TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TỀ TP HỒ CHÍ
MINH
MÔN TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
Tên đề tài:
CHI PHÍ ĐẠI DIỆN TRONG
CÔNG TY CỔ
PHẦN
GVHD: TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
SVTH : Nguyễn Thị Thanh Trà, Lớp TCDN6 – K32
Hồ Thị Thảo, Lớp TCDN6 – K32
Bùi Thị Ánh Tuyết, Lớp TCDN6 – K32
TP. Hồ Chí Minh
01/2009
Lời mở
đầu
Trong nhưng công ty lớn, đặc biệt là công ty cổ phần sự phân định giữa
quyền sở hữu và quyền quản lý là rất cần thiết. Những công ty này có hàng
chục, hàng trăm cổ đông vì vậy không thể nào cùng một lúc mà tất cả cổ đông
cùng tham gia quản lý công ty. Vì vậy mà trong các công ty cổ phân quyền sở
hữu và quyền quản lý được tách bạch một cách rõ ràng. Sự tách biệt quyền sở
hữu và quản lý một mặt giải quyết mâu thuẫn giữa vốn và năng lực điều hành,
mặt khác nó cũng làm nảy sinh những nguy cơ khiến cho hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp không đạt mức tối ưu, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư. Rõ
ràng sự phân định giữa người chủ và người quản lý có những thuận lợi xong
cũng đem lại cho doanh nghiệp không ít những khó khăn trong vấn đề quản lý
đặc biệt là làm phát sinh chi phí đại diện. Vậy chi phí đại diện là gì, chi phí đại
diện ảnh hưởng đến doanh nghiệp như thế nào, nguyên nhân làm phát sinh chi
R: sự mất mát
Ta có thể tính được chi phí theo dõi bởi chủ sở hữu và chi phí ràng buộc
bởi người đại diện nhưng không thể tính được sự mất mát nên chi phí đại diện
không thể định lượng một bằng những con số cụ thể.
Có thể chia chi phí đại diện thành chi phí đại diện của nợ và chi phí đại
diện vốn cổ phần.
Chi phí đại diện vốn cổ phần: Có nguồn gốc từ mâu thuẫn lợi ích giữa
cổ đông và các nhà quản lý. Khi cổ đông bị giới hạn hoặc mất kiểm soát đối
với người quản lý thì phía quản lý sẽ có động cơ tiến hành những hoạt động có
lợi cho bản thân và có thể làm nguy hại đến quyền lợi của cổ đông. Chi phí đại
diện vốn cổ phần xuất hiện trong tính huống các nhà quản lý thường xuyên
thực hiện những chiến lược đầu tư khiến công ty phát triển vượt mức tối ưu
hoặc tham gia vào những lĩnh vực kinh doanh mà công ty không có lợi thế cạnh
tranh.
Chi phí đại diện của nợ: Theo Myers (1977) đó là sự hiện diện của nợ có
thể khiến những dự án có NPV dương bị từ chối. Do nếu chấp nhận dự án này
thì rủi ro tài chính sẽ tăng (rủi ro phá sản) và giá trị sẽ chuyển từ cổ đông sang
trái chủ.
Nguyên nhân gây ra chi phí đại diện?
Như chúng ta đã biết, chi phí đại diện tồn tại ở tất cả các lĩnh vực đặc
biệt là trong lĩnh vực tài chính. Chi phí đại diện xuất hiện rõ nét nhất là chi phí
đại diện trong công ty cổ phần. Vậy nguyên nhân nào gây nên chi phí đại diện
trong công ty cổ phần mà không phải là doanh nghiệp tư nhân?
Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi phân tích dựa trên mô hình của công ty
cổ phần Bông Bạch Tuyết.
Bộ máy tổ chức của công ty Bông Bạch Tuyết được cơ cấu như sau:
Nhìn vào sơ đồ chúng ta có thể thấy rõ sự tách bạch giữa quyền sở hữu
(Đại hội đồng cổ đông) và quyền quản lí (Ban tổng giám đốc). Sự phân định
giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tạo nên không ít ưu điểm cho công ty cổ
phần như: quản lí chuyên nghiệp hơn, sự thay đổi quyền sở hữu không ảnh
Sự bất cân xứng thông tin không chỉ khiến cho các nhà quản trị
che giấu kết quả hoạt động kinh doanh thật sự, không vì mục đích tối đa hoá
giá trị doanh nghiệp mà đôi khi vì rủi ro đạo đức mà các nhà quản trị có thể
chiếm dụng tài sản của công ty vì mục đích làm giàu cá nhân. Họ có thể dùng
danh nghĩa của công ty để vay nợ và dùng số tiền này vào việc tiêu xài của cá
nhân…. Và hậu quả là công ty không được tối đa hoá giá trị, các nhà đầu tư
phải gánh chịu tổn thất này do ban giám đốc gây ra.
