Đào tạo theo nhu cầu xã hội - Những định hướng và giải pháp - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT....................................................................................3
MỞ ĐẦU..............................................................................................................4
Chương I..............................................................................................................7
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU..................................7
1. Khái niệm về đào tạo theo nhu cầu........................................................................................9
2. Phân loại đào tạo theo nhu cầu.............................................................................................11
3. Vai trò và đặc điểm của đào tạo theo nhu cầu.....................................................................11
3.1. Vai trò ...........................................................................................................................11
3.2. Đặc điểm.......................................................................................................................13
4. Phân loại nhu cầu đào tạo.....................................................................................................14
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các trường................................15
5.1. Những nhân tố tích cực................................................................................................15
5.2. Những nhân tố tiêu cực.................................................................................................16
6. Kinh nghiệm về đào tạo theo nhu cầu của một số nước và khu vực trên thế giới..............17
6.1. Khu vực Đông Á...........................................................................................................17
6.2. Châu Âu.........................................................................................................................22
6.3.Trung Quốc.....................................................................................................................22
Chương II..........................................................................................................24
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY........................................................................................................24
I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM HỢP TÁC CHUYÊN GIA VÀ KỸ
THUẬT VỚI NƯỚC NGOÀI..................................................................................................24
1.Quá trình hình thành..........................................................................................................24
2. Chức năng, nhiệm vụ vủa trung tâm................................................................................24
2.1. Chức năng......................................................................................................................24
2.2. Nhiệm vụ.......................................................................................................................25
3. Nhân sự và cơ cấu tổ chức của trung tâm.......................................................................26
VÀ KỸ THUẬT VỚI NƯỚC NGOÀI....................................................................................28
II: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA TRONG THỜI

12.Kinh tế - xã hội KT – XH
13.Công nghiệp hoá CNH
14.Việt Nam VN
15.Đại học quốc gia ĐHQG
16.Công nghệ thông tin CNTT
17. Công nhân CN
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Một căn bệnh cốt tử trong nền Giáo dục và Đạo tạo (GD-ĐT) của ta hiện
nay là sự cách biệt quá lớn giữa đào tạo và sử dụng, giữa cung và cầu về nhân
lực, hay nói cách khác là kết quả GD-ĐT chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị
trường. Đây là căn bệnh đã được nói đến từ nhiều năm qua, từ ngày Đảng và
Nhà nước bắt đầu đề cập đến chủ trương xã hội hóa giáo dục, thế nhưng cho
đến nay vẫn chưa được khắc phục, nếu không nói là có xu hướng trầm trọng
hơn trước áp lực của hội nhập quốc tế. Căn bệnh nói trên chính là hậu quả "kép"
của một nền giáo dục vừa nặng về hư danh, khoa cử, sính bằng cấp theo kiểu
giáo dục phong kiến xưa kia lại vừa mang tính "tháp ngà", tách biệt đào tạo với
xã hội, với thực tiễn sản xuất kinh doanh theo mô hình của Liên Xô trước đây.
Biểu hiện rõ nhất của tình trạng nêu trên chính là sự mất cân đối trầm
trọng trong cơ cấu nguồn nhân lực được đào tạo mà lâu nay vẫn được gọi là tình
trạng "thừa thầy thiếu thợ", là tình trạng một bộ phận không nhỏ sinh viên ra
trường không tìm được việc làm trong khi các doanh nghiệp, các khu công
nghiệp lại thiếu trầm trọng lao động đã qua đào tạo theo đúng nhu cầu của họ,
đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao…Cùng với quá trình phát triển của
nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc chúng ta chính thức gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) với cam kết mở cửa thị trường giáo dục đại
học đã tạo áp lực trực tiếp buộc chúng ta phải đổi mới tư duy GD-ĐT mà bằng
chứng cụ thể là việc chấp nhận khái niệm thị trường giáo dục với đầy đủ ý

trong cả nước tuy là quá muộn song việc thực hiện nó không phải là không có ý
nghĩa bởi lẽ nếu không thực hiện thì không biết nền giáo dục nước nhà sẽ còn đi
đến đâu đặc biệt là hiện nay nước ta đã là thành viên của WTO thì nhu cầu về
nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường là rất lớn. Tuy nhiên để có
thể đi đến đích thành công của nó không phải điều dễ dàng, thực tế trên thế giới
cho thấy rõ không phải nước nào cũng thành công khi đi theo con đường này.
