MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÔNG TY VILEXIM TRONG THỜI GIAN
TỚI
I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY GIAI ĐỌAN 2001 - 2005.
Trong chiến lược phát triển công ty vẫn xem măt hàng nông sản là mặt
hàng xuất khẩu chủ lực bên cạnh những mặt hàng khác.
Ở trong nước, công ty tăng cường hoạt động thu mua , khai thác tối đa
nguồn lực ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam nhằm đảm bảo hàng xuất khẩu năm
sau cao hơn năm trước. Công ty sẽ cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, giành
ưu thế trên thị trường.
Ở nước ngoài công ty sẽ tăng cường các hoạt động tuyên truyền, quảng
cáo, chủ động tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường. Chiến lược thị
trường của công ty trong những năm tới là phải mở rộng địa bàn hoạt động sang
khu vực thị trường mà sản phẩm của công ty còn chưa thâm nhập được nhiều
như EU, Mỹ... trên cơ sở duy trì các bạn hàng truyền thống như Singapo,
Indonexia, Malaixia.... Để làm được như vậy công ty sẽ phải theo dõi sự biến
động các mặt hàng công ty kinh doanh ở thị trường trong và ngoài nước nước
một cách chặt chẽ.
II. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ.
Trong thời gian qua hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của công ty
VILEXIM đã đạt được một số thành tựu đáng kể tuy nhiên cũng còn không ít
tồn tại. Những tồn tại này có thể bị tác động bởi các yếu tố chủ quan xuất phát từ
phía công ty mà công ty có thể điều chỉnh được song cũng có thể nó bị tác động
bởi các yếu tố khách quan, công ty không thể tự điều chỉnh được mà cần phải
có sự trợ giúp của nhà nước. Sau đây là một số giải pháp, kiến nghị đối với công
ty VILEXIM và đối với nhà nước.
A. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TY.
1. Tổ chức tốt công tác thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường và xúc tiến
thương mại.
-1-
đáng tin cậy và cập nhật như thông tin của Trung tâm thương mại Quốc
-2-
tế (ITC), thông tin từ tổ chức thương mại và phát triển của Liên Hợp
Quốc (UNCTAD), thông tin của ngân hàng thế giới(WB).
Thành lập ra một bộ phận chuyên trách đảm nhiệm công việc thu thập
thông tin và nghiên cứu thị trường.
Tạo điều kiện để các cán bộ làm công tác thị trường tiếp xúc với thị trường
trong và ngoài nước từ đó nâng cao khả năng phân tích, phán đoán, xử lý
thông tin và đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm ứng phó trước những
biến động của thị trường.
Xúc tiến các hoạt động mở văn phòng đại diện tại những khu vực thị
trường được xem là trọng điểm của công ty nhằm thu thập thông tin về
thị trường nước sở tại và giới thiệu với khách hàng nước ngoài về công ty.
Tranh thủ triệt để cơ hội tiếp xúc, thu thập thị trường từ các tổ chức kinh tế,
thương nhân nước ngoài đến thăm vầ tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại Việt
Nam.
2. Lựa chọn thị trường trọng điểm.
Trong điều kiện vốn và năng lực kinh doanh có hạn công ty không thể cung
cấp tất cả các mặt hàng cho tất cả các thị trường nên việc lựa chọn thị trường
trọng điểm đối với công ty là rất cần thiết. Công ty cần phải xác định được thị
trường trọng điểm từ đó có cách thức xâm nhập thị trường, đầu tư đổi mới công
nghệ sản xuất để tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao về giá cả, chất lượng và
đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng tại những thị trường đã chọn. Các tiêu chí mà
công ty có thể căn cứ đó là:
Quy mô thị trường mặt hàng nông sản cả trong hiện tại và tương lai.
Sự phát triển của nhu cầu thị trường, các yếu tố kinh tế xã hội, chính trị,
văn hóa và trào lưu tiêu dùng.
