Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 3
ĐỜI SỐNG, LỄ HỘI, PHONG TỤC
TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI CHĂM Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 4ịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ
ở duyên hải miền Trung Việt
Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên
một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng
sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ
những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã
từng xây dựng nên vương quốc Chămpa.
Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận
chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và
Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bàlamôn
(một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo
đạo Islam truyền thống gọi là người
Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa
phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc,Tây
Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố
Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo)
mới.
oạt động sản xuất: Người Chăm
có truyền thống nông nghiệp
ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm
hiện trong giới nữ cao niên.
: Người Chăm cư trú tại Ninh
Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất
(nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi
nhà được xây cất gần nhau theo một trật
tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và
các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã
lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó
có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở
của vợ chồng cô gái út.
L
HNghề dệt thổ cẩm của ngư
ời Chăm
đang phát triển và thích
ứng với kinh tế
hàng hoá, ph
ục vụ đáng kể cho nhu cầu du
khách khắp cả nước.
N
Ă
M
Ở
những ngăn cách rõ rệt: không được thiết
lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng
một xóm, không ăn cùng một mâm
ưới xin: Phụ nữ chủ động trong
quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú
phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ.
Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một
vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn
nhân.
a chay: Người Chăm có hai
hình thức đưa người chết về thế
giới bên kia là thổ táng và hoả táng.
Nhóm cư dân theo đạo Bàlamôn thường
hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư
dân khác thì thổ táng. Những người trong
cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng
một nơi theo huyết hệ mẹ.
hà mới: Người Chăm ở Ninh
Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà
mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng
thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại
rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải
làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ
chức để khởi công cho việc xây cất ngôi
nhà.
ễ tết: Người ta thực hiện nhiều
nghi lễ nông nghiệp trong một
chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập,
lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa
ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon
M
N
L
L
H
V
C
Thư mục chun đề Văn hóa Chăm 6
LỄ HỘI KATÊ CỦA
NGƯỜI CHĂM BàLaMôn
TS. Nguyễn Đức Tồn
atê là mùa lễ hội
lớn trong năm của
người Chăm Bà
La Mơn tại Ninh
Thuận và Bình Thuận. Lễ hội
Katê có ý nghĩa kính nhớ ơng
bà tổ tiên, những người đã
khuất, tưởng nhớ đến các vị
theo đường quốc lộ 27 từ Phan Rang đi
Đà Lạt).
Theo truyền thống, ngày 1 tháng 7
lịch Chăm là ngày chính lễ của lễ hội
Katê, được tổ chức tại các đền tháp của
người Chăm. Vì thế, ngày này còn được
gọi là ngày lên tháp. Tính theo dương
lịch, ngày lên tháp tương ứng với khoảng
thời gian từ giữa tháng 9 đến giữa tháng
10 dương lịch. Năm nay (2004), ngày lên
tháp nhằm vào ngày 13/10 dương lịch.
Đến ngày lên tháp, ngay từ khi trời chưa
kịp sáng, khắp các palay Chăm (làng
Chăm) của người Chăm Bà La Mơn tại
Ninh Thuận đã nhộn nhịp tiếng mọi
người gọi nhau để chuẩn bị “lên tháp”
(các tháp Chăm thường được xây dựng
trên các ngọn đồi).
Đến khoảng 7 - 8 giờ sáng hơm lên
tháp, y phục của các “thần vua” được
rước từ danok lên trên tháp để hành lễ.
Theo truyền thống, y phục vua Chăm do
người Raglai gìn giữ và được đem đến
danok vào ngày kế trước hơm lên tháp. Ở
Ninh Thuận có ba danok: danok vua Pơ
Rơ mê ở làng Chăm Hậu Sanh, danok nữ
thần Pơ Nagar ở làng Chăm Hữu Đức và
danok vua Pơ Klong Garai tại làng Phước
K
cộng đồng) mặc vào tượng vua trong tháp
thờ. Sau khi tiến hành nghi thức tắm
tượng, cuộc tế lễ bắt đầu.
Trong khung cảnh trang nghiêm tại
lòng tháp, tiếng thầy Kadhar kể tiểu sử và
ca tụng công đức các vị thần hòa quyện
với tiếng kèn saranai, đàn kanhi réo rắt và
tiếng trống ginăng rộn rã. Trong khi đó, ở
trước thềm cửa tháp, các phụ nữ Chăm
bày biện la liệt các lễ vật cúng thần linh
để cầu xin ơn lành, cầu cho gia đình một
năm mới an khang thịnh vượng. Lễ vật
có cả món ngọt lẫn món mặn như: ngạnh
(dê), cơm, canh, món mặn, xôi, chuối,
bánh ngọt, trái cây… . Thời gian cúng lễ
trên tháp được kéo dài cho đến xế chiều
và kết thúc vào khoảng 15 - 16 giờ cùng
ngày bằng nghi lễ đóng cửa tháp. Trong
khoảng thời gian từ lúc mở cửa tháp cho
đến khi đóng cửa tháp, từng dòng người
đông đảo tiếp tục tuôn về các đền tháp.
Người lớn mang lễ vật đến cầu khấn
được buôn may bán đắt, gia đình bình an,
hòa thuận hoặc dâng lễ để tạ ơn thần đã
đáp ứng lời cầu xin; thanh niên nam nữ
cầu thần ban cho văn hay, chữ tốt, nghề
nghiệp tinh thông, tình duyên mặn nồng
các phụ nữ hiếm muộn cũng tranh thủ dịp
này để đến tháp cầu tự. Thông thường,
những ai có nhu cầu được buôn may bán
(khoảng 12 - 13 giờ trưa) của vùng đất
Phan Rang khô hạn trong sự tham gia cổ
động của cả ngàn người. Tiếp theo tiết
mục múa Chăm là các hoạt động thi đấu
thể thao. Buổi tối ngày hôm đó, cũng tại
Hữu Đức, mọi người sẽ cùng dự đêm văn
Thư mục chun đề Văn hóa Chăm 8
nghệ truyền thống Chăm để thưởng thức
các điệu múa Chăm từ múa dân gian cho
đến múa cung đình, những làn điệu dân
ca từ cổ truyền cho đến hiện đại… .