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Với tính cấp thiết và quan trọng của vấn đề này nên tôi đã chọn đề tài:
“Đào tạo theo nhu cầu xã hội - Những định hướng và giải pháp”
Nội dung chính của bài viết gồm có 3 phần:
Chương I : Lý luận chung về đào tạo theo nhu cầu
Chương II : Thực trạng việc đào tạo theo nhu cầu ở Việt Nam
Chương III : Giải pháp cho đào tạo theo nhu cầu ở nước ta
Do những hạn chế về mặt kiến thức và nguồn tài liệu tìm kiếm được nên
bài viết của tôi khó tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những sự góp
ý của thầy, cô và những ai quan tâm đến vấn đề mà tôi nghiên cứu.
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn thầy Bùi Đức Thọ đã hướng dẫn tôi
hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này.
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU
Quan điểm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội ở nước ta đã
xuất hiện từ rất lâu song để nhận thấy hết được ý nghĩa của nó thì phải đến giai
đoạn hiện nay vấn đề này mới thực sự được quan tâm và trở thành vấn đề lớn
của cả nước. Ngay trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung Ương
Đảng khoá VII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996),

- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, do môi trường hoạt động của các loại
lao động, các doanh nghiệp và cá nhân người lao động có những nhu cầu đào
tạo, bồi dưỡng rất riêng biệt, thường đòi hỏi phải có những chương trình được
thiết kế riêng. Đối với cá nhân người lao động, các yếu tố chủ quan và kỳ vọng
phát triển cá nhân cũng đòi hỏi được đáp ứng bằng những chương trình đào tạo,
bồi dưỡng riêng biệt.
- Thị trường lao động ngày càng hoàn thiện và có quy mô rộng hơn. Nó
không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia, mà đã vươn ra phạm vi quốc tế. Cùng
với sự phát triển của thị trường này, sức ép đối với người lao động cũng tăng
lên, đòi hỏi họ phải không ngừng được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng để
chuẩn bị cho bước phát triển tiếp hoặc khi chuyển sang công việc khác
- Sự luân chuyển ngày càng nhanh và với quy mô ngày càng rộng làm
nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trở nên ngày càng lớn. Xuất phát từ trình độ, kinh
nghiệm và kỹ năng khác nhau, sự chuyển đổi kiến thức, kỹ năng của các cá
nhân, nhóm người lao động khác nhau sẽ khác nhau, khiến các chương trình đào
tạo, bồi dưỡng cũng phải đa dạng để có thể đáp ứng để có thể đáp ứng được
những yêu cầu này.
- Bản thân người lao động có những điều kiện, đặc điểm riêng khiến cho
họ có những trình độ chuyên môn, tay nghề khá khác nhau dù có cùng một điểm
xuất phát giống nhau về đào tạo cơ bản, về môi trường và điều kiện làm việc…
Do đó, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của mỗi người sẽ ngày càng khác biệt.
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy vấn đề đào tạo theo nhu cấu thực sự trở thành một vấn đề cấp
thiết với nước ta không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai đặc biệt khi
nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới
WTO thì vấn đề này lại càng trở nên quan trọng bội phần, nó góp phâng quan
trọng vào việc tạo ra một lượng lớn nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu của các doanh nghiệp trong nước và cả các doanh nghiệp nước ngoài khi

Đào tạo như thế nào? Câu hỏi này giúp chúng ta tìm ra được để đào tạo
có hiệu quả cao thì phải có một cách thức, phương thức đào tạo như thế nào cho
đúng. Hiện nay, tại Việt Nam cũng như trên thế giới tồn tại rất nhiều phương
thức đào tạo trong nhà trường rất khác nhau như đào tạo theo kiểu máy móc, cổ
truyền thầy giảng gì trò biết nấy; hoặc học sinh tự nghiên cứu là chính đến lớp
thầy chỉ giải đáp những thắc mắc của học sinh mà thôi; rồi có cả hình thức đào
tạo trực tuyến….Tuy nhiên tùy theo điều kiện mỗi nơi mà trong trường hợp này
cách thức đào tạo đó là hiệu quả song khi áp dụng cho nơi khác lại nhận được
những kết quả trái ngược. Do đó để tìm ra được một phương thức đào tạo cho
hiệu quả cũng cần phải xét đến yếu tố con người và xã hội của bản thân khu vực
đó.
