TIỂU LUẬN:
Thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản
sang thị trường Mỹ
Phần 1: Cơ sở lý luận của thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ.
Việt Nam có hơn 3260 Km bờ biển, 12 của sông với hơn 2 triệu km2 thềm
lục địa, hơn một triệu km2 mặt nước.Diện tích mặt nước chiếm tỷ lệ cao trong
diện tích đất tự nhiên , nên ngành thuỷ sản có một thế mạnhvề kinh tế biển hiếm
có đối với nước ta .Từ năm 1990 đến nay ngành nghư nghiệp đẫ phát triển mạnh.
Hàng năm Việt nam đã đánh bắt từ 1,2 triệu đến 1,7 tấn hải sản trong đó công
suất đánh bắt những loại hải có giá trị cao trên thị trường như tôm có thể đạt 50-
60 ngàn tấn/năm mực các loại từ 30-40 ngàn tấn, chưa kể hơn 100 ngàn tấn các
loại trong đó có nhiều loại có giá trị kinh t ế rất cao.Chính nhờ những lợi thế mà
thuỷ Việt đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và thế mạnh của
nước ta. Trong những năm qua ngành thuỷ đã đạt được tốc độ phát triển cao, ổn
định và mức tăng tổng bình quân hàng năm về tổng sản lượng thuỷ sản trên
4%/năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu bình quân chiếm 10-15% trong ttổng kim
ngạch xuẩt khẩu của Việt nam hàng năm, đứng thứ 29 trên thế giới về xuất khẩu
với 1% giá trị xuất khẩu thuỷ sản của thế giới. So với các nước đông nam á thì
lạnh . Mặt hàng xuât khẩu lớn thứ hai là cá ngừ tươi đạt 6,3 triệu USD trong 2
tháng đầu năm 2001 tăng vượt bậc so với cùng kỳ năm 2000 (chỉ có 1,5 triệu
USD) ,cá biển đông lạnh có giá trị xuất khẩu đứng thứ 3 với giá trị 2,5 triệu USD
trong hai tháng đầu năm 2001.
Như vậy, qua số liệu trên ta thấy xuât khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang
Mỹ đang tiếp tục tăng nhanh về kim ngạch và giá trị. Tuy nhiên thi trường tiêu
thụ của Mỹ là rất lớn với 280 triệu dân. Vấn đề đặt ra hiện nay, đẩy mạnh kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ, chiếm lĩnh nhiều hơn nữa thi trường Mỹ.
Chúng ta phải khai thác triệt về lợi thế tự nhiên sẵn có đẻ phát triển ngành thuỷ
sản theo hướng xuât khẩu là chủ yếu mà thi trường Mỹ là thị trường mục tiêu.
Phần 2: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ qua những năm qua
2.1 Xuất khẩu thuỷ sản sang Mý của Việt nam gặp một số trở ngại và
cơ hội . Việt nam tuy có lợi thế về nuôi trồng thuỷ hải sản, nhưng để hàng thuỷ sản
xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, đặc biệt là thị trường Mỹ vẫn còn là vấn đề
nan giải.
Hàng hoá từ nước ngoài xuất khẩu vào Mỹ sẽ phải trải qua một thủ tục hải
quan khá chặt chẽ . Hệ thống thuế quan của Mỹ (gọi tắt là HTS ) hiện không chỉ
được thi hành ở Mỹ, mà hầu hết các quốc gia thương mại lớn của thế giới đang
áp dụng Nhiều loại thuế của Mỹ đánh theo tỷ lệ trên giá trị hàng hoá, tức là mức
thuế được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng nhập khẩu, mức thuế
suất biến động từ 1-40%, trong đó mức thông thường từ 2-7% giá trị hàng nhập
khẩu. Một số hàng hoá khác phải chịu thuế gộp- tức là loại thuế kết hợp cả mức
thuế tỷ lệ trên giá trị và mức thuế theo số lượng. Có những hàng hoá phải chịu
thuế định ngạch-đó là loại thuế suất cao hơn được áp dụng đối với hàng nhập
khẩu sau khi một lượng hàng hoá cụ thể thuộc loại đó đã được nhập khẩu vào Mỹ
trong cùng năm đó . Hỗu hêt các đối tác thương mại của Mỹ được hưởng quy chế
đối xử thương mại bình thường(NTR). Hàng hoá của các nước thuộc diện NTR
nam đang gặp nhiều khó khăn không chỉ có khách quan đem lại mà cũnh chính
chủ quan của ta gây trở ngại cho ta . Để tồn tại trong nền kinh tế thị trường có sự
cạch tranh gay gắt này, đặc là trên thị trường mỹ thì vấn đề chất lượng hàng hoá
dược đặt lên hàng đầu. Hàng thuỷ sản của ta có thể không kém về chất lượng,
nhưng do dây chuyền công nghệ của ta còn yếu kém. Tuy nhiên từ năm 1986,
Việt nam có 41 nhà máy chế biến thuỷ sẩn với công suất 280 tấn/ngày, năm 1996
số nhà máy chế biến đã tăng lên đến196 chiếc với cong suât chế biến khoảng
1841 tấn/ngày. Số dây chuyền IQF hiện nay là 21, công suất cấp đông lạnh đạt
100 tấn/ngày, kho đông lạnh có sức chứa 25393 tấn, khả năng sản xuất nước đã
đạt 3946 tấn/ngày.