Katê có ba cấp độ là Katê đền tháp,
Katê làng và Katê gia đình. Những ngày
tiếp theo “ngày lên tháp” (Katê đền tháp),
người Chăm tiến hành Katê làng. Tuần tự
từng làng Chăm theo từng nhóm đền tháp
tổ chức cúng Katê làng ở kajang (nhà lễ)
của mỗi làng. Sau Katê làng, bà con
người Chăm tiếp tục Êw Lithay (cúng
ơng bà) tại gia đình, gọi là Katê gia đình.
Trong những ngày mừng tết Katê, ai đó
có việc phải đi đâu xa cũng đều tranh thủ
tìm về mái ấm gia đình. Người ta đến
thăm hỏi nhau, tiệc tùng, vui chơi giải
trí… Trong những ngày diễn ra lễ hội
Katê, tại các làng Chăm thường có các
hoạt động thể thao, giao lưu văn nghệ… .
Ở làng dệt cổ truyền Mỹ Nghiệp (thuộc
thị trấn Phú Q - Ninh Phước - Ninh
Chăm còn sống rải rác ở nhiều nước khác
như Campuchia, Thái Lan, Malaysia…
Những nét đặc sắc của văn hố Chăm
thể hiện từ tiếng nói, chữ viết, từ nghệ
thuật và kỹ thuật tạo dáng của các ngơi
tháp bằng đất, các pho tượng bằng đá,
đến các sản phẩm vải thêu, dệt hoa văn,
dệt thổ cẩm hoặc đồ gốm và các vật dụng
phục vụ cho cuộc sống hàng ngày.
Người Chăm có tiếng nói và chữ viết
riêng của mình. Chăm Tây cùng với sự
duy trì phát triển Hồi giáo trong việc học
tập giới luật và tìm hiểu kinh thánh
Koran nên đã dùng chữ Ả Rập và chữ Mã
Lai. Cho đến bây giờ Chăm Tây sử dụng
loại chữ Mã Lai khá thành thạo trong
việc ghi chép và thư từ… Chăm Ðơng thì
sử dụng chữ Thrah và xem đó là loại chữ
truyền thống.
Người Chăm ln tự hào về những
ngơi tháp Chăm-pa cổ kính xây dựng
bằng đất nung độc đáo. Hình ảnh vũ nữ
Chăm-pa cổ xưa đã được chạm khắc vào
các đền tháp, trong đó bức phù điêu Vũ
nữ Trà Kiệu là một trong những tuyệt tác.
Là một bộ phận của nền văn hố dân tộc,
kiến trúc dân gian của người Chăm cũng
có một lịch sử và truyền thống lâu đời.
Bàn tay và khối óc sáng tạo của dân tộc
Chăm làm sáng tỏ tính phong phú, đa
Dàn nhạc đệm cho múa thương gồm hai
trống Pa-ra-nưng và một kèn sa-ra-nai.
Nhìn chung, vũ điệu Chăm-pa nhằm phô
diễn vẻ đẹp của con người.
Người Chăm có nhiều lễ hội trong
năm, như hội Rija, Roya, Ramadan, lễ
Pơk Băng Yang, lễ Katê… Trong đó, lễ
hội Katê là một trong những lễ hội lớn
nhất của người Chăm được tổ chức
thường xuyên vào đầu tháng 7 (lịch âm)
tức là vào trung tuần tháng 9 (âm lịch) và
tháng 10 (dương lịch) để tưởng nhớ các
vị anh hùng dân tộc và ông bà tổ tiên.
Thổ cẩm là nghề truyền thống của
người Chăm. Thiếu nữ đến tuổi lấy
chồng, ai cũng biết dệt vải. Những tấm
khăn, cái áo làm ra được coi là thước đo
của sự đảm đang tháo vát của các cô gái
Chăm. Nghề dệt thổ cẩm đòi hỏi sự tỉ mỉ
và khéo léo. Ðể có một tấm chăn, các cô
gái phải cần mẫn ngồi bên khung cửi từ
sáng đến chiều tối với sự nhịp nhàng,
chuẩn xác trong từng thao tác. Chỉ cần
một mối chỉ bị rối, mặt vải sẽ không còn
mịn nữa. Các sản phẩm dệt của người
Chăm khá phong phú, đáp ứng rộng rãi
cho nhu cầu trang phục, trang sức của
người Chăm.
Vào dịp hội hè, lễ lạc, trai gái Chăm
còn trang sức bằng các thắt lưng do
Chính chữ viết đã cho người Chăm có một nền văn minh rực rỡ và độc
đáo một thời”.
Xưa nay, chúng ta biết đến sự đặc sắc
của văn hóa Chăm qua các điệu múa của
vũ nữ Apsara, sự độc đáo của lễ hội Rija
Nưgar, Katê hay sự bí ẩn của các ngôi
tháp cổ. Tuy nhiên, nền văn minh
Chămpa xưa còn là ngôn ngữ Chăm và
nền văn học viết có từ rất sớm. Tất cả
đang được giới thiệu tới công chúng Thủ
đô trong triển lãm Không gian văn hóa
Chăm, tại 36 Điện Biên Phủ, Hà Nội.
Chămpa là dân tộc có chữ viết sớm
nhất Đông Nam Á. Theo các nghiên cứu
về văn bia cổ, ngay từ thế kỷ thứ IV
người Chăm đã có chữ viết của mình.
