Báo cáo "Hiện tượng chuyển giá của các công ti đa quốc gia và việc sử dụng pháp luật để chống chuyển giá " potx - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
30 - Tạp chí luật họcHIệN TƯợNG CHUYểN GIá CủA CáC CÔNG Ti
ĐA QUốC GIA Và VIệC Sử DụNG PHáP LUậT Để
CHốNG CHUYểN GIá

ThS. Bùi Thi Bích Liên *
rong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu
hoá, sự phát triển mạnh mẽ của các
công ti đa quốc gia (CTĐQG) đ làm
nảy sinh nhiều hiện tợng kinh tế phức
tạp. Điều đó đòi hỏi các chính phủ phải
có cơ chế hữu hiệu để quản lí những hoạt
động vợt khỏi biên giới của quốc gia.
Trong số các hoạt động đó, chuyển giá

đợc CTĐQG sử dụng thờng xuyên và
phổ biến nhằm giảm thiểu số thuế phải
nộp. ở Việt Nam, hiện tợng chuyển giá
và việc sử dụng pháp luật để kiểm soát
hoạt động chuyển giá vẫn là vấn đề tơng
đối mới và đang thu hút sự quan tâm của
nhiều ngời. Bài viết này xin đợc giới
thiệu cùng bạn đọc một số vấn đề cơ bản
về chuyển giá và sự điều chỉnh của pháp
luật đối với chuyển giá.
1. Khái niệm chuyển giá

CTĐQG nằm ở quốc gia có mức thuế cao
sang công ti liên kết khác cũng thuộc
CTĐQG đó nhng đợc thành lập ở quốc
gia có mức thuế thấp nhằm làm giảm số
thuế phải nộp của cả tập đoàn
(2)
.
Ví dụ: Công ti P sản xuất hàng hoá tại
nớc A (nơi có thuế suất thuế thu nhập
công ti là 40%), sau đó bán những hàng
hoá này cho công ti F là công ti liên kết
của mình tại nớc B (nơi có thuế suất
thuế thu nhập công ti là 20%). Giả sử
mức giá trung bình của hàng hoá này tại
thị trờng A là 100 nhng công ti P chỉ
định giá bán của mình là 80. Với mức giá
thấp này, công ti P không thu đợc hoặc
T

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 31

thu đợc rất ít lợi nhuận. Do đó, công ti P
không phải nộp hoặc nộp rất ít thuế thu
nhập công ti tại nớc A. Lợi nhuận của
công ti F tại nớc B có thể sẽ tăng lên (vì

là nguyên lí cơ bản đợc luật pháp quốc
tế công nhận. Phơng pháp này đ đợc
đề cập trong hiệp định mẫu về tránh đánh
thuế hai lần của Tổ chức hợp tác kinh tế
và phát triển (OECD) và sau đó đợc hầu
hết các quốc gia trên thế giới sử dụng.
Hoa Kì đợc coi là nớc có hệ thống
pháp luật về chống chuyển giá phát
triển nhất
(3)
.
Theo nguyên lí này, mức giá giao
dịch đợc coi là thích hợp khi nó đợc
định giá theo tiêu chuẩn thị trờng.
Ngời nộp thuế phải xác định mức giá
giao dịch với những ngời có quan hệ
liên kết với mình sao cho số lợi nhuận mà
ngời đó thu đợc từ giao dịch này (lợi
nhuận kê khai để tính thuế) giống với số
lợi nhuận có đợc trong giao dịch tơng
tự với những ngời không có liên quan
(4)
.
Minh họa tốt nhất cho nguyên lí giá
thị trờng có thể tìm thấy tại Điều 482 Bộ
luật doanh thu nội bộ của Hoa Kì. Theo
điều luật này, nhân viên thuế có quyền ấn
định mức lợi nhuận hoặc các khoản chi
phí của những tổ chức, công ti có quan hệ
liên kết nếu nhận thấy mức lợi nhuận, chi
nghiên cứu - trao đổi
32 - Tạp chí luật học