Chí phí kinh doanh phát sinh: Chi phí thuê phương tiện vận tải, thuế nhập
khẩu hàng hóa, chi phí phân phối hàng hóa.
lượng sản phẩm, khi đó việc xây dựng một chính sách giá cả hợp lý tại những thị
trường nên được công ty quan tâm hơn.
b.Xây dựng chính sách giá cả hợp lý
-4-
Giá cả là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh nói chung và trong kinh
doanh xuất khẩu hàng nông sản nói riêng. Giá cả hợp lý là mức gía phù hợp với
nhu cầu về sản phẩm và mức gía trên thị trường. Giá quá cao sẽ làm cho sản
phẩm của công ty khó tiêu thụ và gía quá thấp sẽ gây ra sự thua thiệt và đôi khi
cũng đưa khách hàng đến sự ngờ vực sản phẩm của công ty. Chính vì vậy giá cả
công ty đưa ra phải dựa trên chi phí cho sản phẩm của công ty cũng như của đối
thủ cạnh tranh. Đối với những sản phẩm của công ty tương tự như sản phẩm của
đối thủ cạnh tranh thì ngoài việc căn cứ vào chi phí cho sản phẩm để định giá,
công ty cần xem xét kỹ lưỡng giá của đối thủ cạnh tranh vì khách hàng thường
có tâm lý tham khảo giá trước khi mua hàng. Đối với những mặt hàng được xem
là độc đáo riêng của công ty thì công ty có thể tự do áp dụng mức giá linh hoạt
sao cho vừa đảm bảo được có lãi và tiêu thụ được nhiều sản phẩm.
Nghiên cứu xác định giá cả đối với công ty là một nhiệm vụ quan trọng và
phải được tiến hành một cách thường xuyên, nhất là đối với các sản phẩm đồng
nhất với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Trong việc định giá, công ty cần phải
thu thập đầy đủ thông tin và cũng cần xác định mục tiêu của chính sách giá đưa
ra là tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị trường hay một mục tiêu nào khác.
4. Đẩy mạnh xâm nhập thị trường.
Sau khi đã chọn được những thị trường trọng điểm công ty cần phải chọn
được phương thức tốt nhất để xâm nhập vào thị trường. Các công việc mà công
ty có thể thực hiện là:
Quan hệ với các nhà phân phối lớn, có uy tín để lợi dụng uy tín của họ
nâng cao uy tín hàng nông sản của công ty. Đồng thời đưa hàng nông sản
của công ty vào kênh phân phối của họ qua đó nâng cao khả năng xâm
nhập thị trường.
họ phụ thuộc nhiều vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Vay từ các nhà nhập khẩu là khách hàng của công ty.
Muốn sử dụng được nguồn vốn này công ty phải đặc biệt chú ý tới đối
tượng khách hàng có khối lượng mua lớn, đã có quan hệ truyền thống với công
ty. Để có được vốn vay này công ty phải đảm bảo được chữ “tín” trong kinh
-6-
doanh. Có nghĩa là công ty phải nghiêm chỉnh chấp hành các điều khoản về chất
lượng, giá cả, thời gian và cách thức giao hàng như đã thỏa thuận trong hợp
đồng kinh doanh.
Vay từ các nhà xuất khẩu hàng cho công ty.
Công ty có thể vay từ các nhà xuất khẩu hàng cho công ty thông qua hình
thức trả chậm. Hình thức này thường chỉ được thực hiện khi công ty nhập khẩu
với một số lượng lớn hàng hóa và là khách hàng quen thuộc của họ. Một điều
quan trọng nữa ở phương thức này mà công ty cũng phải thực hiện được là chữ
“tín” trong kinh doanh. Tức là công ty phải thanh toán đủ tiền hàng cho nhà xuất
khẩu khi đã đến thời hạn thanh toán.
Ngoài các phương thức trên, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết với đối tác
nước ngoài cũng là một biện pháp hữu hiệu mà công ty cần áp dụng trong
tình trạng vừa thiếu vốn, vừa thiếu máy móc thiết bị như hiện nay. Với
phương thức này công ty phải dựa trên quan điểm “cả hai bên cùng có
lợi’’ có như vậy thì quan hệ của công ty và đối tác liên doanh mới được
bền lâu.
Khi đã huy động được vốn, vấn đề tiếp theo mà công ty cần quan tâm là
làm thế nào để sử dụng nguồn vốn này một cách có hiệu quả. Muốn vậy công ty
cần phải thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu, phải có biện pháp quản lý nguồn vốn
một cách có hiệu quả. Vốn của công ty phải được tập trung vào những dự án
mang tính khả thi cao. Đặc biệt, công ty phải dần dần giảm bớt kinh doanh
những mặt hàng thô có khối lượng lớn nhưng trị giá kinh tế không lớn, lợi nhuận
thu được không cao để dần chuyển sang kinh doanh mặt hàng tinh có giá trị kinh