Bên cạch khó khăn chúng ta có nhưng thuận lợi :đội ngũ công nhân dồi dào
về số lượng với bản chất cần cù chịu khó không ngại gian khó. Đội ngũ trong
ngành thuỷ sản đã góp phần tạo nên thành công trong hoạt sản xuất-xuất khẩu.
Đội ngũ nhân lực trong ngành không ngừng được nâng cao về trình độ kỹ thuật
chuyên môn. Tuy nhiên hiên tại, để đáp ứng việc khai thác chế biến thủy sản
phục vụ cho xuất khẩu chúng ta còn thiếu một lực lượng lao động có trình độ
chuyên môn cao. Một khó khăn nữa là công nghệ chế biến thuỷ sản nhập từ nước ngoài vừa
cũ vừa lạc hậu. Do đó không đảm bảo được chất lượng sản phẩm phục vụ cho
việc việc xuất khẩu. Việt nam được ví như bãi thải công nghiệp, do đó ngành
thuỷ sản cũng không tránh khỏi sự lạc hậu, sự cũ kỹ về công nghệ. Như vậy
muốn có sản phẩm chế biến từ thuỷ sản đủ tiêu chuẩn chất lượng cho xuât khẩu,
chúng ta phải có được công nghệ tiên tiến , vậy để có công nghệ tiên tiến thì phải
có lượng vốn lớn, khó khăn về vốn có thể là ngọn ngành của mọi vấn đề. Giải
quyết về vốn là bài toán khó đối với mọi quốc gia, đặc biệt là đối với nước
nghèo, nước đang phát triển như Việt nam hiện nay. Vốn có thể được huy động
từ hai nguồn: Thứ nhất, huy động trong nước , chủ yếu là trong dân và ngân sách
nhà nước, nhưng trong đó ngân sách lại có hạn và còn phải chi nhiều cho các lĩnh
Nhìn lại nhân tố thuận lợi của Việt nam , ta thấy rằng đường lối đúng đắn
của Đảng và chính phủ đã tạo ra một cơ hội thuận lợi cho mọi doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu
ra thi trường thế giới đặc biệt là thi trường Mỹ mà đặc biệt là hàng thuỷ sản Việt
nam.Hiện nay chính phủ đang thông qua cơ chế điều hành xuất –nhập khẩu của
Việt nam giai đoạn 2001-2005. Với cơ chế mới này mọi doanh nghiệp đều có thể
tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, tiến tới xoá bỏ các rào cản pháp lý, thủ
tục gây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu. Khả năng tiếp cận các thị trường
quốc tế trong đó có Mỹ của các doanh nghiệp Việt nam sẽ thuận lợi hơn. Môi
trường dầu tư của Việt nam: môi trường pháp lý, môi trường hánh chính, môi
trường tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực ngày càng hoàn
thiện, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong đó có các nhà đầu tư
Mỹ vào Việt nam sản xuất hàng xuất khẩu thuỷ sản. Chính sách ưu đãi đầu tư đối
với Việt kiều ngày càng thể hiện tính ưu việt: thu hút hàng ngàn kiều bào chuyển
vốn về nước, tạo ra hàng trăm dự án sản xuất linh hoạt trong đó có nhiều dự án
sản xuất hàng xuất khẩu thuỷ sản nhằm tiêu thụ tại thị trường Mỹ. Có khoảng 1,5
triệu người việt kiều sống tại mỹ đa số họ đều có long yêu nước,hướng về cội
nguồn, nếu có sự kết hợp tốt thì việt kiều ở Mỹ sẽ là cầu nối cho các doanh
nghiệp Việt nam thâm nhập vào thị trường Mỹ. Bản thân nội lực của các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thuộc ngàng thuỷ sản nói riêng của Việt
nam đã được nâng lên đáng kể sau 10 năm thực hiện chính sách mở cửa hội
nhập: trình độ tay nghề công nhân, trang thiết bị, máy móc đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm có chất lượng cao đã đáp ứng được yêu cầu thị trường
trong đó có thị trường Mỹ.
