Ảnh hưởng của môi trường luật pháp Mỹ tới hoạt động kinh doanh của Cty XK thuỷ sản II Quảng Ninh - Pdf 12

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Chuyên ngành quản trị kinh doanh quốc tế
đề án môn học
Đề tài:
ảnh hởng của môi trờng luật pháp Mỹ tới hoạt động kinh
doanh của công ty xuất khẩu thuỷ sản II
Quảng Ninh
Giáo viên hớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Hờng
Sinh viên : Đỗ Thị Thu Hồng
Lớp : Quản trị kinh doanh Quốc Tế
Khoá : 42
Hệ : Chính Quy
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
1
Hà Nội, năm 2003
Lời cam đoan
Em xin cam đoan, bài viết này hoàn thành là do em tự nghiên cứu và cùng
với sự hớng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thị Hờng, em không sao chép từ bất kỳ một bài
viết đợc sử dụng để bảo vệ trong một học vị nào.
Hơn nữa, tình huống, số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung
thực; các thông tin trích dẫn trong đề án đều đợc chỉ rõ nguồn gốc.
Sinh viên
Đỗ Thị Thu Hồng
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
2
Mục lục
Nội dung Trang
Lời nói đầu ..1
Chơng I: Công ty xuất khẩu thuỷ sản II quảng ninh và ảnh h-
ởng của môi trơng luật pháp mỹ....3

Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
4
Lời nói đầu
Ngày nay, thế giới đang đến Việt Nam và Việt Nam cũng bắt đầu đi ra thế giới.
Đây là xu hớng hoàn toàn phù hợp với quy luật của sự phát triển, là điều kiện tiên
quyết để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Những năm gần
đây chúng ta đã chứng kiến sự v ơn vai của hàng hoá Việt Nam vào thị tr ờng
quốc tế, trong đó không thể không kể đến sự lớn mạnh của mặt hàng thuỷ sản. Đây
là mặt hàng có thế mạnh lớn bởi nớc ta có vùng chủ quyền khai thác rộng lớn. Hiện
nay, Mỹ là thị trờng lớn nhất tiêu thụ thuỷ sản Việt Nam. Mặc dù Mỹ là một thị
trờng tiêu thụ lớn nhất thế giới với nhu cầu nhập khẩu lớn, đa dạng và
ổn định; và đặc biệt là chúng ta đã có những thuận lợi về xuất khẩu
sau khi Hiệp định thơng mại Việt Mỹ ký kết nh ng chúng ta nhận thấy
một thực tế khách quan là phần lớn các công ty Thuỷ sản của nớc ta
muốn (hoặc đã) xuất khẩu vào thị trờng Mỹ đã gặp rất nhiều khó
khăn.Và công ty thuỷ sản II Quảng Ninh không nằm ngoài tình trạng
này, ông Ngô Duy Thực Giám đốc công ty cho biết: Mỹ là một thị tr -
ờng rộng lớn và phức tạp nên có thể gây choáng ngợp cho các nhà xuất
khẩu Việt Nam .
Vấn đề đặt ra là tại sao công ty thuỷ sản II Quảng Ninh đến nay
mới bắt đầu nhận thấy rằng vào thị tr ờng Mỹ lắm lợi ích và cũng đầy
khó khăn thử thách? Bài viết ảnh hởng của môi trờng luật pháp Mỹ
tới hoạt động kinh doanh của công ty xuất khẩu thuỷ sản II Quảng
Ninh sẽ phân tích những khó khăn về luật pháp Mỹ và đề xuất một số
giải pháp nhằm giúp công ty khắc phục những khó khăn ấy khi công ty
kinh doanh trên thị trờng Mỹ.
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
5
Bài viết này bao gồm ba chơng:
Chơng I: Công ty xuất khẩu thuỷ sản II Quảng Ninhvà ảnh hởng