các công ti liên kết với giá bán (sản phẩm
cùng loại và trong cùng hoàn cảnh) của
các công ti không có quan hệ liên kết.
Phơng pháp này đợc sử dụng trong
trờng hợp những giao dịch có thể so
sánh đợc nh vậy tồn tại trên thị trờng
và đối với những loại hàng hoá mà chất
lợng của chúng không phụ thuộc nhiều
vào nhn hiệu. Thực tế này thờng đợc
sử dụng để xác định giá bán các mặt hàng
nh dầu, sắt thép, bột mì
Ví dụ: Công ti P đợc thành lập ở
nớc X để sản xuất ghế gỗ. Chi phí cho
đơn vị sản phẩm hoàn thành là 30. Công
ti P bán cho những ngời phân phối sản
phẩm không có quan hệ liên kết ở nớc Y
với giá 41. Đồng thời, công ti P cũng bán
chính những sản phẩm ghế gỗ đó cho
công ti S là công ti liên kết của mình ở
nớc Y. Sau đó công ti S bán lại sản
phẩm tới những ngời tiêu dùng không có
quan hệ liên kết với giá 70. Nếu các điều
kiện bán hàng là nh nhau thì giá bán
hàng của công ti P cho công ti S sẽ đợc
xác định là 41. Nh vậy, công ti P sẽ thu

định là:
70 - (20% ì 70) = 56
Nh vậy, công ti P sẽ thu đợc lợi
nhuận là:
56 - 30 = 26
Công ti S thu đợc lợi nhuận là:
70 - 56 = 14
+ Phơng pháp chi phí cộng thêm.
Với phơng pháp này, giá thị trờng đợc
xác định trên cơ sở cộng thêm khoản
nâng giá thích hợp vào chi phí sản xuất.
Các chi phí cộng thêm có thể bao gồm:
Chi phí giao hàng trong kì, chi phí quản lí
chung trong kì. Phơng pháp chi phí cộng
thêm thích hợp để định giá cho trờng
hợp sản xuất theo hợp đồng gia công, chế
biến sản phẩm giữa các công ti liên kết.
Công ti sẽ bán các sản phẩm cha hoàn
thiện cho công ti liên kết của mình, công
ti này tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, sau
đó đem bán ra thị trờng cho những
ngời tiêu thụ không có quan hệ liên kết.

Giả sử công ti P trong ví dụ trên bán
ghế gỗ cha hoàn thiện cho công ti S.
Công ti S tiếp tục hoàn thành sản phẩm,
sau đó bán ra trên thị trờng Y và giả sử
rằng lợi nhuận bình quân mà ngành sản
xuất ghế gỗ thu đợc là 25% của chi phí
sản xuất. Theo sổ sách kế toán, chi phí

nớc ngoài có thể do yếu kém trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nhng cũng rất
có thể là hậu quả của hoạt động chuyển
giá.
Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài thờng tìm cách kê khai tăng giá
đối với các chi phí đầu vào nh tài sản
góp vốn, chi phí nguyên, vật liệu, chi phí
khấu hao tài sản cố định, chi phí quảng
cáo, tiếp thị Đồng thời, đối với các yếu
tố đầu ra, một số doanh nghiệp lại kê
khai giá bán thấp hơn thực tế để giảm
doanh thu, lợi nhuận. Thủ thuật chuyển
giá đ giúp doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài giảm thiểu đợc số thuế phải
nộp, gây thất thu cho ngân sách nhà nớc
Việt Nam đồng thời tạo nên u thế cạnh
tranh so với các doanh nghiệp trong nớc,
gây những xáo trộn nhất định cho nền
kinh tế nớc ta. Những tác động tiêu cực
này của chuyển giá đòi hỏi pháp luật phải
có sự điều chỉnh thích hợp
(8)
.
4. Pháp luật Việt Nam về chống
chuyển giá
4.1. Thực trạng pháp luật về chống
chuyển giá
Nh đ đề cập ở phần trên, luật thuế
của quốc gia (đặc biệt là thuế thu nhập

cùng chịu sự điều hành, kiểm soát trực
tiếp hay gián tiếp của doanh nghiệp khác
hoặc hai doanh nghiệp cùng có doanh
nghiệp khác tham gia góp vốn. Có thể
nhận thấy là khái niệm này còn rất chung
chung, việc xác định thế nào là tham gia nghiên cứu - trao đổi
34 - Tạp chí luật học

gián tiếp cha đợc quy định cụ thể. Do
đó, chúng ta còn thiếu cơ sở rõ ràng, chi
tiết cho việc xác định các hành vi chuyển
giá.
Trên cơ sở thông lệ quốc tế, Thông t
89 quy định ba biện pháp chống chuyển
giá sau đây:
+ Biện pháp so sánh giá thị trờng
Cơ quan thuế có thể sử dụng giá sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng để
ấn định cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
trao đổi trong nội bộ các doanh nghiệp
liên kết với điều kiện không có sự khác
nhau giữa hai nghiệp vụ kinh doanh đợc
so sánh ảnh hởng đến giá giao dịch hoặc
nếu có sự khác nhau trong việc so sánh
hai nghiệp vụ kinh doanh thì có thể sử
dụng các biện pháp tính toán để loại trừ
các nhân tố ảnh hởng đến giá giao dịch.