Tiếng Chăm có 65 ký hiệu và 24 chân
ngữ bắt nguồn từ hệ thống chữ thảo của
Ấn Độ. Chữ viết Chăm cũng không
ngừng hoàn thiện và phát triển. Theo ông
Thập Liên Trưởng, chuyên gia ngôn ngữ
của Trung tâm Nghiên cứu văn hóa
Chăm tại Ninh Thuận: “Khoảng đầu thế
kỷ XVII, chữ Akhan thrah - chữ Chăm
hiện đại, đã thoát khỏi vỏ bọc của chữ
Phạn và được sử dụng phổ biến trong các
thư tịch cổ và bia ký còn lưu lại ngày
nay”.
Người Chăm cổ có một kỹ thuật làm
giấy điêu luyện và độc đáo, tiếc là nay đã
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 11
hoặc, lời thơ mỹ miều, văn hoa. Trong
các sáng tác văn thơ, các tác giả Chăm
thường sử dụng nhiều điển tích và ẩn dụ
của văn học Ấn Độ để thể hiện sự hiểu
biết và thông thái của mình. Song song
với nó là một dòng văn học dân gian, với
ca dao, dân ca truyền miệng bình dân gần
gũi.
Người Chăm không thích nói về
những điều thực tế, kỹ thuật hay vật chất.
Tính đa chủ đề, khái quát được thể hiện
rõ trong từng cuốn sách. Qua những cuốn
sách mỏng nói về các nghi lễ tâm linh,
chúng ta còn bắt gặp trong đó một bài
thơ, một lời chúc phúc, vài ý tưởng, quan
điểm tôn giáo, triết học
Chữ viết của người Chăm có một thời
gian bị bỏ rơi. Từ năm 1978 đến nay, Ban
biên soạn sách tiếng Chăm đã xuất bản
các cuốn sách bằng ngôn ngữ Chăm cho
các lớp tiểu học của con em người Chăm.
Tạp chí Sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu
Chăm mang tên Tagalau xuất bản từ năm
2000, góp phần gìn giữ văn hóa viết
Chăm. Bên cạnh đó, dòng văn học bằng
tiếng Chăm đã bắt đầu hồi sinh và phát
triển với các nhà thơ đương đại như:
Hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận có số dân đông nhất (57.137), chiếm gần 50%
người Chăm ở Việt Nam. Họ sống tập trung thành từng làng palei riêng biệt và bảo lưu
đậm nét nhiều tập tục truyền thống như nghi lễ, hội hè, tục cúng tế đền tháp, tục cưới gả,
tang ma, tín ngưỡng, tôn giáo, luật tục, văn chương, làng nghề…mang bản sắc văn hoá
riêng.
1. Làng Palei Chăm:
Hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận
có tất cả 22 làng palei thuộc 13 xã và 4
huyện thị (Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh
Sơn, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm).
Trong đó được phân chia ra thành hai
cộng đồng: Chăm Ahiêr (Chăm ảnh
hưởng Bàlamôn giáo) và Chăm Awal
(Chăm ảnh hưởng Hồi giáo). Mỗi cộng
đồng tôn giáo lại sinh sống thành từng
palei riêng biệt. Trong tổng số 22 làng
palei thì có 15 làng Chăm Ahiêr và 7 làng
Chăm Awal. Mặc dù là một dân tộc
Chăm Ahiêr và 7 làng Chăm Awal. Mặc
dù là một dân tộc Chăm nhưng phân chia
ra làm hai nhóm Chăm, ảnh hưởng đạo
giáo khác nhau (Ahiêr và Awal), sống
tách biệt nhau. Tuy vậy hai nhóm này
vẫn cùng mang một đặc trưng văn hoá
chung.
Palei Chăm thường định cư trên
những vùng gò đất cao, xung quanh là
ruộng lúa và nương rẫy. Mỗi palei có
khoảng từ 300 - 400 hộ gia đình, tập hợp
gia đình chung một dòng họ phía mẹ
thường bố trí nhà cửa cùng dãy với nhau.
Mỗi dòng họ có một tộc trưởng đứng đầu
gọi là “akauk gơp”. Ngày xưa trưởng tộc
là đàn bà, ngày nay được thay thế bởi
người đàn ông. Nhiệm vụ của trưởng tộc
là quản lí các thành viên, giải quyết
những vấn đề thắc mắc giữa các thành
viên và chăm lo, tổ chức cúng tế những lễ
nghi tín ngưỡng liên quan đến tộc họ.
Mỗi dòng họ trong làng được phân biệt
với nhau bằng nghĩa địa của dòng họ mẹ
(kút, ghôr). Mỗi dòng họ có một vật thờ
tổ gọi là “Chiết atâu” (Chiếc Atâu là một
loại giỏ đan bằng tre hình hộp vuông có
nắp đậy, dùng để bỏ y trang, đồ cúng lễ
của tổ tiên tộc họ. Chiếc Atâu chỉ được
đem ra ngoài khi tộc họ có dịp cúng lễ).
Đơn vị cơ cấu căn bản của hệ thống
thân tộc của người Chăm là mẫu hệ gia
tộc. Những mối quan hệ bên mẹ là quan
hệ thân thuộc và quan trọng nhất. Tổ tiên
được thờ phụng là tổ tiên bên mẹ. Quyền
thừa kế tài sản thuộc về con gái út. Phụ
nữ Chăm nắm quyền quyết định trong gia
đình. Vai trò Cậu (cey) được đề cao và
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 13
vẫn còn chi phối mạnh mẽ trong gia đình
người Chăm hiện nay.Nói chung sinh
mình, người Chăm có một nền nông
nghiệp phát triển khá sớm. Từ lâu đời họ
đã biết đắp đập khai mương để trồng lúa
nước mà đến nay vẫn còn các dấu vết các
công trình thủy lợi trên dải đất miền
trung như: đập Do Linh (Quảng Trị), đập
Nha Trinh và đập Marên (Ninh Thuận).