Như đã phhan tích ở trên thì Việt nam có lợi htế rất lớn về sông, hồ, biển.
Hệ thống sông ngòi được phân bố trên cả nước, bờ biển kéo dìa từ bắc vào nam.
Những tiềm năng lơin thế này nếu được khai thác triệt để thì khả năng xuẩt thuỷ
sang mỹ sẽ được gia tăng.
Tuy nhiên bên cạch những cơ hội mà hiệp định thương mại Việt nam Hoa
kỳ mở ra, nó còn đặt ra cho chúng ta những khó khăn, thách thức đồi hỏi sự nỗ
lực của toàn Đảng , toàn dân ta trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, nhất
là trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Thứ nhất việc được hưởn quy chế MFN chưa
phải là điểm quyết định để tăng khả năng cạnh tranh đối với hàng thuỷ sản Việt
nam, vì Mỹ đã áp dụng quy chế MFN với 136 nước thành viên WTO, ngoài ra
còn có ưu đãi dặc biệt đối với các nước chậm phát triển, nhưng việt nam chưa
được hưởng chế đọ này. Mức thuế trung bình là 5%, nhưng nếu được hưởng ưu
đãi thì mức thuế này tiến tới 0%. Hiện nay có hơn 100 nước xuất khẩu đủ các
mặt hàng thuỷ sản vào Mỹ, trong đó có nhiều nước có truyền thống lâu đời trong
buôn bán thuỷ sản với Mỹ như Thái lan(tôm sú đông, đồ hộp thuỷ sản ), Trung
quốc(tôm đông cá rô phi ),Canađa(tôm hùm, cua ), Inđônêsia (cua ,cá ngừ, cá
rô phi ), philippin(hộp cá ngừ,cá ngừ tươi đông, tôm đông và rong biển ) nên
sự cạnh trên thị trường sẽ ngày càng quyết liệt đặc biệt đối với một số mặt hàng
chủ lực như tôm, cá philê, cá ngừ. Trong hơn 100 mặt hàng thuỷ sản thực phẩm
nhập khẩu, Mỹ có nhu cấu cao về các mặt hàng đã qua tinh chế( tôm luộc, tôm
bao bột, tôm hùm, cá phi lê, hộp thuỷ sản) trong khi đó hàng xuất khẩu của Việt
nam chủ yếu là sơ chế, tỷ lệ sản phẩm giá trị gia tăng thấp (chỉ chiếm khoảng
30% giá trị xuât khẩu của Việt nam). Cụ thể với mặt hàng cá ngừ, hiện nay Việt
nam mới chỉ xuất khẩu phần lớn cá ngừ tươi hoặc đông vào Mỹ(90% gia trị xuất
khẩu cá ngừ) trong khi cá ngừ đóng hộp là mặt được tiêu thụ nhiều ở Mỹ thì giá
trị xuất khẩu của Việt nam không đáng kể(5%). Mỹ coi trọng cả nhập khẩu thuỷ
sản phi thực phẩm bao gồm các sản phẩm hoá học gốc thuỷ sản, ngọc trai, cá
cảnh (giá trị nhập khẩu năm 2000 đạt 9 tỷ USD, chỉ kém hàng thuỷ sản thực
phẩm 1 tỷ USD) nhưng ta chỉ mới trú trọng đến xuất khẩu thuỷ sản thực phẩm.
