Luận văn tốt nghiệp
Phần mở đầu
a giày là một ngành công nghiệp có từ lâu đời tại Việt Nam, là ngành
cung cấp các sản phẩm tiêu dùng cho xã hội và gắn liền với nhu cầu thiết yếu
của con ngời. Những năm qua, ngành da giày Việt Nam đã có những bớc tăng
trởng mạnh mẽ và hiện nay là một trong bốn mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu
cao nhất nớc. Với những lợi thế tận dụng đợc trong nớc nh nguồn lao động dồi
dào, chi phí lao động thấp, ngành da giày Việt Nam đã thực sự đóng góp trong
việc thu ngoại tệ cho đất nớc cũng nh giảm bớt sức ép về việc làm đối với xã
hội.
Cùng với những điều kiện thuận lợi từ phía Nhà nớc và những nỗ lực của
chính công ty, trong giai đoạn 2000 2003, Công ty Da giày Hải Phòng đã có
những kết quả đáng kể về mở rộng thị trờng, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm,
Kim ngạch xuất khẩu của công ty có xu h ớng tăng qua các năm và đạt con số
khá cao đã làm tăng lợi nhuận, đồng thời nâng cao mức thu nhập trung bình,
góp phần cải thiện đời sống của công nhân viên trong công ty.
Tuy nhiên hoạt động sản xuất và xuất khẩu da giày của công ty còn gặp
rất nhiều khó khăn do những hạn chế của bản thân công ty cũng nh những bất
lợi từ môi trờng kinh doanh trong nớc và quốc tế.
Trong những năm tới đây, vị thế của Việt Nam sẽ dần đợc nâng cao trên
trờng quốc tế bởi những bớc tiến hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế. Điều này
mở ra nhiều cơ hội cũng nh báo trớc những thách thức cho mỗi một doanh
nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế trong đó có Công ty Da giày Hải Phòng.
Để góp phần phát huy những thành quả mà công ty đã đạt đợc trong thời
gian qua cũng nh tháo gỡ những hạn chế còn tồn tại, với những kiến thức đợc
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
1
Luận văn tốt nghiệp
trang bị tại trờng, em đã quyết định chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của
mình là: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng da giày của
da giày của Việt nam trong điều kiện hội nhập Kinh tế
quốc tế.
1.1. Những lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu
hàng hoá trong nền kinh tế thị trờng.
1.1.1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ cho nớc ngoài dới
hình thức mua bán trên cơ sở dùng tiền tệ làm phơng tiện thanh toán.
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân
sách Nhà nớc, đồng thời phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống
nhân dân.
Xuất khẩu là một mặt của thơng mại quốc tế. Phạm vi của hoạt động này
ngày nay đã rất phát triển, cả về chiều rộng và chiều sâu. Hiện nay, xuất khẩu
không chỉ các hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình, từ hàng hoá có hàm
lợng lao động cao đến các hàng hoá có hàm lợng chất xám là chủ yếu.
1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là một trong số những hoạt động kinh tế đối ngoại có vai trò
không thể thiếu đợc trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.
Chiến lợc hớng về xuất khẩu là một hớng đi đúng đắn với những nớc đang phát
triển nh Việt Nam, trong đó quốc gia xuất khẩu có thể kết hợp lợi thế của mình
với những yếu tố tích cực của nớc ngoài để tạo động lực mạnh cho sự tăng trởng
kinh tế đất nớc.
Nh vậy, đối với một quốc gia nói chung cũng nh nớc ta nói riêng, xuất
khẩu thực sự có vai trò quan trọng. Vai trò của nó đợc thể hiện nh sau:
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
3
Luận văn tốt nghiệp
Thứ nhất: Xuất khẩu là một yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trởng
kinh tế đất nớc.
Xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế so sánh của quốc gia là nhằm tận dụng
phần nào đã giải quyết đợc vấn đề bức xúc của xã hội hiện nay là nạn thất
nghiệp. Bên cạnh đó, xuất khẩu có hiệu quả, với mức kim ngạch xuất khẩu cao
sẽ làm tăng nguồn thu ngoại tệ để có thể nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng mà
trong nớc không sản xuất đợc hoặc sản xuất với chi phí cao, góp phần cải thiện
đời sống nhân dân trong nớc.