Họ còn có kĩ thuật canh tác ruộng nước
khá cao. Tùy theo loại ruộng như ruộng
gò (hamu tamu), ruộng cát (hamu cwah),
ruộng sâu (hamu dhong) mà họ có kĩ
thuật canh tác và sử dụng các loại giốngl
úa ngắn ngày, cho năng suất cao như loại
giống lúa chiêm, lúa mùa (padai bidiên,
padai halim, paday ia ok, padai
kuprok…). Do đó không phải ngẫu nhiên
mà người Trung Quốc và người Kinh đều
du nhập giống lúa của người Chăm mà
họ thường gọi là “lúa Chiêm”.Bên cạnh
làm ruộng người Chăm còn là những
người làm vườn giỏi. Họ trồng nhiều hoa
màu và cây ăn trái như ngô, khoai lang,
đậu xanh, đậu nành, chuối, dừa, hồ tiêu…
Nhờ đó mà dân cư có hoa quả và ăn rau
xanh 4 mùa. Bên cạnh nghề nông, người
Chăm còn biết khai thác những khu rừng
lớn có các loại gồ mun, trầm hương, vỏ
cây làm thuốc nhuộm… rất được ưa thích
trên thị trường. Họ cũng biết khai thác tài
nguyên khoáng sản ở xứ họ để đem bán ở
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 14
ễ dựng chòi cày (Padang
paday tuan):
Lễ dựng chòi cày là lễ mở đầu
công việc đồng áng hàng năm của
người Chăm. Trước khi khởi đầu
công việc cày gieo người Chăm
thường dựng lên một cái chòi nhỏ ở
gần ruộng của mình để trú ngụ tránh
mưa nắng và để dụng cụ lao động
trong thời gian cày cấy. Lễ này được
thực hiện trên thửa ruộng từng gia
đình.
Thầy cúng lễ là ông “Cai
mương” (Hamu ia) hoặc “Ong Từ”(
Camưney). Ngày cúng lễ là ngày thứ tư
hay thứ bảy trong tuần. Lễ vật gồm có 1
cặp gà, 5 mâm cơm, rượu, trứng, trầu
cau…
Các vị thần linh được cầu cúng trong
lễ này là các vị thần như thần trời, thần
cha (Po yang amư), thần mẹ, thần sông
(Po patau ia), thần thủy lợi như Pô
KLong Garai, Pô Rômê và các vị khẩn
hoang tiền hiền… Mục đích lễ này, họ
cầu mong cho mưa thuận gió hòa, công
việc cày cấy được suông sẻ, mùa màng
tốt tươi…
ễ cúng ruộng lúc lúa đẻ nhánh (Iew
trồng lúa.
LLễ hội cầu đảo
L
L
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 15
ễ thu hoạch lúa (Iew Yang Trun
Yuak):
Lễ này thường diễn ra vào
tháng 11 lịch Chăm (tháng 10 âm lịch).
Khi cúng lễ, người Chăm phải chọn
ngày tốt (ngày thứ tư hoặc thứ bảy) để
xuống gặt lúa. Lễ này do ông Cai
mương hoặc ông Cai đập cúng (ôn
Binưk). Lễ vật gồm có 1 cặp gà, rượu,
trứng, trầu cau, xôi chè… Nội dung
cúng tương tự như lễ lúa làm đòng. Khi
lễ cúng này kết thúc thì ông thầy cúng
bước xuống ruộng, dùng lưỡi liềm cắt
một bó lúa để khai lễ ngày gặt lúa. Cách
3 ngày sau ruộng lúa mới được thu
hoạch. Bó lúa lễ được chủ ruộng đem
về nhà để trên trần nhà đến mùa sau thì
đem ra cúng.
ễ lúa mới lên sân (Da a patai tagok
Cà Ná (Phước Diêm - Ninh Phước) và
cửa biển Mỹ Tân (Mỹ Tường, Ninh
Hải) để cúng lễ.
Lễ Palau sah là một nghi lễ tổng hợp
của các lễ thức người Chăm. Đây là lễ
cúng chung cho các vị thần Chăm như
các vị thần Bàlamôn (Yang bimon -
yang aklak), các thần Hồi giáo - Bàni
(yang birow - thánh alla); thần núi, thần
sông, thần biển… Các vị chức sắc cúng
lễ như tu sĩ Paseh của nhóm Chăm
Ahiêr, tu sĩ Acar của nhóm Chăm Awal,
thầy cúng tín ngưỡng dân gian như
Kadhar (thầy kéo đàn Rabap), thầy
Mưduôn (thầy vỗ trống Basanưng), thầy
Ka-in (thầy bóng), Muk Pajau (Bà
bóng), ông Cai đập (binưk), ông Cai
mương (Hamu ia)…
Riêng lễ Palau Sah (cầu đảo) ở Bỉnh
Nghĩa (Ninh Hải) có nội dung khác lễ
cầu đảo (Yuơr yang) ở các vùng Chăm
khác. Lễ Palau sah ở thôn Bỉnh Nghĩa
có nội dung tương tự như lễ hội múa
Rija Nưgar (Lễ hội múa tống ôn đầu
năm). Còn lễ Palau sah ở vùng Chăm có
đặc điểm chung như nhau và bao gồm
các tiểu lễ như sau:
ễ Rija harei (lễ múa ban ngày):
Lễ này được tiến hành trong
một nhà lễ làm bằng tre, mái lợp
khấn vái và tham gia múa mừng.
