Báo cáo " Xác định nhu cầu bảo hiểm trong chăn nuôi lợn thịt của hộ nông dân văn lâm - tỉnh hưng yên " - Pdf 12

1
XÁC ĐỊNH NHU CẦU BẢO HIỂM TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT CỦA CÁC
HỘ NÔNG DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
PGS.TS. Nguyễn Văn Song, Th.S. Chu Thị Thảo – Đại học Nông nghiệp Hà Nội

TÓM TẮT
Bảo hiểm nông nghiệp là một chính sách quan trọng của Chính phủ Việt Nam
trong những năm gần đây. Chính sách này có vai trò, ý nghĩa lớn trong việc giảm bớt
những thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân. Tuy nhiên, hiện nay
chính sách này chưa thực sự đi vào thực tiễn sản xuất sâu rộng, tỷ trọng nông dân tham
gia bảo hiểm nông nghiệp còn thấp mặc dù có 98% người dân thích được bảo hiểm mùa
màng và 87% muốn được bảo hiểm chăn nuôi. [4].Thông qua tiến hành điều tra các hộ
nông dân chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Văn Lâm, sử dụng phương pháp tạo
dựng thị trường (CVM), xác định nhu cầu bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt của các hộ dân.
Nghiên cứu phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới nhu cầu bảo hiểm, từ đó tính toán
tổng quỹ bảo hiểm chăn nuôi lợn thu được hàng năm gần 80 tỷ đồng. Tác giả đề xuất
một số giải pháp nhằm tăng cường tỷ lệ các hộ chăn nuôi lợn nói riêng và chăn nuôi nói
chung tham gia vào thị trường bảo hiểm chăn nuôi.
Từ khoá: bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm chăn nuôi, nhu cầu, bảo hiểm chăn
nuôi lợn thịt.
Summary

Defining the demand of porker producing insurance of farmer households
in Van Lam District, Hung Yen province

Agricultural insurance is the an important policy of Vietnamese Government in recent
years. This policy has a significant to decrease risk and uncertainty for agriculture
production and farmers. However, this policy is not implemented well in the practice,
the rate of agricultural insurance is very low, even 98% of farmers are willing to insure
crops and 87% of farmers are willing to insure livestock. Using data survey and
contingent valuation method (CVM) to define the demand for porker production of

đó xác định một thị trường cho bảo hiểm nông nghiệp phát triển, phân tích một số yếu
tố chính ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia bảo hiểm chăn nuôi của nông dân; đề ra các
giải pháp và biện pháp nhằm tăng cường thu hút nông dân tham gia bảo hiểm cho vật
nuôi.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Chọn điểm nghiên cứu
Huyện Văn Lâm có ngành chăn nuôi rất phát triển, năm 2010 chiếm 48,16 % giá
trị sản xuất nông nghiệp của huyện. Tuy nhiên trong những năm gần đây, hoạt động sản
xuất kinh doanh trong nông nghiệp của huyện gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch
bệnh, nhất là ngành chăn nuôi. Chỉ tính riêng giai đoạn 2008 – 2010, thiệt hại của ngành
chăn nuôi 957.474,0kg sản phẩm chăn nuôi (hơi) các loại, thành tiền là 20.931,86 triệu
đồng; trong đó chăn nuôi lợn thiệt hại là 14.292 con, sản lượng 928.980kg, thành tiền là
20.036,0 triệu đồng. Do đó nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp ngày càng trở nên thiết thực
hơn với người dân chăn nuôi của huyện. [3]
2.2. Phương pháp thu thập số liệu
* Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ Sách, các webside;
Phòng Thống kê huyện, phòng nông nghiệp huyện Văn Lâm.
* Nguồn số liệu sơ cấp: Căn cứ vào tình hình kinh tế, vị trí địa lý, phạm vi
nghiên cứu và thời gian nghiên cứu chúng tôi tiến hành chọn đại diện để tiến hành điều
tra bằng phiếu đã xây dựng trước. Đưa ra số liệu tổng quan nhất, không bị sai lệch quá
nhiều, chúng tôi tiến hành điều tra tổng số là 90 phiếu gồm 3 xã: Đại Đồng, Chỉ Đạo và
Tân Quang.
2.3. Phương pháp phân tích
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, ngoài sử dụng các phương pháp truyền thống như
chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu, thu thập thông tin, thống kê kinh tế, so sánh thì phương
pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp tạo dựng thị trường (Contingent
Valuation Method - CVM), phương pháp này được sử dụng nhằm tạo ra một thị trường khi
mà hiện tại chưa có thị trường về một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó. Người nông dân trong
mẫu điều tra được coi là tác nhân tham gia vào thị trường. Người được phỏng vấn, trước tiên
sẽ được giới thiệu, mô tả để hiểu rõ được lợi ích của việc tham gia bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt

1
*

Trong đó:

wtp
: mức WTP trung bình người dân sẵn sàng chi trả
k: chỉ số của các mức WTP, k = (1, m)
m: các mức WTP người dân sẵn sàng chi trả
n
k
: số hộ dân được điều tra ứng với mức WTPk
wtp
k
: mức WTP thứ k
Riêng đối với các hộ dân không sẵn sàng chi trả coi như WTP = 0
Tính mức giá trung bình các hộ tham gia mua bảo hiểm bằng cách tính trị số
giữa theo công thức:
2
WTPWTP
WTP'
maxmin
+
=

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi của các hộ dân điều tra
Thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và huyện Văn Lâm nói riêng
chưa có sự hình thành và phát triển, bởi cung và cầu chưa gặp nhau. Đa số các hộ dân khi
được phỏng vấn đều trả lời chưa từng nghe thấy cụm từ bảo hiểm nông nghiệp. Nếu có biết

16.7
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
QMN QMV QML
Có nhu cầu BH (%)
Không có nhu cầu BH(%)

Đồ thị 2. Sự sẵn sàng chi trả bảo hiểm của các hộ ở quy mô khác nhau
(
Chú ý: hộ có quy mô nhỏ số lượng đầu con là <50 con; quy mô vừa từ 50 tới 100 con; quy mô lớn > 100 con)
Với nhóm hộ chăn nuôi quy mô vừa số hộ có nhu cầu và không có nhu cầu bảo hiểm
tương đương nhau. Nguyên nhân của hiện tượng trên là do các hộ chăn nuôi đa phần có mức
thu nhập dao động trung bình từ 300.000 - 1triệu đồng/ đầu lợn. Khi đưa ra các mức bảo
hiểm, với mức <100.000 mức bồi thường thiệt hại thấp, còn với mức bồi thường cao hơn thì
chi phí bỏ ra lớn so với mức lãi thu được nên một nửa số hộ được hỏi không muốn tham gia.
Những hộ còn lại khi được hỏi muốn tham gia bảo hiểm bới đã có sự tính toán với mức thu
nhập, nếu mua bảo hiểm vẫn có lãi nên quyết định đầu tư.
Đặc biệt nhóm hộ chăn nuôi quy mô lớn, số hộ có nhu cầu bảo hiểm cao hơn hẳn so
với nhóm hộ không có nhu cầu tương ứng 83,3% và 16,7%. Nhóm hộ này có sự lựa chọn như
5
vậy là do các hộ chăn nuôi quy mô lớn, đầu tư nhiều nên muốn hạn chế những thiệt hại do
chăn nuôi gây ra.

Đạo học
và > ĐH
Có nhu cầu BH (%)
Không có nhu cầu BH
(%)

Đồ thị 3. Sự sẵn sàng chi trả bảo hiểm của các hộ theo trình độ giáo dục
Nhưng cũng chính nhóm hộ có trình độ học vấn trung cấp, sơ cấp và trung học
lại có tỷ lệ không có nhu cầu bảo hiểm cao hơn nhóm hộ trình độ đại học và trên đại
học. Nguyên nhân đây là những hộ chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa nên không có sự quan
tâm tới vấn đề bảo hiểm cho vật nuôi.
3.2.3. Sự sẵn sàng chi trả của những chủ hộ theo khối lượng xuất chuồng lợn thịt
Đối với nhóm hộ chăn nuôi có khối lượng xuất chuồng bình quân từ 90 – 100
kg/con có số hộ có nhu cầu mua bảo hiểm khá cao, 40 hộ chiếm 69% tổng số hộ có nhu
cầu. Nguyên nhân đây là các hộ chăn nuôi thường gặp rủi ro trong quá trình chăn nuôi,
hàng năm số lợn chết do dịch bệnh chiếm 3 – 5% số lợn nuôi nên có nhu cầu bảo hiểm
cao.
6.3
68.8
25.0
10.3
69.0
20.7
0.0
20.0
40.0
60.0
80.0
100.0
120.0

trả ở mức >300.000/con chiếm tỷ lệ cao nhất 43%. Đây phần lớn là các hộ chăn nuôi
quy mô lớn muốn được sự hỗ trợ lớn, đảm bảo thanh toán 100% thiệt hại khi rủi ro xảy
ra. Tiếp theo là mức bảo hiểm 200.000 – 300.000/con chiếm tỷ lệ 36%, đây là các hộ
chăn nuôi có thu nhập 0 – 1 triệu/con, họ mong muốn khi mua bảo hiểm sẽ giảm bớt
một phần rủi ro trong chăn nuôi. Thấp nhất là mức bảo hiểm <100.000/con, chiếm tỷ lệ
7%, đây đa số là các hộ chăn nuôi thua lỗ, mong muốn mua bảo hiểm để vớt vát một
phần chi phí chăn nuôi.
3.3. Xác định tổng quỹ bảo hiểm chăn nuôi cho huyện Văn Lâm
Để thấy số hộ sẵn sàng mua bảo hiểm chia theo quy mô và mức tiền sẵn sàng
mua bảo hiểm bình quân cho một con
Bảng 1. Mức sẵng sàng mua bảo hiểm của hộ chăn nuôi phân theo quy mô
Mức sẵn sằng mua bảo hiểm
bình quân/con
(1000 đồng)
Số hộ quy
mô nhỏ
Số hộ quy
mô vừa từ
Số hộ quy
mô lớn Tổng số hộ
0 12 15 5 32
100 4 0 0 4
150 2 2 4 8
250 3 8 11 22
300 9 5 10 24
(Nguồn: từ số liệu điều tra 2011)
Căn cứ vào mức sẵn sàng chi trả bình quân ở các quy mô khác nhau, có thể tính
được tổng quỹ bảo hiểm huyện Văn Lâm sẽ thu được nếu triển khai thành công chính
sách bảo hiểm chăn nuôi trên toàn địa bàn huyện.
7