Cuối cùng : Xuất khẩu đợc đẩy mạnh sẽ tăng cờng sự hợp tác quốc tế giữa
các nớc.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, các quốc gia không chỉ coi trọng vấn đề
hợp tác về chính trị, quân sự mà còn coi trọng sự hợp tác kinh tế. Đây luôn là
một trong những mối quan tâm hàng đầu của bất kì quốc gia nào. Với lợi thế
của từng quốc gia, việc xuất khẩu hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia kia sẽ
thiết lập nên mối quan hệ đôi bên cùng có lợi. Xuất khẩu hàng hoá cho phép n-
ớc nhập khẩu có thể tiêu dùng nhiều mặt hàng với số lợng lớn hơn khả năng sản
xuất trong nớc có thể đáp ứng đợc.
Đẩy mạnh xuất khẩu góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, do đó nâng
cao vị thế của quốc gia trên trờng quốc tế, đồng thời quốc gia đó sẽ có điều kiện
hợp tác bình đẳng và toàn diện hơn. Và ngợc lại, khi các quốc gia có một sự hợp
tác tốt đẹp thì việc xuất khẩu hàng hoá sẽ có nhiều thuận lợi hơn.
Nh vậy, hoạt động xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả sản xuất bằng việc tận dụng có hiệu quả các lợi thế, tiềm năng, cơ hội
của đất nớc trong quá trình tham gia ngày càng sâu rộng vào phân công lao
động quốc tế. Xuất khẩu không chỉ đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ phát triển mà
còn có vai trò là yếu tố bên trong của sự phát triển, trực tiếp giải quyết những
vấn đề bên trong của nền kinh tế: vốn, lao động, kỹ thuật, nguyên liệu, thị tr-
ờng.
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu.
Hoạt động xuất khẩu đã và đang đợc mở rộng cả về qui mô và hình thức.
Dới đây là một số hình thức xuất khẩu chủ yếu:
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
6
Luận văn tốt nghiệp
Buôn bán đối lu là phơng thức giao dịch, trong đó xuất khẩu kết hợp với
nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ngời mua và hàng hoá mang ra trao đổi thờng
có giá trị tơng đơng.
Ưu điểm của buôn bán đối lu là tránh rủi ro về biến động tỷ giá hối đoái
trên thị trờng ngoại hối, giảm bớt chi phí trung gian, phí vận chuyển, có lợi cho
các bên khi không có đủ ngoại tệ thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình.
Đồng thời hình thức này còn góp phần làm cân bằng hạng mục thờng xuyên
trong cán cân thanh toán của quốc gia có nhiều doanh nghiệp thực hiện hình
thức buôn bán đối lu.
Hạn chế của buôn bán đối lu là quá trình trao đổi hàng hoá khó tiến hành
một cách công bằng và thuận lợi. Mặt khác, hình thức này không tạo điều kiện
cho doanh nghiệp tiếp cận đợc công nghệ tiên tiến do mục đích xuất khẩu ở đây
là có đợc một lợng hàng hoá giá trị tơng đơng với giá trị hàng hoá xuất khẩu.
1.1.3.4. Gia công xuất khẩu
Gia công xuất khẩu là một hình thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là
bên nhận gia công) xuất khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên
khác (bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia
công và qua đó thu một khoản phí gọi là phí gia công.
Hình thức kinh doanh này chủ yếu đợc áp dụng ở các nớc đang phát triển,
trong đó có Việt Nam. Đây là những nớc có chi phí lao động thấp, thiếu vốn,
công nghệ, trình độ quản lý cũng nh năng lực thực hiện các hoạt động xuất
khẩu trực tiếp còn nhiều hạn chế.
Ưu điểm của hình thức này là nớc nhận gia công tạo đợc nhiều việc làm
cho ngời lao động có tay nghề thấp, không đòi hỏi nhiều vốn đầu t cho sản xuất
hàng hóa xuất khẩu, không phải chủ động tìm kiếm thị trờng tiêu thụ hàng hoá.