ễ cúng Rija Dayuap (lễ cúng ban
đêm):
Lễ này được tiến hành vào lúc
chiều tối hoặc ban đêm do Kadhar (thầy
kéo đàn Rabap) và bà bóng (Muk
Pajau) thực hiện. Lễ này có sự tham gia
của tu sĩ Po Acar nhóm Chăm Awal. Lễ
vật gồm 1 con dê, 5 mâm cơm, xôi chè,
trầu cau, rượu trứng, bánh trái… Thầy
Kadhar (thầy kéo đàn Rabap) hát mời
các vị thần như Po Au loah, Po Bal
Gina, Po Cah ya, và thần mẹ xứ sở (Po
Inư Nưgar), Pô KLong Garai, Pô Rô mê
(Vua Chăm được suy tôn thành thần
thủy lợi), thần núi (Po Cơk), thần sông
(Po Patau Ia), thần biển (Yang tasik)…
Ông Kadhar hát thì bà bóng múa phụ
họa…
ễ tế thần lửa (cuh yang apui):
Lễ này do tu sĩ paseh thực
hiện. Đây là lễ cúng các vị thần Chăm ở
đền tháp (yang Bimon) đặc biệt là cúng
tế thần lửa (yang apui) để cầu thần lửa
đem lại lửa làm sấm chớp, mây, mưa…
Nội dung lễ này tương tự như lễ nghi
đốt thần lửa ở đền tháp Chăm.
ễ rước gậy thần của tu sĩ Acar (Gay
bhong):
Lễ này do nhóm tu sĩ Chăm Awal
và từng khu vực tham gia. Cùng với lễ
L
L
L
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 17
Palau Sah (cầu đảo), thời điểm này còn
có lễ cầu đảo Po Nai, Po Rijak đã góp
phần làm cho lễ hội Chăm sôi động hẳn
lên. Đây là thời điểm lễ hội Chăm diễn
ra khắp nơi, từ bãi trống đầu làng đến
mỏm núi, bờ sông, bờ biển là cho làng
Chăm thực sự là mùa trẩy hội. Tháng tư
là mùa nắng nóng - mùa cầu mưa, cầu
nước - mùa cầu khấn cho dân làng khỏi
bệnh tật bởi sức nóng khắc nghiệt của
vùng nhiệt đới. Do vậy thời điểm này là
mùa diễn ra nhiều nghi lễ hội hè ở khắp
mọi nẻo của làng - Palei Chăm.
ễ chặn nguồn nước (Kap kraung
Halau):
Sau khi làm lễ cầu đảo, trời bắt
đầu ban xuống cơn mưa cho dân làng
cày cấy. Để tránh mưa nhiều, gây ra bão
lụt thì người Chăm còn tổ chức làm lễ
chặn nguồn nước. Lễ này được thực
hiện ở các cửa sông lớn. Lễ được diễn
chức 7 năm 1 lần. Lễ vật cúng một con
trâu trắng tại núi Đá Trắng thuộc thôn
Như Ngọc, Ninh Phước, Ninh Thuận.
Nguồn gốc của lễ này theo truyền
thuyết kể lại: Ngày xưa khi người Chăm
chưa có vua, ông “kay Klong, kay
Biên” mới đào đất lấp biển, phá núi để
hình thành đất đai, sông biển cho người
Chăm. Lúc đó ở xứ Chăm có một Chằn
tinh (Rak) từ đâu xuất hiện đòi làm vua
xứ Chăm. Chằn tinh đòi vua Chăm phải
nộp nhiều thứ thuế và nộp cả người đẹp.
Về sau Chằn tinh còn đòi vua Chăm
nộp cả công chúa. Thấy Chằn tinh ngày
càng gieo tai họa cho dân làng, và để
cứu công chúa ra khỏi tay Chằn tinh.
Vua cầu xin thần linh phù hộ cho dân
làng và giúp vua tiêu diệt cho được
Chằn tinh. Vua tập trung dân làng, ra
tay chiến đấu nhiều ngày đêm với Chằn
tinh. Cuối cùng Chằn tinh bị vua chém
đầu, Chằn tinh bị giết chết, xương chất
đống thành núi màu trắng. Từ sự tích
đó, tại làng này có một ngọn núi Đá
Trắng, trên núi có một cái hang sâu mà
dân gian gọi hang đó là đầu và miệng
của Chằn tinh và lấy tên núi đó là “Cơk
yang Patau” (Núi vua chúa). Từ đó dân
làng thoát khỏi tai họa. Về sau để trừ
Chằn tinh phá hoại dân làng, mùa
trâu. Ông Hamu ia cầu thánh Alla, thần
đất, thần núi Đá Trắng, thần Chằn tinh
(Cơk yang patau)… cho phép ông được
cắt cổ trâu và các vị thần sớm cầu siêu
cho linh hồn con trâu và các vị thần
nhanh mà đến hưởng lễ. Hết lời cầu
khấn ông cắt cổ trâu. Trong lúc cắt cổ
trâu ông Cai lệ nín thở cho đến khi
huyết trâu chảy hết và trâu tắt thở trong
tiếng chiêng và lời hát lễ của thầy
Kadhar kéo đàn Rabap.
Lễ vật cúng thần Yang, thần Chằn
tinh ở núi Đá Trắng, ngoài thịt trâu còn
có hai con gà luộc, bánh chà cung (bánh
bột gạo), 2 chén rượu cần, trứng, trầu
cau, bánh trái…
Địa điểm cúng lễ ngoài tại chân núi
Đá Trắng - nơi hành lễ chính, họ còn
cúng tại nơi dựng tấm bi “Yang Tikuh”
một mâm cơm, 1 mâm thịt, 1 mâm cỗ
bánh (bánh tét, trái cây hoa quả). Và
cúng tại đỉnh núi đá trắng gồm: 1 mâm
cơm, một mâm thịt trâu, 1 cỗ bánh, 1
thau huyết trâu.