Việt nam. Chỉ cần tăng lên 1% trong kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ cũng đã
mở ra cơ hội vàng cho Việt nam tăng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản lên gấp hai lần.
Chính vì vậy, ngay từ năm 1994, Việt nam đã bắt đẫu xuất khẩu thuỷ sản vào
thị trờng Mỹ với kim ngạch khoảng 6 triệu USD. Và con số nay đã đợc tăng lên
nhanh chóng qua các năm, 1999 xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng này đạt 125,9 triệu
USD, năm 2000 đạt 304,359 triệu USD, và đến năm 2001, đã tăng lên 500 triệu USD,
biến thị trờng Mỹ trở thành thị trờng chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong xuất
khẩu thuỷ sản của Việt nam, từ 11,6% thị phần năm 1998 đã tăng lên 28,92% vào
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
7
năm 2001 và khả năng thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam vào thị trờng Mỹ
còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, trong thời gian vừa qua, Ngành thuỷ sản
Việt nam cũng gặp không ít khó khăn trong việc xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng
Mỹ. Đó là các nhà sản xuất cá nheo của Mỹ đang thực hiện các biện pháp để hạn chế
việc xuất khẩu các sản phẩm cá tra và cá basa của ta, nh tuyên truyền cá của Việt
nam không đáp ứng đợc các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm, nuôi trồng trong
điều kiện ô nhiễm. Đồng thời một số Nghị sỹ của Mỹ yêu cầu áp dụng luật chống phá
giá do giá cá của ta rẻ hơn cá catfish của Mỹ 1USD/kg và tốc độ xuất khẩu vào Mỹ
tăng nhanh. Và đặc biệt ngày 1/7/2000 họ còn đa ra Quốc hội Hoa kỳ dự luật HR
2439, gọi là ( Country of origin labelling Bill ( nhãn mác của nớc xuất xứ). Dự luật
HR2330 liên quan đến cá tra và cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào thị trờng Mỹ.
1.2. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Mỹ
trong những năm qua
Bắt đầu từ năm 1994, sau khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam, những lô hàng
thuỷ sản đầu tiên của Việt Nam đã có mặt trên thị trờng Mỹ. Từ đó trở đi cho đến
tháng 7 năm 2000, mặc dù cha ký Hiệp định thơng mại Việt Mỹ, nhng giá trị xuất
khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam vẫn tăng đều đặn và tăng đột biến vào những năm
1995, 2000 và 2001, Mỹ đã vợt Nhật, trở thành nớc nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất của
Việt Nam (xem bảng trang bên).

8
9
10
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003 (ớc tính)
5,78
19,498
33,988
39,83
80,20
129,50
298,22
523,60
631,20
767,54
-
13,71
14,49
5,85
40,37
49,30
68,72

chội, sản phẩm sản xuất ra không đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng cao của thị
trờng thế giới. Và 300 công nhân không đủ việc làm, có nhiều ngời đã bỏ sang các
doanh nghiệp khác.
Đây cũng chính là thời điểm thách thức đối với mỗi thành viên của Công ty. Ban
lãnh đạo Công ty cùng với cán bộ công nhân viên tâm huyết đã chung sức tháo gỡ
khó khăn, mạnh dạn đầu t mở rộng nhà xởng, đổi mới thiết bị để sản xuất những sản
phẩm tinh chế có giá trị gia tăng, mở rộng ngành nghề kinh doanh với phơng châm đa
phơng bạn hàng, đa dạng sản phẩm, tích cực tìm thị trờng đầu ra cho xuất khẩu.
Những cố gắng ấy dã có kết quả xứng đáng. Năm 1998, giá trị kim ngạch xuất
khẩu đạt 7,5 triệu USD, gấp hơn hai lần năm 1997. Những năm 1997 1998 là thời
điểm đột phá, tạo đà phát triển cho doanh nghiệp những năm về sau.Và đây là năm
đầu tiên công ty bắt đầu thâm nhập vào thị trờng Mỹ. Có thể kể ra những nhân tố sau
đây đã thúc đẩy công ty thâm nhập vào thị trờng Mỹ:
+ Đờng lối của đảng và chính phủ thông thoáng tạo mọi cơ hội thuận lợi nhất
cho các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy
mạnh xuất khẩu ra thị trờng thế giới. Đặc biệt đáng chú ý là chính phủ đã thông qua
cơ chế điều hành xuất nhập khẩu của Việt nam giai đoạn 2001 2005. Với cơ chế
mới này mọi doanh nghiệp đều có thể tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, tiến
tới xoá bỏ những rào cản pháp lý, thủ tục gây trở ngại cho hoạt động xuất khẩu. Khả
năng tiếp cận với thị trờng Quốc tế trong đó có thị trờng Mỹ của các doanh nghiệp
chế biến xuất khẩu thuỷ sản sẽ nhiều hơn, thuận lợi hơn.
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
10
+ Nhà nớc dành nhiều sự quan tâm cho ngành thuỷ sản: Với những chơng trình
hỗ trợ đầu t nâng cấp cơ sở hạ tầng của Ngành thuỷ sản; chơng trình đánh bắt xa bờ;
chơng trình đầu t cho nghiên cứu khoa học và công nghệ để phát triển ngành thuỷ
sản; với sự hỗ trợ toàn diện của Nhà nớc, Trung tâm kiểm tra chất lợng và vệ sinh
thuỷ sản ra đời, trở thành cơ quan có thẩm quyền về kiểm soát vệ sinh an toàn thực
phẩm của ngành, hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với thị trờng. Mới đây chơng trình
chuyển đổi một số vùng trồng lúa sang phối hợp nuôi trồng thuỷ sản đã mở ra khả