Chính vì những lí do trên mà các cổ đông phải gánh chịu phí tổn do
người đại diện gây nên. những phí tổn đó chính là chi phí đại diện.
Những biểu hiện chi phí đại diện trong Công ty cổ phần
Bông Bạch Tuyết?
Thứ nhất Công ty Bông Bạch Tuyết đã có những sai phạm trong việc công
bố thông tin, gây bất cân xứng thông tin giữa người quản lí và các nhà đầu tư là
cổ đông của công ty.
Về nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ và bất thường công ty Bông Bạch
Tuyết không thực hiện đúng theo các quy định pháp luật, vi phạm quy chế
công bố thông tin. Cụ thể, công ty không nộp báo cáo thường niên các năm
2004, 2005. Riêng năm 2006, 2007 doanh nghiệp có nộp báo cáo cho Sở Giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nhưng không nộp cho Uỷ Ban
Chứng khoán. Trong Báo cáo tài chính của công ty Bông Bạch Tuyết có nhiều
khoản mục hoạch toán sai chuẩn mực, chưa phản ánh chính xác các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự thiếu minh bạch của
Báo cáo tài chính dẫn đến phản ánh không trung thực tình hình tài chính. Như
kết quả kinh doanh năm 2006 có sự chênh lệch trước và sau khi thực hiện kiểm
toán. Việc công ty liên tục xin gia hạn chậm công bố thông tin báo cáo tài
chính kiểm toán năm 2007 cũng như liên tục chậm nộp báo cáo tài chính quý 2,
3, 4/2007 và quý 1/2008 là vi phạm quy định. Công ty đã sử dụng các kỹ thuật
để thay đổi Báo cáo tài chính, có nhiều điều ẩn sau những khoản lỗ lãi của công
ty tuy nhiên không phải nhà đầu tư nào cũng biết cách đọc và hiểu Báo cáo tài
chính. Vì vậy mà thông tin họ nhận được sai lệch so với thông tin mà các nhà
B Á O C Á O T À I
CHÍNH
T Ó M T Ắ T
(Q U Ý
III
N Ă M
2006)
I.
B Ả N G C Â N Đ Ố I
K Ế
T O Á N
ST
T
N Ộ I
DUNG
S Ố
DƯ
Đ Ầ U
K Ỳ
S Ố
DƯ
C U Ố I
K Ỳ
I
T ài sản ngắn
hạn
28,177,091,969 28,031,155,388
1
T iền v à các
khoa
91,036,469,193 87,054,377,945
1
C ác khoản
phả
i
thu
d à i
hạn
13,900,000
2
T à i sản
c
ố
định
- TSCĐ
hữ u
hình
111,793,731,35
0
111,877,755,963
- TSCĐ
v ô
hình
-27,106,252,457 -30,995,613,071
B Á O C Á O T À I
CHÍNH
T Ó M T Ắ T Q U Ý
IV
N Ă M
tư
tà i
chính
ngắn
hạn
1,564,224,600 3,025,522,100
3
C ác khoản
pha
i
thu ngắn
ha
n
21,387,946,555 14,674,105,847
4
H àng tồn
kho
9,311,271,744 8,894,499,701
5
T à i sản
ngắn hạn khác
1,461,627,224 1,935,372,546
II
T ài sản d ài
hạn
83,518,486,009 83,931,808,358
1
C ác khoản
pha
i
Bất động
s
ả n
đầu
tư
4
C ác khoãn đầu
tư
tà i
chính
d à i
hạn
5
T ài sản d ài
hạn khác
6,589,833,104 6,515,236,532
III
T ổ ng tài sản
122,549,771,240
115,084,739,78
4
IV
N ợ p hải trả
46,558,026,139 41,707,754,166
1
Nợ
nga
n
hạn
lại tài
sả
n
-
Chênh lệch
tỉ g iá h ố i
đoái
-
C ác q uỹ
6,837,482,707 6,557,658,471
-
Lợi
nhua
n
sau
thuế
chưa
pha
n
phối
881,430,576 -1,580,672,853
-
N guồn vốn đầu
tư X
DCB
2
Nguồn
kinh phí
v à
Bông Bạch Tuyết có lợi nhuận sau thuế là 982 triệu đồng. Tuy nhiên, kiểm toán
viên của A&C có nêu ý kiến loại trừ nhiều khoản mục như chưa trính lập dự
phòng giảm giá hàng tồn kho, làm Báo cáo tài chính năm 2005 chưa thể hiện
chính xác và phù hợp với chuẩn mực kế toán; Bông Bạch Tuyết thay đổi chính
sách khấu hao đã làm giảm chi phí khấu hao so với năm 2004 một con số ước
tính là 1,253 tỷ đồng; Bông Bạch tuyết sử dụng khoản lương dự phòng để nộp
BHXH và BHYT số tiền 147 triệu đồng… Ngoài ra, theo báo cáo kiểm toán
năm 2006 thì trong năm 2005, Bông Bạch Tuyết đã thực hiện chương trình
quảng cáo sản phẩm mới nhưng không hạch toán chi phí vào năm đó, kiểm
toán viên của A&C đã không lưu ý điều này trong báo cáo kiểm toán.