Những hạn chế của hình thức gia công xuất khẩu là: phí gia công còn rất
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
thể. Tiếp sau, doanh nghiệp xem xét đến mức cầu của loại hàng hoá có thể kinh
doanh xuất khẩu đợc. Sự lựa chọn kinh doanh xuất khẩu hàng hoá nào còn phụ
thuộc rất nhiều vào năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
* Lựa chọn thị trờng xuất khẩu
Sau khi lựa chọn đợc mặt hàng xuất khẩu, doanh nghiệp phải tìm kiếm và
lựa chọn thị trờng tối u nhất có thể cho hàng hoá xuất khẩu của mình. Để lựa
chọn đợc thị trờng xuất khẩu, doanh nghiệp cần phân tích tổng hợp những yếu
tố vĩ mô nh chính sách ngoại thơng, hệ thống pháp luật, của các quốc gia.
Đây là quá trình dựa nhiều vào năng lực tìm kiếm, phân tích thị trờng của cán
bộ thị trờng trong doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, đòi hỏi nhiều thời gian
và chi phí.
* Lựa chọn bạn hàng
Tìm hiểu thị trờng xong, việc lựa chọn đối tác là bớc rất quan trọng vì nó
quyết định đối tợng có tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp có thể lựa chọn bạn hàng dựa trên những mối quan hệ
vốn có nhng chủ yếu là dựa trên đánh giá về đặc điểm kinh doanh, năng lực tài
chính cũng nh uy tín của đối tác trên thị trờng đó. Việc lựa chọn bạn hàng phải
dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
* Lựa chọn phơng thức giao dịch
Phơng thức giao dịch là những cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để
thực hiện các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trờng thế giới.
Ngày nay có nhiều phơng thức giao dịch khác nhau nh giao dịch thông
thờng, giao dịch qua trung gian, giao dich thông qua hội chợ hay triển lãm. Tuỳ
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
9
Luận văn tốt nghiệp
vào khả năng của doanh nghiệp mà lựa chọn phơng thức giao dịch sao cho bảo
đảm các mục tiêu sản xuất kinh doanh.
* Lựa chọn phơng án kinh doanh.
Đàm phán qua điện thoại là phơng thức bảo đảm tính kịp thời, đúng thời
điểm cần thiết. Tuy nhiên, việc trao đổi qua điện thoại thờng bị hạn chế do cớc
phí điện thoại khá cao, khó có thể thảo luận chi tiết những vấn đề cần
quan tâm. Mặt khác, không có gì bảo đảm cho các thoả thuận qua điện thoại
nên hình thức này thờng chỉ đợc sử dụng trong trờng hợp cần thiết nh sợ bỏ lỡ
cơ hội kinh doanh hoặc chỉ xác nhận vài chi tiêt của hợp đồng.
Đàm phán trực tiếp là phơng thức đàm phán đặc biệt quan trọng. Trong
quá trình gặp gỡ trực tiếp giữa các bên, có thể tìm hiểu trực tiếp tâm lý, phản
ứng của đối tác và có thể tác động đến quan điểm, mong muốn của đối tác.
Đồng thời cũng có điều kiện trình bày rõ quan điểm của mình cũng nh hiểu
quan điểm của đối tác. Từ đó có thể tìm ra giải pháp tối u dung hoà lợi ích giữa
các bên. Phơng thức đàm phán này đẩy nhanh đợc tốc độ đàm phán, thích hợp
với việc đàm phán những hợp đồng lớn, phức tạp, cần có sự thảo luận kỹ. Tuy
nhiên phơng thức đàm phán này là khó khăn và phức tạp nhất. Đàm phán trực
tiếp thờng tốn kém về các chi phí đi lại, đón tiếp, đòi hỏi nhà đàm phán nắm
vững nghiệp vụ, chuẩn bị đầy đủ thông tin cần thiết, tự chủ, linh hoạt trong việc
xử lý tình huống.
