luận văn:Đào tạo theo nhu cầu xã hội - Những định hướng và giải pháp doc - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Đào tạo theo nhu cầu xã hội -
Những định hướng và giải pháp” Chuyên đề tốt nghiệp
THUẬT VỚI NƯỚC NGOÀI 25
1.Quá trình hình thành 25
2. Chức năng, nhiệm vụ vủa trung tâm 25
2.1. Chức năng 25
2.2. Nhiệm vụ 26
3. Nhân sự và cơ cấu tổ chức của trung tâm 27
II: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA TRONG
THỜI GIAN QUA 29
1. Những thành tựu đã đạt được từ hoạt động giáo dục đào tạo 32
2. Những tồn tại của nền giáo dục nước ta 36
Chuyên đề tốt nghiệp 3
3. Nguyên nhân của những tồn tại trên 43
3.1. Từ phía nhà trường và người học 43
3.2. Từ phía Nhà nước 46
Chương III 50

GIẢI PHÁP CHO ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở NƯỚC TA 50

1. Giải pháp 50
2. Lộ trình thực hiện từ 2007 đến 2010 64
KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68



4
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

1. Giáo dục và Đào tạo GD – ĐT
2. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
3. Đại học ĐH
4. Cao đẳng CĐ
5. Trung học chuyên nghiệp THCN
6. Trung cấp chuyên nghiệp TCCN
7. Trung học cơ sở THCS
8. Trung học chuyên nghiệp THCN
9. Dạy nghề DN
10. Trung học phổ thông THPT
11. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH – HĐH
12. Kinh tế - xã hội KT – XH
13. Công nghiệp hoá CNH
14. Việt Nam VN
15. Đại học quốc gia ĐHQG
16. Công nghệ thông tin CNTT
17. Công nhân CN
Chuyên đề tốt nghiệp 6
của khủng hoảng, tụt hậu trong GD-ĐT mà trực tiếp là đào tạo ĐH đối với phát
triển kinh tế là vô cùng nặng nề.
Do đó chủ trương hướng toàn bộ nền ĐH, CĐ, THCN cho mục tiêu đáp
ứng nhu cầu của xã hội mà trước hết là nhu cầu của doanh nghiệp - đối tượng có
nhu cầu lớn nhất về nhân lực đã qua đào tạo - hay nói nôm na là chuyển từ "đào
tạo cái mình có" sang "đào tạo cái mà xã hội (doanh nghiệp) cần" và việc vận
dụng các nguyên tắc của của thị trường trong đào tạo và sử dụng là rất cần thiết.
Nó không những tạo ra bước đệm giúp chúng ta nhanh chóng giải quyết vấn đề
nguồn nhân lực của hiện tại mà còn trở thành một động lực to lớn thúc đẩy phát
triển kinh tế trong tương lai.
Trong bài viết này, tôi đi sâu vào việc làm rõ thực trạng đào tạo theo nhu
cầu ở nước ta hiện nay và kết quả mà chúng ta nhận được từ những gì chúng ta
đã thực hiện. Qua đó thấy được con đường mà toàn nền giáo dục Việt Nam đã
chọn có đã đi theo đúng nhu cầu của xã hội hay chưa hay cần phải sửa đổi, bổ
xung cho hoàn thiện hơn nữa để con đường đó thực sự xuất phát từ nhu cầu xã
hội, để sản phẩm của nó thực sự đáp ứng nhu cầu về nguồn lao động chất lượng
cao tăng lên không ngừng của xã hội.
Mô hình này không còn phải là mới trên thế giới, nó đã được thực hiện từ
rất lâu rồi, ở rất nhiều quốc gia từ Châu Á đến Châu Âu, Châu Mỹ Việc Việt
Nam đến nay mới nhận thấy hết ý nghĩa to lớn của đào tạo theo nhu cầu xã hội
trong vấn đề giải quyết nhu cầu lao động ngày càng cao của các doanh nghiệp
nói riêng và của xã hội nói chung và quyết định tiến hành triển khai rộng khắp
trong cả nước tuy là quá muộn song việc thực hiện nó không phải là không có ý
nghĩa bởi lẽ nếu không thực hiện thì không biết nền giáo dục nước nhà sẽ còn đi
đến đâu đặc biệt là hiện nay nước ta đã là thành viên của WTO thì nhu cầu về
nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường là rất lớn. Tuy nhiên để có
thể đi đến đích thành công của nó không phải điều dễ dàng, thực tế trên thế giới