khí hậu tơng tự ta đa vào Mỹ.
+Tính cạnh tranh trên thị trờng Mỹ rất cao, thị trờng Mỹ nhập khẩu hàng thuỷ
sản từ rất nhiều nớc khác nhau trong đó có những nớc có lợi thế tơng tự nh Việt Nam
đều coi thị trờng Mỹ là thị trờng chiến lợc trong hoạt động xuất khẩu, cho nên chính
phủ và các doanh nghiệp của các nớc này đều quan tâm đề xuất các giải pháp hỗ trợ
và thâm nhập dành thị phần trên thị trờng Mỹ. Đây cũng đợc xem là khó khăn khách
quan tác động đến khả năng thúc đấy xuất khẩu thuỷ sản của công ty vào thị trờng
này.
* Những nhân tố chủ quan
+ Năng lực chế biến thuỷ sản đông lạnh hiện tại đợc đánh giá là d thừa so với
nguồn nguyên liệu hiện có . Đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc tranh
mua nguyên liệu gay gắt giữa các doanh nghệp, giá nguyên liệu ngày một bị đẩy lên
cao, thêm vào đó , các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản phát triển nhanh hơn tốc độ
đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đã làm giảm tính cạnh tranh về giá của sản phẩm.
+ Cơ sở vật chất phục vụ cho đánh bắt, bảo quả và chế biến thuỷ sản đã đợc cải
thiện đáng kể nhng tỷ lệ các cơ sở bảo quản, chế biến thuỷ sản mới đạt ở mức trung
bình và yếu còn chiếm tỷ trọng cao, đây là nhân tố tac động đến chất lợng và vệ sinh
an toàn của hàng thuỷ sản xuất khẩu.
+ Tỷ lệ hàng thuỷ sản xuất khẩu dới dạng thô ít qua chế biến còn cao đây
cũng là nhân tố ảnh hởng đến khả năng gia tăng kim ngạch xuất khẩu, ảnh tới việc
tạo dựng sản phẩm thuỷ sản độc đáo riêng có của Việt Nam trên thị trờng Mỹ và cũng
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
12
ít khai thác đợc lợi thế do giảm thuế suất thuế nhập khẩu mà hiệp định thơng mại
Việt -Mỹ mang lại.
+ Một nhân tố nữa ảnh hởng đến khả năng xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng Mỹ là
tình trạng thiếu vốn kinh doanh ở tất cả các khâu: đánh bắt, nuôi trồng, chế biến, th-
ơng mại. Công ty phải tự bơn trải vay vốn với lãi suất cao ảnh hởng tới giá thành thuỷ
sản xuất khẩu.
Trong năm qua, mặc dù có nhiều khó khăn do các quy định kiểm tra của Mỹ, do tình