* Ký kết hợp đồng
Kết thúc quá trình đàm phán thờng đi đến kết quả cuối cùng là một hợp
đồng đợc ký kết. Hợp đồng có thể là hợp đồng bằng lời hoặc hợp đồng ký kết d-
ới dạng văn bản tuỳ theo yêu cầu của các bên tham gia.
Trong quan hệ thơng mại với các đối tác nớc ngoài, các doanh nghiệp
Việt Nam buộc phải sử dụng hình thức hợp đồng bằng văn bản. Hợp đồng này
qui định ngời bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho ngời mua và
ngời mua có nghĩa vụ thanh toán cho ngời bán một khoản tiền ngang giá trị theo
các phơng tiện thanh toán quốc tế.
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
11
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
+ Chữ ký của các bên.
1.1.4.3. Thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đồng đợc ký kết, các bên tham gia thực hiện các cam kết đã
ghi trong hợp đồng. Một bên phải chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện hợp đồng.
Dới đây là trình tự công việc chung nhất cần thiết để thực hiện hợp đồng
xuất khẩu:
1. Giục mở L/C và kiểm tra L/C đó (nếu hợp đồng quy định sử dụng
phơng thức L/C).
2. Xin giấy phép xuất khẩu (nếu có).
3. Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu.
4. Kiểm tra hàng hoá.
5. Thuê phơng tiện vận chuyển.
6. Mua bảo hiểm hàng hoá (nếu có).
7. Làm thủ tục hải quan.
8. Giao hàng lên tàu.
9. Làm thủ tục thanh toán.
10.Giải quyết tranh chấp (nếu có).
1.1.5. Một số yếu tố chủ yếu ảnh hởng tới hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh có yếu tố quốc tế thể hiện ở việc quốc
tịch khác nhau của các bên hay đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một
hoặc cả các bên. Do đó, doanh nghiệp tham gia hoạt động này chịu tác động
của nhiều yếu tố khác nhau nh:
1.1.5.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
ở đây bao gồm nhiều yếu tố trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp một cách khách quan nh:
* Yếu tố chính trị.
Sự ổn định về chính trị là nhân tố quan trọng đối với bất kì nhà kinh doanh
nào nhất là khi họ kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu. Chính trị của một quốc
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
14
Luận văn tốt nghiệp
khuyến khích hay hạn chế thông qua một số công cụ của chính sách thơng mại
quốc tế nh: thuế quan, hạn ngạch hay những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật,
* Yếu tố kinh tế.
Yếu tố này bao gồm năng lực kinh tế của cả hai bên xuất và nhập khẩu
hàng hoá. Chúng tác động đến đặc điểm và sự phân bố cơ hội kinh doanh quốc
tế cũng nh quy mô thị trờng xuất khẩu.
ở tầm vĩ mô, một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển nh Việt Nam với
những hạn chế về vốn, công nghệ, trình độ lao động thì tập trung, khuyến khích
xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp nhẹ nh dệt may, giày dép, Còn với thị tr -
ờng nhập khẩu có nền kinh tế càng phát triển cao thì càng nhiều yêu cầu về
hàng hoá chất lợng cao. ở tầm vi mô, năng lực kinh tế của doanh nghiệp xuất
khẩu cũng quyết định doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng gì, sức cạnh tranh của
mặt hàng đó trên các thị trờng, Đồng thời, năng lực kinh tế của đối tác thể
hiện trong khả năng thanh toán, uy tín kinh doanh, cũng ảnh h ởng đến hoạt
động kinh doanh quốc tế giữa hai bên.
* Yếu tố cạnh tranh.