Chuyên đề tốt nghiệp 8

Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU

Quan điểm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội ở nước ta đã
xuất hiện từ rất lâu song để nhận thấy hết được ý nghĩa của nó thì phải đến giai
đoạn hiện nay vấn đề này mới thực sự được quan tâm và trở thành vấn đề lớn
của cả nước. Ngay trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung Ương
Đảng khoá VII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996),
Đảng ta đã khẳng định: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả 3 mặt mở rộng
quy mô, nâng cao dân trí và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh
vực đào tạo trong những năm tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH – HĐH).
Hay trong bài phát biểu của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại Hội
nghị giáo dục đào tạo (năm 1996), Bà đã nhấn mạnh: “Ở thời đại CNH – HĐH
hiện nay sự phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) trước mắt và tương lai đòi hỏi
cấp bách những năng lực mới như năng lực thích ứng với sự thay đổi, năng lực
tư duy độc lập, năng lực tự học và tự cập nhập thường xuyên kiến thức mới,
năng lực sáng tạo và nâng cao sự cạnh tranh của nền kinh tế … đó là những
năng lực cần thiết để tìm ra những cách làm rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với
các nước đi trước nhằm đạt mục tiêu CNH – HĐH. Để có được những năng lực
đó thì ngay từ bây giờ các trường, các cơ sở đào tạo phải chuyển hướng đào tạo
theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng giáo dục đào tạo phải trở thành
một hệ thống mở: mở đối với đại chúng, mở đối với thực tế kinh tế xã hội, mở

tạo, bồi dưỡng cũng phải đa dạng để có thể đáp ứng để có thể đáp ứng được
những yêu cầu này.
- Bản thân người lao động có những điều kiện, đặc điểm riêng khiến cho
họ có những trình độ chuyên môn, tay nghề khá khác nhau dù có cùng một điểm
xuất phát giống nhau về đào tạo cơ bản, về môi trường và điều kiện làm việc…
Do đó, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của mỗi người sẽ ngày càng khác biệt.
Chuyên đề tốt nghiệp 10
Như vậy vấn đề đào tạo theo nhu cấu thực sự trở thành một vấn đề cấp
thiết với nước ta không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai đặc biệt khi
nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới
WTO thì vấn đề này lại càng trở nên quan trọng bội phần, nó góp phâng quan
trọng vào việc tạo ra một lượng lớn nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu của các doanh nghiệp trong nước và cả các doanh nghiệp nước ngoài khi
đầu tư vào Việt Nam, giảm bớt được một lượng đáng kể số người thất nghiệp
trên thị trường đồng thời còn hạn chế được tình trạng trong khi số lượng người
thất nghiệp trong nước tăng mà vẫn phải thuê lao động từ nước ngoài về làm
việc.
1. Khái niệm về đào tạo theo nhu cầu
Hiện nay, khái niệm đào tạo theo nhu cầu xã hội còn nhiều tranh luận và
chưa đi đến thống nhất. Có quan điểm cho rằng: Đào tạo theo nhu cầu xã hội
gồm: đào tạo theo nhu cầu của Nhà nước, các địa phương, nhu cầu của người sử
dụng lao động và nhu cầu của người học. Song cũng có quan điểm cho rằng:

Đào tạo theo nhu cầu là phương thức tổ chức đào tạo ngắn hạn.
Những quan niệm trên đều chưa đầy đủ và sát với ý nghĩa của bản thân
nó. Dưới đây tôi xin nêu ra cách khái niệm sau về đào tạo theo nhu cầu theo tôi
là phù hợp nhất.