Nghi thức hành lễ, thầy Kadhar kéo
đàn Rabap hát thánh ca mời các vị thần
thì ông Cai lệ (Humua ia) đánh chiêng
và Bà bóng (Muk pajau) dâng lễ vật. Họ
mời các vị thần như thần đất (Po bhum),
các vị thần núi ở núi đá trắng (Po cơk
hội của tộc họ được tổ chức
theo định kỳ 1 năm, 3 năm
hoặc 7 năm một lần. Lễ Puis,
Payak là hai loại lễ khác
nhau, tuỳ theo phong tục thờ
cúng, hệ thống thờ thần mà
mỗi tộc họ tổ chức lễ Puis
hoặc Payak để tế thần linh.
Lễ Puis:
Là loại lễ nghi của tộc họ
cúng để trả lễ và thết đãi thần
linh (Jiư muk key) - cụ thể là
lễ tế thần Po Rame. Lễ này thường được
tổ chức theo định kỳ 1 năm, 2 năm hoặc
7 năm một lần khi tộc họ làm ăn được
mùa, phát đạt con cháu sum họp.
Lễ Puis được tổ chức phổ biến trong
tộc họ thuộc các làng thờ tháp Pô Rô mê
như Hậu sanh, Mỹ Nghiệp, Vĩnh Thuận,
Vụ Bổn, Hiếu Thiện (Ninh Thuận)…
Còn các tộc họ khác thờ cúng thuộc khu
vực tháp Pô KLong Garai (Đô Vinh -
Ninh Thuận) thì làm lễ cúng Payak. Tục
lễ ấy đã có từ xưa đến nay và đã trở thành
phong tục, tín ngưỡng của tộc họ. Cứ như
thế khi đến chu kỳ cúng lễ hàng năm thì
tộc họ phải thực hiện những lễ cúng trên.
Khi đến một chu kỳ cúng lễ Puis của
tộc họ thì trưởng tộc họ (akauk gơp) có
nhiệm vụ đi thông báo đến các thành viên
Lễ rước y trang Nữ thần Pô Inư Nưgar
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 20
5m), chủ yếu làm bằng tre, và mái thì lợp
tranh hoặc tấm bạt và mở một lối ra vào ở
hướng đông – tây.
Lễ vật cúng lễ Puis bao gồm:
- 1 bộ y phục đàn ông (1 cái váy
trắng, 1 dây thắt lưng, 1 cái áo sah, 1 cái
khăn đội đầu) và 1 bộ trang phục đàn bà
(1 cái váy trắng, 1 dây thắt lưng, 1 cái áo,
1 cái khăn đội đầu). Hai bộ trang phục
này được treo lên trước bàn tổ trong nhà
lễ (Kajang).
- Ngoài trang phục lễ, lễ vật dâng
cúng còn có cơm canh, rượu trứng, cá
khô, bánh chakun (bánh hấp bằng bột
gạo), cơm rượu (tapai thanh) và 3 chén
rượu cần (ia tapay) và hoa quả…
Tất cả những lễ vật được sắp xếp theo
mâm lễ. Tùy theo lễ cúng vị thần nào mà
mâm lễ vật được xếp trên mâm 5 tầng, 7
tầng, 8 tầng hoặc 9 tầng. Mỗi tầng lễ vật
được sắp xếp xen kẽ nhau bao gồm: bánh
tét (pay nung), bánh chakun (kur), bánh
tráng (pay Chăm), cá khô (rik), chuối
(patey)… Tổng cộng tất cả 16 mâm lễ,
trong đó hai mâm xếp 9 tầng (kaya
salipan), 2 mâm xếp 7 tầng (kaya tajuh),
thần linh sau: Thần Siva (Po Ginôr
mưtri), Thần trong nhà (Yang di sang),
Thần mẹ xứ sở (Po Inư Nưgar taha),
Thần mẹ xứ sở Hamu Mưrâu (Po Inư
Nưgar hamu Mưrâu), Thần mẹ xứ sở
Hamu Ram (po Inư Nưgar Hamu Ram),
Quan văn (Po Par), Vua Chăm thế kỷ
XVII (Po Rame), Vua Chăm thế kỷ XIV
(Po Thun Garai), Quan phó vương miền
núi (Po Garai phauk), Po Klaung Kasat,
Cey Thuơr (biệt hiệu thần Po Klaung
Garai), Thần Yang in (Po Yang In), Thần
rừng trầm, rừng quế (po Tang, Po Galau),
Thần sóng biển (Po Riyak), Chàng trai trẻ
(Po Dam), Tổ tiên (Po Trauk, Po Patra).
Mỗi vị thần trên khi được mời về dự
thầy Kadhar kéo đàn Rabap hát bài thánh
ca, ca ngợi công lao tiểu sử của các vị
thần. Trong lúc thầy Kadhar hát bài thánh
ca thì bà bóng (Muk pajau) rót rượu cầu
khấn và dâng lễ vật. Bà con dự lễ cũng
cầu khấn cho các vị thần linh vui lòng
hưởng lễ vật của tộc họ dâng cúng mà
phù hộ độ trì cho tộc họ. Nghi thức hành
lễ cúng thần linh và nội dung hát ở lễ
Puis này tương tự như nghi lễ cầu cúng ở
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 21
các lễ liên quan đến đền tháp Chăm như
lễ mở cửa tháp (pơh băng yang), lễ hội
tham gia lễ tạo nên một nhạc lễ riêng biệt
đặc sắc của lễ Puis, Payak mà người
Chăm gọi nhạc lễ này là điệu nhạc
“Chiêng jăp”
Sau lễ múa hát kết thúc thì họ tổ chức
lễ tiễn đưa các vị thần hưởng lễ về thiên
giới. Lễ này ông thầy kéo đàn Rabap và
bà bóng cúng tâu trình với các thần linh
là lễ tế đãi thần của tộc họ đến đây kết
thúc. Bà bóng ngồi rót rượu, tay cầm
những hạt lúa nổ (kaman) rãi khắp bàn tổ
trong nhà lễ rồi rót rượu xuống đất miệng
cầu khấn: Nghi lễ cúng thần đã kết thúc,
cầu mong các vị thần trong đền tháp
(yang bimôn kalan), các vị thần trong nhà
(yang di sang) và tổ tiên… phù hộ độ trì
cho tộc họ sức khỏe, được mùa, đoàn kết
sum họp, thương yêu lẫn nhau… Sau lời
khấn thì nghi lễ chấm dứt. Nhà lễ lập tức
được dỡ bỏ, nghi lễ tế thần linh - Puis kết
thúc trong ngày.