có hệ thống pháp luật riêng.Trong đó có nhiều điều khoản điều chỉnh một vấn đề lại
khá khác biệt nhau.
Hơn nữa, các Thống đốc bang ở Mỹ đều có thẩm quyền rất lớn trong điều chỉnh
các hoạt động kinh tế thơng mại. Chính vì khó khăn phức tạp nh vậy, việc xúc tiến
nhập khẩu hàng hóa vào htị trờng Mỹ thờng phải thông qua các nhà môi giới hải
quan.
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
14
Một điểm đáng lu ý khác là trong nhiều thập kỷ qua, chính sách thơng mại Mỹ
luôn hớng tới tự do hoá thơng mại toàn cầu (thông qua WTO), khu vực (các hiệp định
thơng mại khu vực, nh NAFTA), và đặc biệt ở cấp độ song phơng với hàng loạt hiệp
định thơng mại song phơng giữa Mỹ với các nớc khác.
Các quy định của Luật Thơng mại Mỹ rất chặt chẽ. Và hệ thống Luật thuế và
thuế của Mỹ nổi tiếng là rắc rối và ngày càng phức tạp. Nhiều loại thuế ở 50 bang đợc
áp dụng không chỉ ở cấp liên bang, bang mà còn ngay cả ở cấp thấp hơn ( cấp địa ph-
ơng). Hơn nữa,ngời đóng thuế (cá nhân, công ty) đều phải tự khai thu nhập và nộp
thuế dựa trên thu nhập đợc khai, chứ không phải chờ cơ quan thuế. Chính do sự phức
tạp này mà ngay cả ngời dân Mỹ cũng phải thờng xuyên thuê dịch vụ của các nhà
khai thuế chuyên nghiệp nhằm tránh rủi ro bị phạt do khai sai, nộp chậm thuế
Về phía công ty thuỷ sản II Quảng Ninh trong quan hệ buôn bán với Mỹ, nhất là
khi thực hiện xuất khẩu hàng hoá vào Mỹ, công ty đã và đang gặp phải những khó
khăn trở ngại sau đây:
2.1. Đối với Luật Thuế và Hải quan
Công ty thờng gặp phải những rắc rối trong Luật Thuế và Hải quan (Tariff and
Customs Laws), nh: cách định giá hàng nhập khẩu để tính thuế; phí thủ tục Hải quan;
những quy định về mác, mã, bao bì.
Điều cần thiết đối với công ty là hiểu đợc Hệ thống Danh bạ thuế quan thống
nhất của Mỹ (The Harmonised Tariff Skhedule of the United States - HTS) để biết đ-
ợc sản phẩm của mình xuất khẩu vào Mỹ phải chịu thuế suất bao nhiêu. Do thuế quan
của Mỹ thờng xuyên thay đổi nên Danh bạ HTS đợc đóng thành những trang rời để

ghi rõ ràng, không tẩy xoá đợc, ở chỗ dễ nhìn thấy trên bao bì xuất hập khẩu tên ngời
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
16
mua cuối cùng ở Mỹ, tên bằng tiếng Anh nớc xuất xứ hàng hoá đó. Trên các bao bì,
vật dùng chứa đựng bao bì tiêu dùng của hàng hoá đó tới tay cuối cùng cũng phải ghi
rõ xuất xứ của hàng hoá bên trong. Nếu không tuân thủ những quy định này sẽ bị
phạt mức 10% giá trị lô hàng, phải thực hiện thêm một số yêu cầu và vẫn phải thực
hiện nghĩa vụ mác mã. Hàng nhập khẩu không đáp ứng yêu cầu về mác mã sẽ bị giữ
lại ở khu vực Hải quan Mỹ cho đến ngời nhập khẩu thu xếp tái xuất, phá huỷ hoặc
cho đến khi hàng đợc xem là bỏ để Chính phủ định đoạt hoặc từng phần. Ai cố tình
vi pham hoặc che giấu sẽ bị phạt tiền 5 nghìn USD hoặc bỏ tù; trờng hợp có sự phối
hợp với nớc ngoài để thay đổi tẩy xoá mác mã về xuất xứ hàng hoá thì bị phạt 100
nghìn USD lần đầu, nếu tái phạm sẽ bị phạt 250 nghìn USD.
2.2. Đối với Luật khắc phục những bất lợi trong Thơng mại
Mỹ
Mặc dù đã có những hiểu biết về Luật khắc phục những bất lợi trong thơng mại
Mỹ nhng việc áp dụng nó vào thực tiễn đối với công ty đang là vấn đề hết sức khó
khăn.
Trong Luật khắc phục những bất lợi trong thơng mại Mỹ có hai luật rất quan
rọng cần chú ý là: Luật thuế đối kháng(Countervailing Duty Laws CVD) và Luật
chống bán phá giá(Anti dumping Laws AD).
2.2.1. Luật thuế đối kháng
CVD đợc áp dụng nếu Bộ thơng mại Mỹ điều tra xác định rằng có tình trạng
trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc chế tạo, sản xuất, xuất khẩu một mặt hàng
nào đó vào Mỹ của nớc xuất khẩu; ngành công nghiệp Mỹ sản xuất ra hàng hoá đó
hoặc liên quan đến hàng hoá đó bị tổn thơng hoặc đe doạ bị tổn thơng về mặt vật
chất; xác định mức độ mà nớc xuất khẩu ấy trợ cấp thì Mỹ sẽ áp đặt ngay mức thuế
đối kháng. Đây là mức thuế đánh bổ sung thêm vào mức thuế hiện hành, mức thuế
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
17