Đào tạo bao nhiêu? Bao nhiêu ở đây muốn nói đến số lượng con người
mà chúng ta sẽ đào tạo trong một thời kỳ sao cho đủ để đáp ứng nhu cầu của xã
hội. Để xác định được một cách chính xác con số này không phải là điều đơn
giản. Con số này không chỉ dừng lại ở con số chung chung cho toàn xã hội mà
điều quan trọng là chúng ta phải xác định rõ xem ứng với mỗi ngành nghề cụ
thể con số này sẽ là bao nhiều. Đây là điều khiến cho các nhà hoạch định cảm
thấy rất khó khăn bởi lẽ xã hội luôn biến đổi không ngừng, ngành nghề hôm nay
thịnh hành thì ngày mai lại có thể trở nên quá nhàm chán và một ngành nghề
mới lại xuất hiện và lên ngôi. Vì vậy việc xác định cụ thể số lượng đào tạo trong
mỗi ngành nghề có ý nghĩa rất quan trọng, tránh được tình trạng thất nghiệp do
thừa nhân lực ở khu vực này và thiếu nhân lực ở khu vực khác do không dự báo
được hết nhu cầu xã hội.
Như vậy, với cả 3 câu hỏi trên muốn tìm được câu trả lời chuẩn xác phải
căn cứ vào nhu cầu xã hội. Hay nói chính xác nhu cầu của xã hội sẽ là cái mốc
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
để giáo dục - đào tạo dõi theo và điều chỉnh phương thức hoạt động của mình
cho phù hợp.

chỉ dừng lại ở đức tính tốt, cần cù, trung thành, có trách nhiệm như thời xa xưa
nữa mà họ còn phải có tính sáng tạo, có khả năng xử lý vần đề, có khả năng
phân tích, có tinh thần đồng đội, có khả năng ăn nói diễn đạt …Do đó nếu
không nhanh chóng nắm bắt được những đòi hỏi về số lượng và chất lượng của
các doanh nghiệp nói riêng và của xã hội nói chung về lao động thì hàng năm sẽ
xảy ra hiện tượng một lượng lớn lao động qua đào tạo sẽ thất nghiệp trong
ngành nghề này và thiếu cục bộ trong ngành nghề khác. Điều này gây lãng phí
rất lớn cho bản thân người lao động, nhà trường và xã hội. Như vậy phương
thức đào tạo theo nhu cầu sẽ khắc phục được hạn chế cơ bản của cách thức giáo
dục trước đây khi còn quá nặng nề, móc máy trong giảng dạy mà chưa chú tâm
đến chất lượng đầu ra.
Qua đây, tôi xin nêu ra những vai trò và ý nghĩa cơ bản của phương thức
đào tạo theo nhu cầu xã:
- Nó khắc phục sự thiếu hụt trình độ và kỹ năng của từng cá nhân so với
yêu cầu cụ thể do công việc hiện tại và trước mắt của chính mỗi cá nhân đó đặt
ra. Khi đã tiến hành đào tạo theo nhu cầu, mỗi công việc, ngành nghề cụ thể sẽ
quy định rõ ở mỗi trình độ nhất định cần những kỹ năng nào để có thể đảm nhận
được công việc đó. Do khi tham gia các khóa học nghề, cũng như đào tạo tai
các trường cao đẳng, đại học sinh viên sẽ được được đào tạo một cách bài bản
các kỹ năng đó và khi ra trường sinh viên có thể bắt tay vào công việc luôn.