Lễ Payak:
Là lễ của tộc họ chủ yếu là cúng vị
thần tổ tiên (yang di sang) và thần Pô
KLong Garai. Lễ payak do các tộc thuộc
các làng Chăm thờ tháp Pô KLong Garai
thực hiện như: làng Phước Đồng, Chất
Thường, Hiếu Lễ, Hoài Trung (Ninh
Phước - Ninh Thuận)…
Hành lễ Payak cũng tương tự như lễ
hạt lúa (tamia ôn kaman), múa cho con
ăn (tamia crauk lithey ka anưk), múa ru
con (tamia dai anưk)…
- Nghi thức múa mừng và múa đạp
lúa tương tự như lễ Puis.
- Múa ngậm lửa: là một điệu múa của
bà bóng, tay cầm 3 cây nến thắp sáng rồi
ngậm lửa vào miệng. Khi bà bóng ngậm
lửa vào miệng mà nhún nhảy thì thầy
Kadhar kéo đàn Rabap và nghệ nhân
khác vỗ trống Paranưng, đánh chiêng dồn
dập… Khi bà bóng múa và ngậm tắt 3
nén lửa thắp sáng thì múa lễ này kết thúc.
- Múa thoát y: Để thực hiện điệu múa
lễ này ngoài bộ y phục màu trắng mà bà
bóng mặc đang hành lễ, thì bà bóng còn
mặc chồng lên thêm một cái váy màu
đen. Khi tiếng nhạc lễ cất lên thì điệu
múa bắt đầu. Bà bóng tay cầm hai đầu
váy đen vừa mặc, vừa làm động tác mở
váy ra. Bà bóng cứ làm động tác cầm hai
đầu váy múa nửa kín nửa hở; nhảy múa
trước bàn tổ để dâng cúng thần linh. Nghi
thức múa mặc váy nửa kín, nửa hở như
trên người Chăm gọi là múa thoát y
(tamin lang halaup).
- Nghi lễ múa mừng hạt lúa nổ: Bắt
đầu điệu múa “Mừng hạt lúa nổ”. Bà
bóng nằm dài trên chiếc chiếu cổ (ciew
ang) đặt ở chính giữa nhà lễ, đầu hướng
này thì nhà lễ được tháo gỡ để trống ở
đầu nhà lễ. Ở phần trống này họ treo một
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 23
tấm váy trắng làm võng ru con. Khi vào
lễ bà bóng ngồi vào bàn tổ rót rượu khấn
vái và vũ sư đứng bên cạnh chiếc võng và
treo bằng váy trắng làm động tác ru con
theo tiếng hát bài ru con (duah dai anưk)
về nữ thần mẹ Po Inư Nưgar do thầy
Kadhar kéo đàn Rabap hát… Đây là điệu
múa lễ cuối cùng trong hệ thống múa đãi
tế thần linh Payak của tộc họ. Cũng
tương tự như lễ cúng đãi thần linh - Puis
đã trình bày ở trên, lễ Payak này cũng kết
thúc lễ bằng nghi thức lễ tiễn đưa các vị
thần linh về lại thiên giới (palau yang).
Lễ tế trâu tộc họ tại tháp Pô KLong
Garai:
Từ xa xưa người Chăm còn có tục lễ
tế trâu, tục gọi là “Kabaw akadang khun
salao” để tế đãi thần linh. Lễ này do một
họ tộc thực hiện. Hiện nay họ còn cúng tế
trâu 7 năm một lần. Lễ này tương tự như
lễ cúng đãi thần linh Payak. Chỉ khác là
cúng trâu nướng nguyên con và phải
cúng tại một rạp lễ gần chân núi tháp Pô
KLong Garai. Hành lễ tế trâu ngoài nội
dung múa hát, nó còn có nghi thức lễ
nướng trâu nguyên con khiêng lên dâng
nghệ thuật múa dân gian Chăm như múa
mừng, múa đạp lúa, múa ngậm lửa, múa
hát ru con… Tất cả những điệu múa này
chỉ mới dừng lại ở những động tác đơn
giản của múa cổ điển như động tác nhún
nhảy cổ tay, bàn chân, đi, đứng, ngồi…
Cùng với múa là nhạc lễ Puis, Payak
cũng vậy. Nhạc ở đây chỉ là nhạc cụ đơn
giản như đàn Rabap, chiêng, nhạc gõ
bằng gỗ (tăm gek), có cả tiếng vỗ tay…
với khúc thức đơn giản mang tính cổ
điển. Tuy vậy, cả múa và nhạc ở lễ Puis,
Payak chính là tiền đề, là con đường
manh nha để hình thành và nâng cao loại
hình múa quạt Chăm và nhạc lễ trống
Ginăng, Paranưng và kèn Saranai Chăm
sau này. Đây chính là loại hình nghệ
thuật múa nhạc cổ điển mang tính bản địa
của dân tộc Chăm rất quý giá có trước
loại hình múa quạt Chăm và nhạc lễ trống
Ginăng, kèn Saranai hiện nay. Chính nó
là cội rễ, là nền tảng, là phần hồn góp
phần quan trọng để hình thành nên kho
tàng nghệ thuật múa hát đặc sắc, tô thêm
những sắc màu rực rỡ cho lễ hội Chăm.