Thị trờng quốc tế tuy rộng lớn nhng có rất nhiều doanh nghiệp ở nhiều
quốc gia tham gia xuất nhập khẩu. Môi trờng cạnh tranh ngày càng trở nên gay
gắt và quyết liệt. Khi tham gia kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp phải đối mặt
với sự cạnh tranh không chỉ của doanh nghiệp trong nớc mà cả các doanh
nghiệp sản xuất và cung cấp các sản phẩm cùng loại ở nớc nhập khẩu hay nớc
khác. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau về những vấn đề nh nguồn vốn,
công nghệ, trình độ lao động, văn hoá công ty, Chính những yếu tố này dẫn
đến những yếu tố cạnh tranh của sản phẩm khi đợc đa ra thị trờng là giá cả, chất
lợng, mẫu mã, chủng loại, nhãn hiệu sản phẩm. Các yếu tố cạnh tranh tác động
đến doanh nghiệp xuất khẩu, buộc doanh nghiệp phải tăng cờng sức cạnh tranh
hỏi những hàng hoá có chất lợng cao, cũng nh có mẫu mã đẹp. Do đó hàng hoá
xuất khẩu không áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất sẽ không có đợc
chất lợng cao, hình thức đẹp, phong phú đáp ứng yêu cầu của thị trờng quốc tế.
Để duy trì và phát triển hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp phải đổi mới công
nghệ phù hợp với năng lực tài chính và trình độ ngời lao động.
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
16
Luận văn tốt nghiệp
* Về lao động
Lao động là yếu tố hàng đầu quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp.
Trong xu hớng phát triển thơng mại quốc tế nh ngày nay, nhiều công ty kinh
doanh quốc tế lớn coi chiến lợc phát triển con ngời là chiến lợc trọng tâm. Có
thể khẳng định con ngời có thể làm đợc mọi thứ, công nghệ dù có tiên tiến đến
đâu nếu không có con ngời vận hành thì công nghệ đó cũng không trở nên hữu
ích. Trình độ lao động bao gồm trình độ lao động trực tiếp và lao động gián tiếp
tác động đến năng lực sản xuất, năng lực thực hiện trực tiếp các hoạt động xuất
khẩu, cũng nh công tác quản lý. Con ngời cũng là nhân tố tạo nên bộ máy quản
lý cho doanh nghiệp. Bộ máy quản lý có tốt thì mọi hoạt động của doanh nghiệp
mới trôi chảy, đồng thời cũng đề ra những chiến lợc hoạt động cho doanh
nghiệp trong thời gian tới. Do đó doanh nghiệp muốn hoạt động xuất khẩu tốt
phải thực hiện tốt vấn đề con ngời.
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
17
Luận văn tốt nghiệp
1.2. một số Đặc điểm chủ yếu về xuất khẩu giày dép
trên Thế giới.
1.2.1. Một số đặc điểm về sản phẩm giày dép
Giày dép là một loại sản phẩm thiết yếu trong đời sống con ngời. Nó giúp
có tính kiên nhẫn và sự khéo léo nhất định nhng không cần thiếtlà những lao
động có kỹ năng cao. Quá trình sản xuất da giày không đòi hỏi một lợng vốn
quá lớn, vốn quay vòng nhanh và kinh doanh ít rủi ro.
1.2.2. Đặc điểm về xuất khẩu giày dép
Sản phẩm giày dép là một trong những mặt hàng đợc bảo hộ chặt chẽ. Trớc
khi có hiệp định về da giày, việc buôn bán các sản phẩm giày dép đợc điều
chỉnh theo những thể chế thơng mại đặc biệt. Mức thuế phổ biến đánh vào hàng
giày dép còn cao hơn so với nhiều hàng công nghiệp khác. Bên cạnh đó, nhiều
nớc nhập khẩu còn đề ra những rào cản đối với hàng giày dép nhập khẩu làm
ảnh hởng rất nhiều đến sản xuất và xuất khẩu giày dép trên thế giới
trong thời gian qua.
Trớc những năm 70, ngành công nghiệp da giày đã tồn tại và phát triển ở
các nớc Tây Âu, Mỹ, Với sự phát triển bùng nổ của cuộc Cách mạng khoa
học công nghệ, các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao, sử dụng ít lao
động đã dần thay thế cho những ngành nhiều lao động nh da giày. Vì vậy, sang
đầu những năm 80, đã xuất hiện sự chuyển dịch sản xuất giày dép từ những nớc
phát triển sang các nớc công nghiệp mới nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Trong những năm cuối thập kỷ 80, đầu 90 ngành công nghiệp nhẹ này đợc
chuyển dịch sang các nớc đang phát triển nh Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia,
Việt Nam, nhằm tranh thủ chi phí lao động thấp, chính sách khuyến khích đầu
t nớc ngoài tại các quốc gia này.