thủ các quy định của WTO để xem xét các mối quan hệ kinh tế song phơng, dù Việt
Nam cha là thành viên, và vì ngời Mỹ a xài cá basa cuat Việt Nam nên Việt Nam
xuất khẩu cá basa sang mỹ, cá basa của Việt Nam thơm ngon và rẻ, và ngời Mỹ cũng
sành ăn nên mua nhiều, để phục vụ tốt hơn cho ngời tiêu dùng Mỹ, các ng dân của
Việt Nam đã lao động chăm chỉ và sáng tạo để nuôi cá ngon và xuất khẩu nhiều hơn
vào Mỹ.
Đến đây đã xuất hiện vấn đề, ở Mỹ ngời ta(Ngời ta là những ngời Mỹ liên
quan đến việc kiện tụng cá basa của Việt Nam bán sang Mỹ) nói rằng, vì ng dân Mỹ
nuôi cá catfish bị ng dân Việt Nam cạnh tranh không lành mạnh, nh dùng tên sản
phẩm cá không đúng, nh bán phá giá, để ng dân Mỹ lâm vào cảnh đói nghèo, và họ
đâm đơn kiện Việt Nam. Nhng xem xét cụ thể (cả ngời Mỹ, ngời Việt Nam và ngời
các nớc khác) thì không nh vậy. Không có nh vậy vì đến khi có vấn đề năm 2001, ở
Mỹ cá basa của Việt Nam chỉ mới chiếm 5,59% tổng giá trị (Mỹ bán đợc 385 triệu
USD, Việt Nam bán đợc 21.509.704 USD) và 5,4% trọng lợng (lợng cá tiêu thụ ở
Mỹ: khoảng 295 297 triệu Pound, lợng cá nhập từ Việt Nam là 16 triệu Pound
1 Pound = 0,454 kg) và cá basa cũng cha cung cấp đợc cho tất cả các bang của Mỹ.
Vậy vấn đề là gì và ở chỗ nào? Trứơc tiên, về lý thuyết kinh tế. Có rất nhiều
lý thuyết kinh tế chứng minh rằng làm ăn kinh tế phải nắm vững lý thuyết kinh tế.
Những lý thuyết về cạnh tranh, cung cầu, chi phí và sản lợng, tính phi kinh tế vì
quy mô, quy luật lợi tức giảm dần, đều bắt buộc ng ời nào muốn làm ăn kinh doanh
phải nắm vững lý thuyết kinh tế. Các nhà sản xuất và kinh doanh cá catfish ở Mỹ
chắc cũng biết chắc chắn nh vậy. Nhng thực tế họ (hoặc những ngời đứng sau lng họ)
không hành xử nh vậy, vì họ cho rằng chính phủ và luật pháp Mỹ ủng hộ họ. Do nắm
bắt tốt thị trờng Mỹ, và do độc quyền sản xuất kinh doanh, ng dân các bang miền
Nam nớc Mỹ đã nhanh chóng tăng diện tích mặt hồ nuôi cá từ 147.146 mẫu năm
1995 lên 185.700 mẵu năm 2001 (tăng trên 26%, nghĩa là tăng trung bình trên 4%
hàng năm). Theo số liệu của tạp chí Châu Mỹ ngày nay đợc trích dẫn theo các nguồn
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
19
của Mỹ, giá bán catfish tại Mỹ năm 1990 trung bình là 78 cent/pound, năm 1991:

