ra, nên
xuất khẩu nước ta đã, đang và sẽ phụ thuộc vào bên ngoài. Được vài mặt hàng mới trong
màn chào hỏi, từ đó đến nay danh mục mặt hàng xuất khẩu của khối FDI vẫn y nguyên.
+ Nền xuất khẩu của Việt Nam - dù đã được tiếp sức của FDI, so sánh với
chính mình thấy rạng rỡ, nhưng chỉ cần liếc sang các nước trong khu vực thì thấy vẫn dẫm
chân tại chỗ, với những đặc trưng: Gia công - manh mún - hàng thô; trung gian - giá cả -
mấp mô thị trường.
- Khấp khểnh vùng, miền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status