Đào tạo bao nhiêu? Bao nhiêu ở đây muốn nói đến số lượng con người
mà chúng ta sẽ đào tạo trong một thời kỳ sao cho đủ để đáp ứng nhu cầu của xã
hội. Để xác định được một cách chính xác con số này không phải là điều đơn
giản. Con số này không chỉ dừng lại ở con số chung chung cho toàn xã hội mà
điều quan trọng là chúng ta phải xác định rõ xem ứng với mỗi ngành nghề cụ
thể con số này sẽ là bao nhiều. Đây là điều khiến cho các nhà hoạch định cảm
thấy rất khó khăn bởi lẽ xã hội luôn biến đổi không ngừng, ngành nghề hôm nay
thịnh hành thì ngày mai lại có thể trở nên quá nhàm chán và một ngành nghề
mới lại xuất hiện và lên ngôi. Vì vậy việc xác định cụ thể số lượng đào tạo trong
mỗi ngành nghề có ý nghĩa rất quan trọng, tránh được tình trạng thất nghiệp do
thừa nhân lực ở khu vực này và thiếu nhân lực ở khu vực khác do không dự báo
được hết nhu cầu xã hội.
Như vậy, với cả 3 câu hỏi trên muốn tìm được câu trả lời chuẩn xác phải
căn cứ vào nhu cầu xã hội. Hay nói chính xác nhu cầu của xã hội sẽ là cái mốc
Chuyên đề tốt nghiệp 12
để giáo dục - đào tạo dõi theo và điều chỉnh phương thức hoạt động của mình
cho phù hợp.
2. Phân loại đào tạo theo nhu cầu

Hiện nay trên thị trường tồn tại 2 loại hình đào tạo theo nhu cầu:
- Đào tạo theo nhu cầu hiện tại của thị trường: tức là căn cứ vào nhu cầu
hiện tại của thị trường đang thiếu lao động trong những ngành nghề gì thì đào
tạo những ngành nghề đó và việc đào tạo này thường được tổ chức thành các
lớp đào tạo ngắn hạn (từ 3 đến 6 tháng). Ưu điểm của loại hình đạo tạo này là
đáp ừng ngay được nhu cầu lao động của thị trường, tuy nhiên nó có nhược
điểm lớn là những lao động được đào tạo ra thường có tay nghề không cao nên
sau một thời gian làm việc nếu không có sự bổ sung kiến thức thì dễ bị đào thải

rất lớn cho bản thân người lao động, nhà trường và xã hội. Như vậy phương
thức đào tạo theo nhu cầu sẽ khắc phục được hạn chế cơ bản của cách thức giáo
dục trước đây khi còn quá nặng nề, móc máy trong giảng dạy mà chưa chú tâm
đến chất lượng đầu ra.
Qua đây, tôi xin nêu ra những vai trò và ý nghĩa cơ bản của phương thức
đào tạo theo nhu cầu xã:
- Nó khắc phục sự thiếu hụt trình độ và kỹ năng của từng cá nhân so với
yêu cầu cụ thể do công việc hiện tại và trước mắt của chính mỗi cá nhân đó đặt
ra. Khi đã tiến hành đào tạo theo nhu cầu, mỗi công việc, ngành nghề cụ thể sẽ
quy định rõ ở mỗi trình độ nhất định cần những kỹ năng nào để có thể đảm nhận
được công việc đó. Do khi tham gia các khóa học nghề, cũng như đào tạo tai
các trường cao đẳng, đại học sinh viên sẽ được được đào tạo một cách bài bản
các kỹ năng đó và khi ra trường sinh viên có thể bắt tay vào công việc luôn.
- Đáp ứng sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực chất lượng cao cho
các đơn vị tuyển dụng. Hiện nay đa số sinh viên ra trường đều rất khó có thể xin
đươck một công việc theo đúng những gì đã học mặc dù nhu cầu tuyển dụng
của các doanh nghiệp là rất cao do đó rất khó cho doanh nghiệp có thể tuyển
được số lượng lao động như mong muốn. Phần lớn là do những kỹ năng sinh
viên có được trong quá trình học ở nhà trườn là rất ít so với yêu cầu đòi hỏi của
doanh nghiệp. Song khi tiến hành đào tạo theo nhu cầu thì số lượng lao động
mà thị trường cần đã được dự báo trước và chất lượng lao động đã được nâng
cao nên khả năng doanh nghiệp tuyển không đủ lượng cần là rất hạn chế.
Chuyên đề tốt nghiệp 14
- Tăng khả năng cạnh tranh của lao động trong nước so với nguồn nhân
lực từ nước ngoài chảy vào, làm giảm nhu cầu nhập khẩu lao động từ các nước
của các đơn vị tuyển dụng trong nước. Do lao động trong nước không đáp ứng
được yêu cầu của các nhà tuyển dụng nên nhiều doanh nghiệp đã phải tìm đến

- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng đa dạng phù hợp với nhu cầu của
người học và của các cơ quan sử dụng lao động.Khi tiến hành đào tạo theo nhu
cầu nhà trường sẽ kết hợp cùng doanh nghiệp để xác định rõ những kiến thức và
kỹ năng sinh viên cần có đối với mỗi chuyên ngành, qua đó tổng hợp lại và xây
dựng thành giáo trình giảng dạy trong nhà trường. Tuy nhiên bộ giáo trình này
chỉ được xây dựng hoàn chỉnh khi đã tổng hợp được những yêu cầu mà các
doanh nghiệp trong lĩnh vực đó cho là cần thiết cho đào tạo. Tránh trường hợp
xây dựng giáo trình cá thể cho từng doanh nghiệp cụ thể như vậy bộ giáo trình
sẽ chỉ áp dụng đơn thuần cho doanh nghiệp đó mà không áp dụng được trên
diện rộng. Việc làm này sẽ gây lãng phí thời gian và tiền của của doanh nghiệp
và nhà trường.
4. Phân loại nhu cầu đào tạo

Hiện nay có 3 nhóm nhu cầu sau đây:
- Nhu cầu của nhà nước: là những đòi hỏi về nguồn nhân lực từ những
chiến lược phát triển của bộ máy nhà nước hay của những ngành nghề mới mà
Nhà nước định hướng phát triển trong tương lai đảm bảo cho sự phát triển lâu
dài của đất nước. Nhu cầu đào tạo này thường chọn mục tiêu đi trước, đón đầu
về khoa học, công nghệ, vượt trước nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp cũng như
nhu cầu của người học. Có thể thấy nhu cầu đào tạo này trong việc phát triển
nguồn nhân lực cho các ngành điện hạt nhân, công nghệ Nano, công nghệ sinh
học, cơ điện tử và một số ngành công nghệ quan trọng khác. Nhu cầu đào tạo
này có số lượng lớn, có căn cứ và cơ sở để dự đoán hàng năm. Những ngành
nghề đặc biệt về an ninh, quốc phòng và chế độ cử tuyển do nhà nước dự báo
nhu cầu.
- Nhu cầu của doanh nghiệp: là nhu cầu về số lượng và chất lượng, tay
nghề, trình độ chuyên môn, kỹ năng của người lao động. Nhu cầu này đòi hỏi
lao động sau khi được đào tạo có thể làm được việc ngay, phù hợp với yêu cầu
cụ thể của doanh nghiệp để giảm thiếu chi phí do phải đào tạo lại. Tuy nhiên
nhu cầu này chưa được tổng hợp, thiếu thông tin nhu cầu dự báo hàng năm. Đặc

các trường học, cơ sở đào tạo tiến hành đào tạo theo nhu cầu của xã hội như:
tăng nguồn vốn cấp phát cho các trường, cơ sở đào tạo được đầu tư các trang
thiết bị hiện đại phục vụ cho dạy và học, tăng cường liên kết giữa nhà trường và
doanh nghiệp …
Chuyên đề tốt nghiệp 17
+ Nhận thức của người dân về đào tạo theo nhu cầu ngày càng được nâng
cao. Kết quả của nền giáo dục cũ (nặng về lý thuyết xem nhẹ thực hành, các
trường chỉ tập trung đào tạo những gì mình có) đã khiến cho người học có tâm
lý băn khoăn, lo lắng trong vấn đề chọn trường, chọn nghề sao cho khi ra trường
có thể dễ xin việc nhất. Do đó nhu cầu mong muốn được biết rõ xã hội đang cần
những ngành nghề, công việc gì của cả phụ huynh và học sinh ngày một lớn.
+ Ngày càng có nhiều loại hình, phương tiện giảng dạy mới giúp học
sinh, sinh viên nhanh chóng tiếp cận các kiến thức, công nghệ hiện đại như:
giảng dạy bằng máy chiếu, phương pháp trao đổi thông tin qua mạng …giúp
giáo viên và học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và tạo cảm giác
thoải trong học tập. Đồng thời nhờ có internet giáo viên và học sinh có thể trao
đổi bài tập rất bất cứ khi nào mà không mất nhiều thời gian.
5.2. Những nhân tố tiêu cực
+ Tài chính Nhà nước cấp cho các trường và khoản thu của nhà trường
(học phí và các khoản thu khác) có tăng qua từng năm nhưng vẫn là quá ít so
với nhu cầu của nền giáo dục ngày càng phát triển. Trước năm 2007 ngân sách
Nhà nước chi cho giáo dục khoảng 15% đến 16 % tổng chi cho ngân sách nhà
nước, đến năm 2007 con số này là 20% và có thể tăng lên từ 21% đến 22% vào
những năm tiếp sau. Tuy nhiên mức đầu tư này cộng thêm các khoản của nhà
trường từ học phí còn là rất nhỏ so với chi phí cần thiết đầu tư trang thiết bị,
máy móc hiện đại cho các trường. Mặt khác tổng chi ngân sách của Nhà nước
tính trên một mặt bằng GDP thấp như nước ta nên 20% là một con số nhỏ trong