Từ năm 1989 đến nay, sản lợng giày dép thế giới liên tục biến động, giảm
từ 10,313 tỷ đôi năm 1989 xuống còn 9,6 tỷ đôi năm 1992 và sau đó lại tăng lên
tới 10,6 tỷ đôi năm 1995 và đạt 11,5 tỷ đôi năm 1999. Sau khi xuất hiện sự
chuyển dịch sản xuất giày dép từ những nớc phát triển sang các nớc công
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
19
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp mới và sau đó là những nớc đang phát triển, châu á trở thành khu vực
quốc gia nằm trong khu vực sản xuất da giày chủ yếu của thế giới. Sự phát triển
của ngành da giày Việt Nam là phù hợp với xu thế chuyển dịch phân công lao
động mang tính toàn cầu. Xu hớng này sẽ vẫn tiếp tục duy trì trong một thời
gian tới và ngành da giày Việt Nam có những động lực và nhiều cơ hội để phát
triển.
Kim ngạch xuất khẩu da giày trong những năm qua khá cao, vợt qua mức
1tỷ USD năm 1999 và tiếp tục đà tăng trởng về kim ngạch xuất khẩu trong
những năm tiếp sau. Năm 2003, đã vợt mức kim ngạch xuất khẩu dự kiến, đạt
2,205 tỷ USD. Hiện nay, da giày là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam, đứng thứ t sau dầu thô, dệt may, thuỷ sản đóng góp nguồn ngoại
tệ đáng kể cho đất nớc.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh mặt hàng da giày
trong cả nớc chủ yếu xuất khẩu theo phơng thức gia công và xuất khẩu qua
trung gian. Hoạt động gia công khắc phục nhiều hạn chế của những doanh
nghiệp Việt Nam về vốn, công nghệ, trình độ lao động thấp. Hiện nay các
doanh nghiệp của chúng ta cha chủ động đợc phần lớn nguyên vật liệu đầu vào
và thị trờng đầu ra cho sản phẩm của mình. Do đó, gia công xuất khẩu là hình
thức lựa chọn phù hợp nhất định trong thời điểm hiện nay của ngành da
giày. Mặc dù có nhiều hạn chế, nhng hoạt động gia công cũng phần nào đa lại
cho các doanh nghiệp da giày của Việt Nam một số những lợi ích là có thể học
hỏi kinh nghiệm về tổ chức, quản lý sản xuất, có điều kiện tiếp cận với công
nghệ hiện đại hơn về sản xuất da giày.
Việt Nam bắt đầu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với xuất phát
điểm rất thấp. Đang ở giai đoạn đầu của quá trình này, nội lực kinh tế của nớc
ta thích hợp với việc phát triển các ngành sản xuất quy mô vừa và nhỏ. Các
ngành này tập trung vào việc sản xuất các sản phẩm có hàm lợng lao động cao,
hàm lợng công nghệ ở mức thấp và trung bình để tận dụng lợi thế so sánh của
chúng ta là chi phí lao động thấp. Điểm qua kinh nghiệm của các nớc nies, có
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
suất đánh vào hàng hoá của những nớc đợc hởng quy chế tối huệ quốc. Giày
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
22
Luận văn tốt nghiệp
dép Việt Nam chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trên thị trờng Mỹ, nơi mà hàng năm
dành 15 tỷ USD cho nhập khẩu giày dép từ Trung Quốc, Đài Loan, Italy, Với
những yếu tố tích cực do Hiệp định thơng mại song phơng, thuế suất nhập khẩu
giày dép Việt Nam vào thị trờng Mỹ giảm từ 3 đến 4 lần xuống còn trung bình
10%, tạo cơ hội gia tăng thị phần cho sản phẩm này lên 10%.