người dân nếu không có biện pháp tính toán dài hạn.
Thứ hai, do thói quen và tâm lý của người dân trong việc mua bảo hiểm rất khó.
Khi người dân chưa có sự nhận thức đúng về bảo hiểm nông nghiệp, họ sẽ không sẵn
sàng mua bảo hiểm cho vật nuôi. Và đây là một rào cản khó tháo gỡ khi huyện Văn
Lâm muốn triển khai chính sách này.
Thứ ba, thực trạng chăn nuôi tại huyện Văn Lâm là tình trạng chung của các hộ
chăn nuôi trên cả nước hiện nay. Đó là chăn nuôi manh mún, tự phát, không theo đúng
quy trình kỹ thuật, điều này không chỉ xảy ra ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ mà cả các trang
trại lớn cũng xảy ra tình trạng tương tự (chưa tiêm phòng đầy đủ, vệ sinh chuồng tại
kém, hệ thống thoát nước và phân sơ sài, tự ý mua thuốc trị bệnh không nhờ đến cán bộ
thú y của xã, huyện). Do đó, khi xảy ra rủi ro rất khó xác định căn cứ, nguyên nhân tiến
hành bồi thường.
3.4. Giải pháp nâng cao tỷ lệ các hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp
Xây dựng hành lang pháp lý phù hợp: Hiện nay hành lang pháp lý cho hoạt động
bảo hiểm chủ yếu dựa vào luật kinh doanh, luật bảo hiểm, luật dân sự, luật hình sự. Tuy
nhiên các văn bản, quy định dưới luật chưa tạo điều kiện cụ thể cho việc phát triển các
sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nói chung và bảo hiểm chăn nuôi nói riêng. Xây dựng
chế tài phù hợp nhằm khuyến khích sự tham gia của các công ty bảo hiểm là tiền đề cần
thiết cho bảo hiểm chăn nuôi được phát triển.
Đào tạo nguồn nhân lực am hiểu lĩnh vực chăn nuôi, thú y, sinh học, môi trường
và nắm vững khoa học kỹ thuật. Từ đó chủ động tiếp cận triển khai dịch vụ bảo hiểm
chăn nuôi, tuyên truyền thuyết phục người sản xuất tham gia bảo hiểm.
Tiến hành các thủ tục ký kết hợp đồng bảo hiểm và giải quyết bồi thường thiệt
hại cho các hộ chăn nuôi nhanh chóng, chính xác, đảm bảo tính công bằng trong việc
đóng phí cũng như bồi thường khi rủi ro xảy ra với các hộ chăn nuôi lợn thịt.
Chủ động nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn, biến đổi khí hậu của vùng chăn
nuôi, nắm bắt các quy luật tự nhiên, tình huống bất thường. Liên kết các trung tâm, viện
8
nghiên cứu nhằm hệ thống hoá số liệu, tính toán độ rủi ro, hình thành một cách khoa
học các chỉ số phục vụ cho bảo hiểm chăn nuôi lợn thịt.

các khu chăn nuôi tập trung, đảm bảo chăn nuôi đúng quy cách, hạn chế rủi ro. Phải có
chính sách bảo hiểm nông nghiệp một cách cụ thể, phù hợp điều kiện chăn nuôi của
huyện. Thực hiện các quy định tài chính phải rõ ràng; quy trình, thủ tục thanh toán bảo
hiểm phải hợp lý tạo niềm tin cho người dân. Hỗ trợ một phần chi phí mua bảo hiểm
nông nghiệp để người dân bước đầu làm quen với hình thức bảo hiểm mới này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thực trạng nông nghiệp và bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam, D0137,

2. PGS.TS. Nguyễn Văn Song (2009), Bài giảng kinh tế tài nguyên môi trường. Nhà
xuất bản Nông nghiệp - Hà Nội.
3. Phòng thống kê huyện Văn Lâm, năm 2011
9
4. Webside: 1539781? pers_id=
2177092 &item_id=19139241&p_details=1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status