6.1. Khu vực Đông Á
Sự tăng trưởng của khu vực Đông Á trong những thập kỷ qua là kết quả
của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó không thể không kể đến chiến lược phát
triển nguồn nhân lực thông qua GD – ĐT nhằm mục tiêu đưa đất nước thoát
khỏi đói nghèo, trở thành nước công nghiệp sánh vai cùng các nước phát triển
trên thế giới (như Anh, Mỹ, Đức…) là mục tiêu hàng đầu và phải kiên quyết
thực hiện. Cho đến nay, sau những chặng đường dài của sự phát triển thì những
thành tựu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đông Á có được từ
chính sách phát triển chú trọng phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo của họ vẫn là những bài học quý giá mà chúng ta cần học tập mặc dù
việc thực hiện chính sách này ở nước ta là muộn so với nhu cầu thực tại của đất
nước.
Chuyên đề tốt nghiệp 19
Ngay từ thời kỳ đầu bước vào công nghiệp hoá (CNH), các nền kinh tế
Đông Á đã nhận thức một cách sâu sắc rằng con người là vốn quý nhất của xã
hội, là yếu tố quyết định của quá trình sản xuất. Điều đáng lưu ý là nhận thức
này không chỉ của Chính phủ mà đã trở thành nhận thức chung, thống nhất của
cả chính quyền các cấp lẫn người dân và các tầng lớp với các giới có liên quan.
Ở các nền kinh tế Đông Á, chiến lược phát triển nguồn nhân lực thông
qua GD – ĐT với chiến lược CNH có tính bổ xung và phù hợp khá cao. Hai loại
chính sách này không thể thành công được nếu như chính sách phát triển NNL
thông qua GD – ĐT không được hoạch định nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể
đặt ra cho mỗi giai đoạn của CNH. Cụ thể là vào thời kỳ chuẩn bị cất cánh công
nghiệp, các nền kinh tế Đông Á (ngay cả Nhật Bản) thường bị lạc vào tụt hậu xa
so với các nền kinh tế Tây Âu và Mỹ. Các nền nước ở Đông Á có nguồn nhân
lực dồi dào và rẻ mạt song lại rất thiếu các nguồn lực để có thể cùng mọt lúc
đáp ứng được rất nhiều nhu cầu cấp bách. Để có thể sớm rút ngắn khoảng cách


thu hút được hầu hết lực lực lượng lao
động vào quá trình sản xuất, do vậy đã giúp nền kinh tế nhanh chóng chuyển
sang hoạt động công nghiệp có giá trị giá tăng cao. Trong những năm 1970,
giáo dục trung học trong các nền kinh tế này đã nhận được phần đầu tư đáng kể
trong các khoản đầu tư cho 3 cấp giáo dục : tiểu học, trung học,
đại
học. Đồng
thời chính sách mở rộng giáo dục trung học đã nhấn mạnh không chỉ khía cạnh
văn hoá của giáo dục trung học mà còn cả khía cạnh giáo dục nghề nghiệp cấp
trung học.
Từ những năm 1980, do toàn cầu hoá kinh tế ngày càng trở thành một xu
thế nổi trội và do sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, nên khối lượng kiến thức
được sản sinh ra ngày càng nhiều và đổi mới ngày càng nhanh, đồng thời tính
cạnh tranh giữa các nền kinh tế và các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt. Thực
tế này đòi hỏi các nền kinh tế phải chuẩn bị được nguồn nhân lực chất lượng
cao không chỉ nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải cập nhập thường
xuyên các thành tựu khao học và có đầu óc sáng tạo, linh hoạt, dám nghĩ dám
làm, năng động, chấp nhận mạo hiểm. Trước những yêu cầu đòi hỏi đó các nền
kinh tế Đông Á đã tập trung nguồn lực tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thồng
giáo dục và đào tạo cả về cơ cấu, nội dung giảng dạy, tạo điều kiện tốt nhất cho
mọi người tham gia học tập và đổi mới kiến thức suốt đời.
Chuyên đề tốt nghiệp 21
Bên cạnh vấn đề giáo dục phổ thông, thì các nước trong khu vực Đông Á
còn quan tâm đến giáo dục nghề ban đầu, Các nước này cho rằng lực lượng lao
động có tay nghề là cầu nối giữa các nhà khoa học và sản xuất, là lực lượng chủ
chốt cho sản xuất. Các nước này thường kết hợp giáo dục nghề nghiẹp ban đầu