Vì vậy có thể nói chưa có sự phù hợpcao trong việc xuất khẩu hàng thuỷ sản việt nam với yêu cầu nhập khẩu của thị trường Mỹ. Thị trường Mỹ là một thị trường
“khó tính” của thế giới. Hàng thuỷ nhập khẩu vàoMỹ phải qua sự kiểm tra chặt
sau khi Hiệp định có hiệu lực thì Mỹ có thể thành lập công ty 100% vốn đầu tư
nước ngoài để kinh doanh xuất nhập khẩu một mặt hàng. Phần 3: Triển vọng, giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ:
3.1 Triển vọng xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ sau hiệp định thương mại
Việt Mỹ có hiệu lực.
Sau khi hiệp định thương mại Việt nam Hoa kỳ có hiệu lực, ó đem lại cho
Việt nam, mà cụt hể là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những cơ hội thâm
nhập thị trường Mỹ. Tuy rằng tác động của hiệp định có hai chiều, nhưng ở phần
này em chỉ xin phân tích những cơ hội, thuận lợi mà hiệp định đó đem lại ,để từ
đó chúng ta đề ra những phương hướng giải pháp nhằm năng cao mô hiệu quả
trong quá trình xuất khẩu hàng thuỷ sản vàn thị trường Mỹ.
Trước hêt chúng ta phân tích môi trường kinh tế quốc tế và khu vực,qua đó
xem xét tác động của nó tới nền kinh tế Việt nam nói chung và khả năng xuất
khẩu nói riêng trong đó có hàng thuỷ sản sang Mỹ. Xu hướng toàn cầu hoá khu
vực hoá đang diễn râ nhanh chóng và liên tục. Hội nhập kinh tế cũng như phát
triển đang là xu hướng phổ biến. Việt nam có cơ hội tham gia các diễn đàn kinh
tế thế giới và khu vực, dưa chúng ta lên một tầm cao mới trong cộng đồng quốc
tế.
Đó là nhân tố khách quan xuất phát từ yếu tố chủ quan trong nước.Có thể
thấy rằng từ cơ chế chính sách, luật pháp đặc biệt luật khuyến khích đầu tư ngày
một trú trọng điều chỉnh kịp thời. Nhằm thu hút tối đa vốn đầu tư nước ngoài
dưới mọi hình thức. Qua các kỳ Đại của Đảng đã khẳng định con đường công
nghiệp hoá hiện đại hoá là cần thiết, cấp bách . Các chỉ thị của thủ tướng, các hội
nghị ,kỳ họp cảu Đảng, chính phủ luôn luôn đề cập trú trọnh đến việc đẩy mạnh
nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là mục tiêu hàng
đầu.
Bên cạch cơ chế, chính sách, luật pháp ngày càng hoàn thiện , chúng ta có
kể cả các doanh nghiệp FDI chỉ đăng ký kinh doanh đầu tư.
Nhặn định và đảm tính minh bạch của hệ thống pháp lý, để xây dựng một
môi trường kinh doanh có thể dự đoán được. Tiến tới quản lý hoạt động nhà nước
đối với hoạt động đàu tư theo các chuẩn mực quốc tế, các rào cản thương mại quốc tế giảm bớt. Hoạch định xuất khẩu nói chung trong đó xuất sang thị trường
Mỹ nói rêng trong đó có hàng thuỷ sản sẽ tăng nhanh. Cho phép mọi thành phần
kinh tế được kinh doanh xuất nhập khẩu với mọi hàng hoá. Xoá bỏ dần quản lý
xuất khẩu bằng giấy phép hạn ngạch. Xây dựng cơ chế quản lý xuất nhập khẩu
mang tính dài hạn và công khai hoá các chính sách cơ chế đẻ giúp cho các xây
dựng được chiến lược dài hạn thâm nhập thị trường thế giới trong đó có Mỹ.
Hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực thì quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ
sẽ tạo ra động lực kích thích mỗi doanh nghiệp Việt nam để tạo lập được nhưng
thương hiệu nổi tiến, đây là cơ sở để hàng Việt nam có chỗ đứng vững chắc và
tạo thói quen tiêu dùng hàng Việt nam trên thị trường Mỹ. Hy vọng rằng trong
tương lai sẽ có nhiều thương hiệu Việt nam nổi tiếng có thể đứng vững trên thi
trường thế giới đặc biệt là thị trường Mỹ.,
Sau khi hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực chắc chắn rằng ngày
càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào thị trường Mỹ. Bởi vì, trước hết các
thông tin về thị trường, khách hàng, đối tác sẽ được cập nhật hơn. Sự am hiểu thi
trường Mỹ sẽ tăng lên đối vơi các doanh nghiệp Việt Nam hiệp định thương mại
như nhịp cầu nối giữa các doanh nghiệp hai nước tạo điều kiện cho sự hợp tác
kinh doanh xuẩt khẩu phát triển hơn.
Từ những phân tích ở trên về cơ hội mà hiệp định Việt Mỹ đem lại chúng ta
có thể nhận xét tình hình khả quan về xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ, đặc biệt là
hàng thuỷ sản. Mỹ là thị trường tiềm năng đối với Vịêt Nam , kim ngạch xuất
khẩu của việt nam 2000 mới đạt khoảng 700 triệu USD nhưng khả năng nhâp
khẩu của thị trường nay năm 2000 là 1300triệu USD (Việt nam mới chỉ chiếm
0,06% thị phần nhập khẩu của Mỹ). Dự tính rằng kim ngạch xuất khẩu sang thị
hải sản (27,88%) bao gồm đầu tư đóng mới, cải hoán tàu thuyền phục vụ cho
chương đánh bắt hải sản xa bờ và đầu tư cho xây dựng các cảng cá, bến cá , chợ
cá và điều tra nguồn lợi thuỷ sản; bằng nguồn vốn vay nước ngoài thì trong đó
đầu tư cho nuôi trồng thuỷ sản(25,49%) theo chương trình phát triển nuôi trồng
thuỷ sản đã được chính phủ phê duyệt cung như chương trình 773: khai thác bãi
bồi ven sông, ven biển và mặt nước vùng đồng bằng để nuôi trông thuỷ sản. Đầu
tư cho lĩnh vực chế biến thuỷ sản là: 2727.308 triệu đồng, chiếm tỷ 30,45% trong
đó nội dung chính là tăng cường củng cố cơ sở hạ tầng các xí nghiệp chế biến thuỷ sảnnhằm nâng cao năng lực sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm đáp
ưng tiêu chuẩn xuất khẩu. Nhờ nguồn đầu tư kịp thời qua 5 năm đã đưa lại những
kết quả rõ nét: số tàu thuỷ sản tăng thêmlà hơn 1,2 triệu CV(163,36%), trong đó
cơ cấu tàu có công suất lớn khai thác xa bờ đã tăng lên rõ rệt, xxay dựng được 27
cảng cá trong đó có nhiều cảng đã hoàn thành và đưa lại hiệu quả cao.Về nuôi
trồng thuỷ sản tính đến thang12/2000: diện tích nuôi trồng thuỷ đã tăng lên hàng
chục nghìn ha, chuyển đổi cơ bản diên tích trồng lúa năng suất thấp và đất hoang
hoá sang nuôi trồng thuỷ sản bước đầu có hiệu quả .Về chế biến thuỷ sản, trong 5
năm đã tăng thêm 80 nhà máy chế biến với công suất chế biến 300 tấn/ngày, đưa
tổng số cơ sở chế biến lên 266 cơ sở, trong đó 220 nhà máy có trang bị nhà
xưởng hiện đại, trang bị dây chuyền công nghệ cao, có50 doanh nghiệp chế biến
đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản vao EU, 77 doanh nghiệp xuất khẩu vào Bắc
Mỹ. Nhờ vậy, năm 2000, ngành thuỷ sản đã được những thành công lớn cả về
sản lượng, diện tích nuôi trồng và dặc biệt là giá trị kim ngạcg xuất khẩu đạt mức
kỷ lục 1,475 tỷ USD. Rõ ràng, đầu tư đã được chứng minh là có hiệu quả.