không đợc gọi cá catfish là cá catfish mà phải gọi tên khác, tuỳ Việt Nam. Mặc dù
nhiều nhà khoa học Mỹ và các cơ quan chức năng của chính phủ Mỹ đều khẳng định
cá của Việt Nam là cá catfish, dù đó là catfish châu á hay catfish Việt Nam thì đều là
catfish giống nh của Mỹ. Và Việt Nam cũng đã phải gọi tên khác đi khi xuất khẩu cá
vào Mỹ. Mặc dù tên sản phẩm có phần khác đi, nhng thị trờng Mỹ vẫn thích dùng cá
Việt Nam, các nhà nhập khẩu cứ tiếp tục nhập. Vậy thì mục đích của ngời khởi xớng
không thực hiện đợc. Họ chuyển chiến thuật, tố cáo Việt Nam bán phá giá vào thị tr-
ờng Mỹ để áp dụng Luật chống phá giá và luật thuế chống trợ giá nhằm bù đắp thiệt
hại từ việc trao đổi thơng mại không công bằng, cá Việt Nam còn d lợng chất độc
màu da cam ! Nh ng liền ngay sau đó, nhiều nhà khoa học của Mỹ, của thế giới
cũng nh của Việt Nam đã lên tiếng cho rằng cá Việt Nam bảo đảm chất lợng, vệ sinh,
an toàn thực phẩm theo đúng tiêu chuẩn của Mỹ, các cơ quan chức năng của chính
phủ Mỹ phụ trách những vấn đề này cũng nhận định nh vậy, nhiều thị trờng khó tính
khác đang nhập cá của Việt Nam và chi phí sản xuất thấp, kinh nghiệm sản xuất
của các nhà nuôi cá Việt Nam đã bảo đảm cho giá cá bán ở Mỹ là thấp, tuyệt nhiên
không có bán phá giá (bán phá giá có nghĩa là chi phí để sản xuất ra 1kg cá cao hơn
giá bán 1kg cá, nghĩa là nhà nớc hoặc ai đó đã trợ giá khi thực hiện xuất khẩu vào
Mỹ, điều này cũng đã đợc chứng minh là không có căn cứ trong trờng hợp cá Việt
Nam xuất sang Mỹ). Vậy cứ nói suông Việt Nam bán phá giá cá là quá khó nghe. Họ
tìm cách tính toán theo phơng pháp nh kiểu cá không phải là cá để cho chi phí sản
xuất và xuất khẩu 1kg cá ở Việt nam buộc phải cao hơn giá bán 1kg cá của Việt Nam
ở Mỹ, nh thế mới kết luận đợc Việt Nam bán phá giá.
Một cứu cánh đã đến, họ viện dẫn một điều luật về nền kinh tế phi thị trờng
có từ thời Đại khủng hoảng 1929 1933, lúc nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà hay
CHXHCN Việt Nam cha ra đời, hệ thống xã hội cha xuất hiện (nghĩa là điều luật đó
khởi đầu là để chống lại nhà nớc Liên bang Cộng hoà XHCN Xô viết, chứ chẳng lẽ
lại chống lại nớc Mông cổ du mục?), dù sau này có bổ sung nâng câp để xem xét t-
ơng quan quan hệ với các nớc XHCN trong việc xác định giá cả không phản ánh
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
21