Thứ hai, bên cạnh những sai phạm trong việc công bố thông tin, một biểu
hiện nữa của chi phí đại diện ở Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết là rủi ro về
đạo đức của người quản lí. Điều này biểu hiện qua các sai phạm của Hội đồng
quản trị, Ban Tổng giám đốc, Ban kiểm soát và kế toán trưởng trong lĩnh vực
chứng khoán và thị trường chứng khoán, không hướng theo mục tiêu chung của
công ty, cụ thể đã để giám đốc hành chính – nhân sự chiếm dụng tiền của công
ty để mua đất…
Đoàn kiểm tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch chứng
khoán TPHCM đã kiểm tra Công ty Bông Bạch Tuyết và phát hiện trong thời
gian dài, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành Bông Bạch Tuyết đã
không làm tròn trách nhiệm trong việc điều hành, lãnh đạo công ty, thiếu trách
nhiệm trong việc công bố thông tin, không minh bạch trong các báo cáo tài
chính của công ty này. Ban giám đốc Bông Bạch Tuyết đã có những biểu hiện
sai phạm như để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ, lập báo cáo tài chính
quý và năm sai lệch để công bố ra thị trường, dù đã có ý kiến của kiểm toán
nhưng vẫn không sửa đổi.
Ban điều hành Bông Bạch Tuyết còn lập hoá đơn khống làm tăng doanh
thu, lợi nhuận của công ty, không công khai thông tin về những sai sót trong
hạch toán doanh thu, quản lý tài chính lỏng lẻo dẫn đến việc nhân viên lợi dụng
việc thanh lý tài sản lấy tiền mua đất. Nghiêm trọng hơn, Ban điều hành công
ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kinh doanh, nhưng chưa nêu rõ trong báo cáo
kiểm toán. Ngoài ra, Đoàn thanh tra cũng đánh giá một số khiếm khuyết khác
như: Báo cáo tài chính được kiểm toán năm 2007 có một số khoản điều chỉnh
hồi tố từ năm 2006, nhưng thư kiểm toán đã không nêu rõ vấn đề này; AISC
không cung cấp thư quản lý theo hợp đồng kiểm toán năm 2006; AISC không
thông báo ngay cho Uỷ ban chứng khoán khi phát hiện tại Bông Bạch Tuyết có
những sai phạm trọng yếu.
Biện pháp khắc phục?
Sự phát sinh chi phí đại chủ yếu là do có sự phân định giữa quyền sở
hữu và quyền quản lý vì vậy để khắc phục chi phí đại diện chúng ta phải làm có
những giải pháp gắn chặt quyền lợi của người quản lý với quyền lợi công ty
hay cần có một cơ chế tiền lương cho người quản lý (giám đốc) phù hợp. Để có
một cơ chế thù lao hợp lý cho giám đốc phải bảo đảm được tối thiểu ba yêu
cầu:
Thứ nhất, mức thù lao phải tương xứng với những nỗ lực mà các giám
đốc đã bỏ ra.
Thứ hai, cơ chế thù lao phải khuyến khích nhà quản lý đồng thời quan
tâm tới lợi ích ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp.
Thứ ba, phải bảo đảm kiểm soát được mức độ rủi ro đối với doanh
nghiệp.
Một trong những giải pháp để hạn chế phát sinh chi phí đại diện là trả
lương cho các giám đốc dựa vào lợi nhuận, dòng tiền, giá trị trị trường của
doanh nghiệp. Khi mà các giám đốc làm tăng lợi nhuận của công ty thì sẽ được
sẽ trả lương đúng như nỗ lực mà các giám đốc đã bỏ ra để khuyến khích động
viên. Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định bởi lẽ các
nhà đầu tư chỉ có thể biết được lợi nhuận công ty đạt được thông qua các báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng báo cáo kế toán . . . mà trên thực tế
những báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay các báo cáo kế toán có thể
mang tính chủ quan, thông tin có thể bị các kế toán làm sai lệch.
Trả thù lao cho các giám đốc dựa trên mức độ gia tăng giá trị doanh
vậy doanh nghiệp nên đưa ra một mức thưởng hợp lý và khi mức lương của các
nhà quản lý đạt tới một mức nào đó thì sẽ không được tăng nữa. Trường hợp
lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được không cao nhưng không phải do lỗi của
nhà quản lý thì doanh nghiệp cũng phải thưởng cho nhà quản lý sao cho hợp lý.
Bên cạnh đó các doanh nghiệp cần thành lập một ban kiểm soát để kiểm
soát kiểm tra hoạt động của các nhà quản lý. Ban kiểm soát phải độc lập với
ban quản lý của công ty để tránh trường hợp bao che thông đồng với nhau gây
bất lợi cho công ty.