Nhìn chung, ngành thuỷ sản của việt nam có bề dày truyền thống sản xuất
nuôi trồng thuỷ sản. Lợi thế đó càng được phát huy hơn nữa trong cơ chế chính
sách phát triển nhất quán như hiện nay, Đặc biệt sự kiện hiệp định đã đi vào hoạt
động thúc đẩy hơn nữa tốc đọ phát triển của ngành thuỷ sản Việt nam cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu. Trong thời gian tới để phát huy kết quả đã đạt được, ngành
năm 2005. Hy vọng trong thời gian tới ngành thuỷ sản sẽ đấp ứng yêu ccầu đặt ra
với những tiềm năng sẵn có của mình. Việt nam có thể cải thiên đươc vị trí của
mình trên thị trường Mỹ, nhất là hiệp định thương mại Việt mỹ đã bắt đầu có
hiệu lực. Nhưng vấn đè là làm thế nào khai thác triệt để tiềm năng sẵn có, tận
dụng tối da cơ hội mà hiệp định này đã mang lại, đó là vấn đề em sẽ nói ở phần
sau.
3.2 Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ.
3.2.1. Giải pháp mang tầm vĩ mô:
Từ khi thự hiện chính sách mở của nền kinh tế tới nay chúng ta đã thu được
những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá luôn được đế ra trong các văn kiệ của Đảng. Mục tiêu của Đảng, chính phủ là
mở rộng giao lưu kinh tế với quốc tế với phương châm hoà nhập chứ không hoà
tan. Trong đó đảy mạnh xuất khẩu là mục tiêu hàng đầu. Chúng ta tập trung
những phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn hướng xuất khẩu là chủ yếu như:
may mặc, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ Trong đó ngành thuỷ sản được ta quan
tâm với thị trường tiềm năng là Mỹ. Đặc biêt sau khi hiệp định thương mại có
hiệu lực thì Đảng và chính phủ cang quan tâm xát xao đến ngành này.Để đạt
được mục tiêu mở rộng thị phần, đem lại nguồn thu lớn hơn nữa trong việc xuât
khẩu thuỷ sản. Chính sách vĩ mô ở đây là bảo vệ và mở rộng nguồn nguyên liệu
thuỷ sản: Nhà nước vá bộ thuỷ sản cần có chính sách giải pháp kịp thời, hiệu quả
để tăng nguồn lợi thuỷ sản. Trước hết phải ban hành luật bảo vệ nguồn lợi thuỷ
sản của Việt nam, hỗ trợ vốn và kỹ thuật nuôi trồng thuỷ hải sản cho nhân dân,
phát triển lực lượng khai thác thuỷ sản xa bờ. Tập trung vốn và các khoản việ trợ
ODA để nâng cấp cơ sở hạ tầng nghế cá, đặc biệt ở những vùng cung cấp nguyên
liệu chủ yếu. Ban hành chính sách nhập khẩu nguyên liệu theo hướng miễn thuế
nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản, miễn giảm thuế xuất khẩu đối với hàng htuỷ sản
chế biến bằng nguyên liệu nhập từ nước ngoài.
Quy hoạch và quản lý thống nhất hệ thống chế biến thỷ sản: giao việc cấp
Thực tế tế thấy rằng tuy Việt nam có nguồn nhân lực dồi dào về số
lượng nhưng trình độ tay nghề ,kỹ năng, kỹ xảo chưa cao không muốn nói rằng
còn yếu kém. Để các doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường đầy tính
cạch tranh này, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thuộc ngành
thuỷ sản nói riêng cần trang bị cho công nhân những kỹ năng , kỹ xảo cần thiết
hay thực hiện thật tốt chính sách đầo tạo và phát triển nguồn nhân lực .Thường
xuyên mở các lớp đào tạo ngắn ngày, mở các cuộc hội thảo, thảo luận về các chủ
đề đang được nhiều người quan tâm. Trong khâu tuyển dụng tuyển chọn phải
đảm bảo tuyển được những nhân viên tốt nhất về kỹ thuật, có tay nghế cao và
phỉa có tinh thần trách nhiệm cao. Họ phải được đào tạo qua trường lớp chuyên
môn,đặc biệt đối với ngành thuỷ sản. Đẩy mạnh giáo dục phi chính quy cho bà con ngư dân nhằm cung cấp kiến
thức phổ thông cho họ. Đó là hoạt động cộng đồng thông qua các câu lạc bộ, các
chương trình khuyến ngư qua các phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương
và địa phương.