Đồng thời, chính phủ Nhật Bản cũng đang xúc tiến mở các khoá tiếng
Anh trên khắp cả nước và tăng cường mời các thầy giáo tiếng Anh bản xứ vào
dạy học tại các trường Nhật Bản ngay từ tiểu học, phấn đấu tạo cho mọi công
dân đều có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh vào công việc chuyên môn của
mình khi đến tuổi trưởng thành trong tương lai không xa. Về lâu dài, tiếng Anh
sẽ dần được coi là ngôn ngữ chính thức thứ hai sau tiếng Nhật.
Cùng với việc cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo, Nhật Bản cũng tiến
hành đổi mới hệ thống quản lý xí nghiệp theo hướng chuyển từ chế độ coi trọng
thâm niên và kinh nghiệm công tác, coi trọng tính tập thể và phục tùng cấp trên
sang chế độ coi trọng hơn năng lực và thành tích cá nhân, đề cao tính độc lập và
sáng tạo của công nhân, khuyến khích mọi người hăng hái học tập để nâng cao
trình độ hơn là ỷ lại vào thâm niên phục vụ công ty và kinh nghiệm "sống lâu
lên lão làng".
Trong khi đó ở các nước ASEAN, việc mở rộng hệ thống giáo dục trung
học lại không theo sát quá trình CNH đã gây ra một vài rối loạn trên thị trường
lao động. Philippin mở rộng giáo dục vượt quá nhu cầu của CNH, hay không đi
kèm với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã gây ra tình trạng thất nghiệp có học
lớn.

Do đó trên thực tế Philippin đã phải chọn giải pháp xuất khẩu lao động để
giải quyết việc làm cho số lao động dư thừa. Ngược lại, ở một cực khác các
nước như Thái Lan, Indonexia, Malayxia giáo dục trung học lại không đáp ứng
được nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng cao của nền kinh tế.
Như vậy, điểm mấu chốt khiến cho chính sách mở rộng giáo dục trung
học của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới hiệu quả hơn các nước ASEAN
là họ đã kịp thời nhận thấy được nhu cầu về lao động có kỹ năng cao ngày càng
tăng cho phát triển và nhanh chóng có những đổi mới trong quá trình đào tạo để
tạo ra những con người đáp ứng các nhu cầu đó. Hay nói một cách chính xác là
Chuyên đề tốt nghiệp

24
tạo trong nước, Trung Quốc còn có chính sách khuyến khích thanh niên đi du
học và nghiên cứu ở nước ngoài để sau đó trở về xây dựng đất nước.
Như vậy các nước Đông Á, Châu Âu và Trung Quốc ngay từ những ngày
đầu tiến hành CNH nền kinh tế đều đã coi con người là nhân tố quan trọng và
cần được đào tạo không chỉ về số lượng mà cả chất lượng theo nhu cầu thị
trường. Tuy cách thức đào tạo của mỗi nước là khác nhau như các nước Đông Á
gắn đào tạo theo sát nhu cầu của thị trường trong từng giai đoạn phát triển, các
nước Châu Âu tạo mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nhà trường,
Trung Quốc tiến hành cải cách mạnh mẽ giáo dục theo nhu cầu của hiện đại
hoá, của thế giới và của tương lai song tựu chung lại các nước đều gắn đào tạo
theo nhu cầu xã hội. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến
cho nền kinh tế của các nước này phát triển vượt bậc.
Trên đây là những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đào tào theo
nhu cầu xã hội ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên không phải mọi bài học
đó đều có thể áp dụng vào Việt Nam một cách thành công. Vì vậy trong quá
trình học hỏi chúng ta phải xác định rõ những bài học nào phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh của đất nước ta để vận dụng một cách tốt nhất, tránh tình trạng sao
chép một cách máy móc. Chuyên đề tốt nghiệp

của Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status