Hiệp định thơng mại Việt Mỹ đợc coi nh là một bớc đi quan trọng cho
tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, vì những quy định của Hiệp định này
khá giống của WTO. Nếu không sớm tham gia vào WTO, Việt Nam sẽ phải đối
mặt với thách thức rất lớn từ phía Trung Quốc trên các thị trờng, trong đó đặc
biệt là thị trờng mục tiêu EU. Một lý do là sau năm 2004, giày dép Việt Nam sẽ
không đợc u đãi thuế quan, nh hàng Trung Quốc, của EU. Tuy nhiên hàng hoá
Trung Quốc đợc hởng những u đãi về thuế quan trên thị trờng EU với t cách
cùng là những thành viên của WTO. Trong tơng lai, khi tham gia vào WTO,
Việt Nam sẽ phải thực hiện các quy định của tổ chức thơng mại này, trong đó
có việc cắt giảm thuế quan với hàng giày dép nhập khẩu. Đây là bất lợi lớn cho
ngành giày dép Việt Nam khi tính
đến khả năng cạnh tranh ngay trên sân nhà đồng thời với nhiều đối thủ cả trong
khu vực cũng nh Trung Quốc.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam đang có những chuyển biến nhất định. Phát triển công nghiệp chế tạo và
chế biến sâu là hớng đi đúng đắn của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên với năng lực
nền kinh tế hiện nay và trong những năm tới, da giày vẫn là một trong những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nớc ta.
Nh vậy, cùng với những thuận lợi thì cũng xuất hiện không ít những khó
khăn cho ngành giày dép Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
đẹp cho những bớc đi ban đầu.
Giữa lúc nhân dân miền Bắc đang ra sức thi đua lao động sản xuất hoàn
thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất thì đế quốc Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ
ngày 5/8/1964, máy bay bắn phá miền Bắc, trong đó Hải Phòng là một điểm
phá hoại trọng điểm của chúng. Nh vậy một nhiệm vụ mới đặt ra cho CBCNV
xí nghiệp là vừa phải giữ vững và phát triển sản xuất, vừa phải sẵn sàng chiến
Nguyễn Thị Thanh Tâm KTQT 42
24
Luận văn tốt nghiệp
đấu. Từ năm 1965 1972 xí nghiệp đã phải 2 lần sơ tán ra ngoại thành (Tháng
7/1966 tại xã Mỹ Đức, An Lão tháng 4/1972 tại xã Hồng Phong, An Hải) để
tránh các đợt bắn phá huỷ diệt của Hải quân và không quân Mỹ. Trong điều
kiện hết sức khó khăn, gian khổ, chỉ với những phơng tiện vận chuyển thô sơ,
nhng CBCNV xí nghiệp vẫn vận chuyển an toàn hàng trăm tấn máy móc thiết
bị, với tinh thần không để máy nghỉ, tất cả cho sản xuất. CBCNV xí nghiệp đã
lao động quên mình và nhanh chóng lắp đặt thiết bị, khẩn trơng ổn định sản
xuất tại sơ tán. Xí nghiệp vẫn đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất và còn tạo
thêm đợc một số mặt hàng mới, đặc biệt là dép thêu trong nhà, sau này trở
thành sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn của công ty.
Sau Đại thắng lịch sử mùa xuân 1975 của dân tộc, miền Nam hoàn toàn
giải phóng, cả nớc thống nhất cùng tiến lên CNXH. Hoà chung niềm vui đó của
dân tộc, CBCNV xí nghiệp bớc vào một giai đoạn mới, từng bớc tháo gỡ khó
khăn và đi lên vững chắc, đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu, đẩy mạnh hợp
tác gia công mũ giày vải cho Tiệp Khắc, các sản phẩm dép thêu cho Liên Xô và
CHDC Đức với sản lợng ngày càng lớn. Mà đỉnh cao là năm 1989 xí nghiệp sản
xuất 5.056.900 đôi giày dép xuất khẩu các loại, đạt 112% kế hoạch. Đây là thời
điểm đánh dấu sự trởng thành to lớn của Xí nghiệp với đội ngũ 3.200 CBCNV
và 12 cơ sở vệ tinh với 3.500 lao động, là đơn vị nòng cốt trong Liên hiệp các
Xí nghiệp Giày dép Hải Phòng giai đoạn 1986 1992.