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 24
NGƯỜI CHĂM CÓ MỘT
LÀNG NGHỀ CỔ
Chăm vẫn sử dụng những sản phẩm gốm do mình sản xuất ra. Khi được hỏi tại sao
không dùng đồ dùng bằng nhôm, bằng nhựa cho thuận tiện? Bà con Chăm trả lời
rằng đồ gốm nấu cơm cũng như thức ăn ngon hơn, đựng nước và nấu nước uống
ngon hơn, giá cả lại rẻ hơn. Đồ gốm Chăm hiện nay vẫn được chở đi bán ở khắp
nơi. Ngoài những đồ dùng như chum, vại, nồi niêu, ché, chậu v.v…những sản
phẩm khác như bếp lò nấu than, lò làm bánh Căn, bánh Xèo vẫn dễ tiêu thụ ở cả thị
trường trong và ngoài tỉnh.
N
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 25
Tuy nhiên, làng gốm Chăm vẫn chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa
làng nghề thủ công. Chính phương pháp thủ công của lịch sử để lại đã không đáp
ứng nhu cầu kinh tế thị trường hiện nay. Do phương pháp thủ công nên tốn rất
nhiều công lao động dẫn đến giá thành cao. Mẫu mã sản phẩm không được đổi
mới. Việc tiêu thụ sản phẩm ngày càng khó khăn do hàng tiêu dùng bằng những
nguyên liệu khác như nhôm, nhựa ngày càng phong phú, một phần lại bị tư thương
ép giáv.v Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến những lo ngại về sự tồn vong
của một làng nghề đã có hàng nghìn năm tuổi.
Trước đây, làng Bầu Trúc có hơn 300 hộ làm nghề gốm, nay chỉ còn được gần
70 hộ. Những hộ này hiện nay cũng chỉ sản xuất cầm chừng do hàng gốm ngày
càng khó tiêu thụ, giá cả ngày càng rẻ. Nhiều hộ đầu tư sản xuất càng nhiều càng
lỗ. Các hộ dân chuyển sang trồng lúa, trồng nho có lãi hơn. Nghề gốm ngày càng
bị coi nhẹ. Nguy cơ biến mất của một làng nghề có hàng nghìn năm tuổi đang hiển
hiện.
Nguyên nhân từ đâu?
Họa sĩ Đàng Năng Thọ, người trở nên nổi tiếng nhờ những tác phẩm nghệ thuật
làm từ đất gốm nung, cũng là người dân làng Bầu Trúc, tâm sự:” Báo chí, các nhà
nghiên cứu khoa học, các nhà văn hóa ai cũng ca ngợi làng gốm Bầu Trúc, coi Bầu
Trúc là một làng nghề truyền thống nổi tiếng của nền văn hóa Chăm chúng tôi.Thế
phát triển thúc đẩy văn học Chăm phát triển theo. Song hành với văn học bình dân
như tục ngữ, ca dao, truyện cổ… là nền văn học viết có mặt từ rất sớm: văn bi kí,
sử thi, trường ca, thơ thế sự, thơ triết lí, gia huấn ca… Mặc dù đã thất tán nhiều,
nhưng ngày nay người ta vẫn có thể tìm đọc một số tác phẩm, như những cuốn
sách 150 năm tuổi tại triển lãm “Không gian văn hoá Chăm” lần này. Đặc biệt,
người Chăm rất giỏi nghề thủ công, nổi bật nhất là nghề gốm và dệt thổ cẩm. Nói
về nghề gốm, hiện còn hai cộng đồng Chăm còn giữ nghề này là làng Bầu Trúc
(Ninh Thuận) và xã Phan Hòa (Bình Thuận). Đất sét trộn cát mịn được nhồi
nhuyễn thành hình quả bí đặt lên bàn kê (chứ không phải bàn xoay); người thợ vừa
đi giật lùi vừa dùng tay tạo khối đất thành dáng cơ bản. Hoa văn trang trí gốm
Chăm khá đơn giản, thường là hình sóng hay hình con thoi, được tạo bằng que
nhỏ, răng lược hay vỏ sò Sản phẩm gốm được phơi khô cả trong nhà và ngoài
nắng, trước khi đem nung bằng củi, phân trâu bò khô, rơm rạ… Sau 2 - 3 tiếng,
người thợ dùng sào móc sản phẩm và dùng màu thực vật chiết từ da cây săng, trái
thị để tạo màu cho gốm ngay khi gốm còn nóng. Do nung bằng nhiều nguyên liệu
khác nhau, lửa táp không đều, nên không có hai sản phẩm gốm Chăm nào hoàn
toàn giống nhau.
D
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 27
Trước đây, gốm Chăm gồm ba nhóm: gốm nấu (nồi nấu cơm, nồi nấu canh,
trách kho cá, bếp lò,…); gốm đựng (khương đựng gạo, lu đựng nước, ảng ); và
gốm dùng trong sinh hoạt chung. Ngày nay, nhờ biết tạo nhiều mẫu mã mới, gốm
Chăm không chỉ là mặt hàng tiêu dùng tự cung tự cấp nữa mà phần nào đã trở
thành hàng mĩ nghệ, nhưng kĩ thuật sản xuất vẫn không thay đổi. “Không gian văn
hoá Chăm” tự hào giới thiệu với người xem hơn 50 sản phẩm tiêu biểu cho gốm
Chăm xưa và nay.
Với người Chăm, dệt thổ cẩm là nghề “mẹ truyền con nối”. Nghề này hiện vẫn
là nguồn sống của cả làng Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận), mảnh đất văn vật từ thời