22
của CFA (Hiệp hội các chủ trại nuôi cá catfish ở Mỹ tổ chức đứng đầu cuộc chiến
chống cá tra, cá basa của Việt Nam) phải là: Việt Nam phải là có nền kinh tế phi thị
trờng, và dù chi phí sản xuất xuất khẩu cá của Việt Nam đợc tính theo bất cứ kiểu nào
mà thấp hơn giá bán của nó ở Mỹ là không đợc, mà tính theo kiểu nào cũng phải có
kết quả cao hơn để kết luận Việt Nam bán phá giá.
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) cho rằng phía
các nhà sản xuất và xuất khẩu Việt Nam không chủ trơng đối đầu với phía Mỹ và
mong muốn có những giải pháp thoả đáng để các doanh nghiệp Việt Nam có thể cạnh
tranh lành mạnh, cùng có lợi trên thị trờng Mỹ. Phía Việt Nam đã hợp tác có thiện chí
với các tổ chức hữu quan Mỹ, Bộ Thơng mại Mỹ, để xem xét các vấn đề bán phá
giá, tình trạng khẩn cấp, nền kinh tế phi thị trờng đã đợc nêu nên không đúng
đắn. Trong trờng hợp Bộ thơng mại Hoa kỳ đa ra kết luận cuối cùng thiếu khách
quan, gây bất lợi cho phía các doanh nghiệp Việt Nam, VASEP rất hiểu rõ thế mạnh
pháp lý của mình trong vụ kiện này và sẽ quyết tâm theo đuổi vụ kiện đến giai đoạn
cuối cùng, là điều trần tại uỷ ban Thơng mại Quốc tế Hoa Kỳ.
Mặc dù Việt Nam đã rất quyết tâm, nỗ lực và cố gắng nhng với sự không t-
ơng xứng giữa thế và lực, dẫn đến cá lớn nuốt cá bé và cuối cùng cá catfish của Mỹ
đã thắng kiện.
Qua phân tích trên ta thấy, công ty sẽ gặp nhiều khó khăn dù trong tình huống
phải đơng đầu với việc hàng xuất khẩu của công ty bị Mỹ điều tra chống bán phá giá
hay khi công ty chủ động điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng
nhập khẩu từ nớc Mỹ.
Khó khăn lớn nhất ở đây là công ty hầu nh cha biết gì về luật thơng mại quốc
tế liên quan tới bán phá giá. Hầu hết các cán bộ của công ty chịu trách nhiệm về vấn
đề này còn thiếu kiến thức về các khía cạnh kinh tế của hiện tợng bán phá giá và luật
quốc tế điều chỉnh hành vi này. Cho đến nay, công ty cha lần nào điều tra bán phá
giá. Kinh nghiệm đối phó với hàng xuất khẩu của công ty bị điều tra phá giá còn ít.
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
23

Trong trờng hợp hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nớc ngoài điều tra áp dụng biện
pháp chống bán phá giá, chúng ta có thể gây áp lực chính trị với họ. Nhng với tiềm
lực kinh tế, quốc phòng, khoa học kỹ thuật của chúng ta hiện nay, cần thấy rõ áp
lực của chúng ta không đủ mạnh. Ngợc lại, trong trờng hợp chúng ta chủ động tiến
hành điều tra áp dụng biện pháp này với hàng nhập khẩu thì có thể dự đoán rằng một
số nớc có thể dùng sức mạnh chính trị để ép chúng ta nhân nhợng họ, chẳng hạn họ
có thể dùng những lá bài nh viện trợ phát triển chính thức (ODA), gia hạn quy chế tối
huệ quốc (MFN) để đem ra mặc cả với ta.
Trong việc áp dụng hay đối phó với biện pháp chống bán phá giá, chúng ta
cũng không tính đến nhiều chi phí cần thiết.
Một khó khăn khác là cho tới nay và vài năm tới, chúng ta chỉ có thể giải quyết
các tranh chấp phát sinh liên quan tới chống bán phá giá trong khuôn khổ các hiệp
định thơng mại song phơng. Đặc điểm chung của các hiệp định này là không có quy
định đầy đủ về giải quyết các tranh chấp thơng mại hoặc không có cơ chế hoặc cơ
quan chức năng riêng để giải quyết các tranh chấp liên quan tới chống bán phá giá
một cách hiệu quả. Cơ chế giải quyết tranh chấp thơng mại quốc tế nói chung và
chống bán phá giá nói riêng có uy tín và hiệu quả nhất là cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO. Đây cũng là một nhân tố mà chúng ta phải tính đến trong quá trình giải
quyết các tranh chấp liên quan tới chống bán phá giá.
Với những sự kiện gần đây cho thấy, Mỹ vẫn cha bằng lòng với các cuộc kiện
tụng chống bán phá giá, mà với đà thắng thế trớc cá basa Việt Nam, ngành đánh bắt
thuỷ hải sản Mỹ đang đẩy mạnh chiến dịch khởi kiện tôm nhập khẩu từ 12 nớc vì
tội bán phá giá, trong đó có Việt Nam. Theo VASEP, Hiệp hội các nhà chế biến
Đề án môn học Đỗ Thị Thu Hồng - KDQT 42
25

Trích đoạn Đối với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Bài học kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status