Trong chiến lược sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Đào tạo phát
triển nhuồn nhân lực phải đặt nên hàng đầu, nó phải được coi là yếu tố đầu tiên
quyết định thành công hay thất bại của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp. Để nâng
cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ nhân viên , ngoài những việc đào
tạo trưc tiếp trong nươc đối với công nhân, còn đội ngũ lao động cao cấp ta có
thể gửi đi nước ngoài học tập và nghiên cứu đây chính là điều cần làm đối với
mỗi doanh nghiệp. Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá đồi hỏi chúng ta không
thể tách rời, phát triển độc lập mà luôn luôn hội nhập cùng phát triển. Xu hướng
này tạo cho chúng ta những trình độ khoa học công nghệ từ nước ngoài, được
học hỏi kỹ năng kinh nghiệm phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
góp phần thực hiện tốt phân công lao động xã hội.
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
đòi hỏi sự vận động linh hoạt khéo léo của mỗi doanh nghiệp . Về cơ bản tính ỷ
nhất trên thị trường nước Mỹ.
3.3 Đề xuất bản thân.
Chúng ta thấy rằng, xuất khẩu thuỷ sản Việt nam tuy chiếm tỷ trọng cao
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước nhưng bản thân nó chứa ẩn những
vấn đề hạn chế. Để khắc phục những hạn chế như đã phân tích ở trên, thúc đẩy
hơn nữa xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam ra thế giới nói chung và ra Mỹ nói
riêng, theo em cần đưa ra các biện pháp sau:
Thứ nhất Đảng và chính phủ cần phải mở rộng hơn nữa chính sách đầu tư
nước ngoài. Trong hệ thống pháp luật còn nhiều cứng nhắc, giáo điều, chưa đi sát
thực tế . Teo em việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài hay liên doanh liên kết với
nước không nhất thiết phải thông qua những bước đăng ký rườm rà. Cần thông
thoáng hơn trong cơ chế chính sách. Việt nam có lợi thế về điều kiện tự nhiên khí hậu, thuận lợi trong việc nuơi
trồng thuỷ sản. Chúng ta phải khai thác triệt để lợi thế to lớn đó. Hiện nay theo
em được biết còn rất nhiều diện tích mặt nước còn chưa sử dụng đúng mục đích
hoặc có chăng việc nuôi trồng còn mang tính tự phát, chưa có hhen thống nhất
quán.Chúng ta không chỉ trú trọng nuôi trồng thuỷ hải sản trên biển, vùng đầm
hồ ven biển mà còn phải tận dụng hệ thống sông ngòi dày đặc để nuôi trồng thuỷ
sản.
Trong nền kinh tế thị trường việc sản xuất kinh doanh phải gắn liền với thị
trường, chúng ta nuôi trồng, chế biến thuỷ sản phải quan tâm xem thị trường cần
loại nào ưa chuộng loại nào. Việc nghiên cứu phân tích nhu cầu thị trường cần
phải chú ý đặc biệt. Theo em việc sản xuất kinh doanh thuỷ hải sản cần xây dựng
có hệ thống, đồng loạt. Hàng thuỷ sản là loại hàng khó bảo quản, dễ hư hỏng, vì
vậy sản xuất ra cần phải tiêu thụ ngay. Nhà nước cần xây dựng thêm những khu
công nghiệp với công nghệ hiện đại, đáp nhu cầu xuất khẩu.
Hiện nay số tàu đánh bắt xa bỡ còn thấp, yếu về công nghệ chế biến, đóng
hộp tại chố. Phần lớn chúng ta mới chỉ đánh bắt hải sản trong vùng nội thuỷ ven
Tóm lại, theo em việc đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ không thể do một cá
nhân, một tổ chức có thể làm được mà cần có sự hợp tác, thống nhất, thông suất
giữa Nhà nước,các tổ chức và doanh nghiệp. Họ phảicùng nhau hành động thống
nhất từ chính sách vĩ mô cho đến các chính sách của doanh nghiệp. Nhà nước lo
công tác thị trường, đối tác còn doanh nghiệp cần trú trọng sản xuất sản phẩm.
Hành động của họ phải đồng bộ, nhất quán và cùng nhau giải quyết những khó
khăn trên con đường xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Hy vọng rằng, sự
đóng góp nhỏ nhoi này có thể góp một phần nào đó thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản
sang Mỹ của Việt nam