(trừ thuế nhập khẩu nếu có) - [giá bán cho XN
độc lập (trừ thuế nhập khẩu, nếu có) ì tỉ lệ li
gộp bình quân ngành thơng nghiệp]
Về nguyên lí, biện pháp này giống với
phơng pháp giá bán lại. Vấn đề cơ bản
là phải xác định đợc chính xác tỉ lệ li
gộp bình quân ngành thơng nghiệp. Tuy
nhiên, việc áp dụng công thức tính tỉ lệ
li gộp bình quân theo Thông t 89 cũng
không phải là vấn đề đơn giản và mang
tính khả thi cao vì số liệu để tính toán là
dựa trên báo cáo kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
+ Biện pháp sử dụng giá thành toàn
bộ để xác định thu nhập chịu thuế
Nếu có đơn vị sản xuất, chế biến bán
thành phẩm và giao toàn bộ cho xí nghiệp
liên kết, không có sản phẩm bán ra trên
thị trờng để xác định giá so sánh thì cơ
quan thuế có thể căn cứ vào sổ sách kế
toán hạch toán chi phí của đơn vị để xác
định thu nhập của đơn vị đó theo công
thức:
Thu nhập ấn định = Tổng giá thành toàn bộ
sản phẩm ì Tỉ lệ thu nhập ròng bình quân ngành
sản xuất
Giống nh hai trờng hợp trên, Thông
t 89 mới chỉ dừng lại ở việc đa ra
những quy định mang tính nguyên tắc
cho biện pháp này mà thiếu những hớng

luôn luôn là cần thiết trong mọi trờng
hợp. Hơn nữa, hon áp dụng chống
chuyển giá cha hẳn đ là sự bảo đảm
cho việc cải thiện môi trờng đầu t ở
Việt Nam.
Một số chuyên gia khác cho rằng
những quy định của Thông t 89 đến nay
không còn phù hợp nữa và chúng ta cần
thay đổi nó bằng cách áp dụng các
phơng pháp chống chuyển giá theo mô
hình của luật Hoa Kì và luật mẫu của
OECD
(10)
. Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc
áp dụng các mô hình này tại Việt Nam ở
thời điểm hiện tại là không mang tính khả
thi. Mặc dù các mô hình đó rất u việt
nhng chúng đợc xây dựng là để áp
dụng ở những nớc có nền kinh tế thị
trờng đ phát triển, nơi điều kiện kĩ
thuật cũng nh đội ngũ cán bộ chuyên
môn có đủ năng lực để thực thi pháp luật.
Việc chúng ta nên làm trong thời gian
trớc mắt có lẽ là sửa đổi các biện pháp
chống chuyển giá trong Thông t 89 theo
hớng cụ thể và rõ ràng hơn. Định giá
không phải là môn khoa học chính xác
nên việc tuân thủ chỉ có thể thực hiện
đợc khi các quy tắc đợc quy định chi
tiết và nhất quán. Tuy nhiên, các quy tắc

(7).Cảnh báo những tác hại nguy hiểm về việc
chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam, Tạp chí tài chính, số 11-1999,
tr.4.
(8).Xem: Nguyễn Ngọc Thanh - Hiện tợng chuyển
giá của các công ti đa quốc gia: Tác động tiêu cực và
giải pháp khắc phục, Tạp chí tài chính, số 11-1999,
tr. 19.
(9).Xem: Steven Ng, "ý kiến", Tạp chí tài Chính, số
11-1999, tr. 5.
(10).Xem: Nguyễn Thị Liên Hoa - "Đề xuất một số
phơng pháp chống chuyển giá trong các doanh
nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam", Tạp chí tài
chính, số 11-1999, tr. 22 - 24.
(11).Xem: Nigel Russell, "ý kiến", Tạp chí tài chính,
số 11-1999, tr. 6.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status