- Đáp ứng sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực chất lượng cao cho
các đơn vị tuyển dụng. Hiện nay đa số sinh viên ra trường đều rất khó có thể xin
đươck một công việc theo đúng những gì đã học mặc dù nhu cầu tuyển dụng
của các doanh nghiệp là rất cao do đó rất khó cho doanh nghiệp có thể tuyển
được số lượng lao động như mong muốn. Phần lớn là do những kỹ năng sinh
viên có được trong quá trình học ở nhà trườn là rất ít so với yêu cầu đòi hỏi của
doanh nghiệp. Song khi tiến hành đào tạo theo nhu cầu thì số lượng lao động
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
theo đúng những gì đang có trên thị trường, tiếp cận những phương pháp giảng
dạy tiên tiến trên thế giới
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng đa dạng phù hợp với nhu cầu của
người học và của các cơ quan sử dụng lao động.Khi tiến hành đào tạo theo nhu
cầu nhà trường sẽ kết hợp cùng doanh nghiệp để xác định rõ những kiến thức và
kỹ năng sinh viên cần có đối với mỗi chuyên ngành, qua đó tổng hợp lại và xây
dựng thành giáo trình giảng dạy trong nhà trường. Tuy nhiên bộ giáo trình này
chỉ được xây dựng hoàn chỉnh khi đã tổng hợp được những yêu cầu mà các
doanh nghiệp trong lĩnh vực đó cho là cần thiết cho đào tạo. Tránh trường hợp
xây dựng giáo trình cá thể cho từng doanh nghiệp cụ thể như vậy bộ giáo trình
sẽ chỉ áp dụng đơn thuần cho doanh nghiệp đó mà không áp dụng được trên
diện rộng. Việc làm này sẽ gây lãng phí thời gian và tiền của của doanh nghiệp
và nhà trường.
4. Phân loại nhu cầu đào tạo
Hiện nay có 3 nhóm nhu cầu sau đây:
- Nhu cầu của nhà nước: là những đòi hỏi về nguồn nhân lực từ những
chiến lược phát triển của bộ máy nhà nước hay của những ngành nghề mới mà
Nhà nước định hướng phát triển trong tương lai đảm bảo cho sự phát triển lâu
dài của đất nước. Nhu cầu đào tạo này thường chọn mục tiêu đi trước, đón đầu
về khoa học, công nghệ, vượt trước nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp cũng như
nhu cầu của người học. Có thể thấy nhu cầu đào tạo này trong việc phát triển
nguồn nhân lực cho các ngành điện hạt nhân, công nghệ Nano, công nghệ sinh
học, cơ điện tử và một số ngành công nghệ quan trọng khác. Nhu cầu đào tạo
này có số lượng lớn, có căn cứ và cơ sở để dự đoán hàng năm. Những ngành
nghề đặc biệt về an ninh, quốc phòng và chế độ cử tuyển do nhà nước dự báo
nhu cầu.
- Nhu cầu của doanh nghiệp: là nhu cầu về số lượng và chất lượng, tay

5.1. Những nhân tố tích cực
+ Có nhiều chính sách, chương trình, dự án của Nhà nước khuyến khích
các trường học, cơ sở đào tạo tiến hành đào tạo theo nhu cầu của xã hội như:
tăng nguồn vốn cấp phát cho các trường, cơ sở đào tạo được đầu tư các trang
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thiết bị hiện đại phục vụ cho dạy và học, tăng cường liên kết giữa nhà trường và
doanh nghiệp …
+ Nhận thức của người dân về đào tạo theo nhu cầu ngày càng được nâng
cao. Kết quả của nền giáo dục cũ (nặng về lý thuyết xem nhẹ thực hành, các
trường chỉ tập trung đào tạo những gì mình có) đã khiến cho người học có tâm
lý băn khoăn, lo lắng trong vấn đề chọn trường, chọn nghề sao cho khi ra trường
có thể dễ xin việc nhất. Do đó nhu cầu mong muốn được biết rõ xã hội đang cần
những ngành nghề, công việc gì của cả phụ huynh và học sinh ngày một lớn.
+ Ngày càng có nhiều loại hình, phương tiện giảng dạy mới giúp học
sinh, sinh viên nhanh chóng tiếp cận các kiến thức, công nghệ hiện đại như:
giảng dạy bằng máy chiếu, phương pháp trao đổi thông tin qua mạng …giúp
giáo viên và học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và tạo cảm giác
thoải trong học tập. Đồng thời nhờ có internet giáo viên và học sinh có thể trao
đổi bài tập rất bất cứ khi nào mà không mất nhiều thời gian.
5.2. Những nhân tố tiêu cực
+ Tài chính Nhà nước cấp cho các trường và khoản thu của nhà trường
(học phí và các khoản thu khác) có tăng qua từng năm nhưng vẫn là quá ít so
với nhu cầu của nền giáo dục ngày càng phát triển. Trước năm 2007 ngân sách
Nhà nước chi cho giáo dục khoảng 15% đến 16 % tổng chi cho ngân sách nhà
nước, đến năm 2007 con số này là 20% và có thể tăng lên từ 21% đến 22% vào
những năm tiếp sau. Tuy nhiên mức đầu tư này cộng thêm các khoản của nhà
trường từ học phí còn là rất nhỏ so với chi phí cần thiết đầu tư trang thiết bị,
máy móc hiện đại cho các trường. Mặt khác tổng chi ngân sách của Nhà nước

triển nguồn nhân lực thông qua GD – ĐT nhằm mục tiêu đưa đất nước thoát
khỏi đói nghèo, trở thành nước công nghiệp sánh vai cùng các nước phát triển
trên thế giới (như Anh, Mỹ, Đức…) là mục tiêu hàng đầu và phải kiên quyết
thực hiện. Cho đến nay, sau những chặng đường dài của sự phát triển thì những
thành tựu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đông Á có được từ
chính sách phát triển chú trọng phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo của họ vẫn là những bài học quý giá mà chúng ta cần học tập mặc dù
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
việc thực hiện chính sách này ở nước ta là muộn so với nhu cầu thực tại của đất
nước.
Ngay từ thời kỳ đầu bước vào công nghiệp hoá (CNH), các nền kinh tế
Đông Á đã nhận thức một cách sâu sắc rằng con người là vốn quý nhất của xã
hội, là yếu tố quyết định của quá trình sản xuất. Điều đáng lưu ý là nhận thức
này không chỉ của Chính phủ mà đã trở thành nhận thức chung, thống nhất của
cả chính quyền các cấp lẫn người dân và các tầng lớp với các giới có liên quan.
Ở các nền kinh tế Đông Á, chiến lược phát triển nguồn nhân lực thông
qua GD – ĐT với chiến lược CNH có tính bổ xung và phù hợp khá cao. Hai loại
chính sách này không thể thành công được nếu như chính sách phát triển NNL
thông qua GD – ĐT không được hoạch định nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể
đặt ra cho mỗi giai đoạn của CNH. Cụ thể là vào thời kỳ chuẩn bị cất cánh công
nghiệp, các nền kinh tế Đông Á (ngay cả Nhật Bản) thường bị lạc vào tụt hậu xa
so với các nền kinh tế Tây Âu và Mỹ. Các nền nước ở Đông Á có nguồn nhân
lực dồi dào và rẻ mạt song lại rất thiếu các nguồn lực để có thể cùng mọt lúc
đáp ứng được rất nhiều nhu cầu cấp bách. Để có thể sớm rút ngắn khoảng cách
đó và đuổi kịp các nước phát triển, các nước Đông Á không có cách nào khác
để tiến hành thành công CNH là phải tiến hành tiếp thu công nghiệp nước
ngoài. Muồn làm được điều này, các nước này cần phải nhanh chóng nâng cao
trình độ dân chúng và tạo ra được một đội ngũ lao động có trình độ đồng đều và

văn hoá của giáo dục trung học mà còn cả khía cạnh giáo dục nghề nghiệp cấp
trung học.
Từ những năm 1980, do toàn cầu hoá kinh tế ngày càng trở thành một xu
thế nổi trội và do sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, nên khối lượng kiến thức
được sản sinh ra ngày càng nhiều và đổi mới ngày càng nhanh, đồng thời tính
cạnh tranh giữa các nền kinh tế và các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt. Thực
tế này đòi hỏi các nền kinh tế phải chuẩn bị được nguồn nhân lực chất lượng
cao không chỉ nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải cập nhập thường
xuyên các thành tựu khao học và có đầu óc sáng tạo, linh hoạt, dám nghĩ dám
làm, năng động, chấp nhận mạo hiểm. Trước những yêu cầu đòi hỏi đó các nền
kinh tế Đông Á đã tập trung nguồn lực tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thồng
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giáo dục và đào tạo cả về cơ cấu, nội dung giảng dạy, tạo điều kiện tốt nhất cho
mọi người tham gia học tập và đổi mới kiến thức suốt đời.
Bên cạnh vấn đề giáo dục phổ thông, thì các nước trong khu vực Đông Á
còn quan tâm đến giáo dục nghề ban đầu, Các nước này cho rằng lực lượng lao
động có tay nghề là cầu nối giữa các nhà khoa học và sản xuất, là lực lượng chủ
chốt cho sản xuất. Các nước này thường kết hợp giáo dục nghề nghiẹp ban đầu
ở các cấp trung học, lẫn sau trung học. Trong các phương thức đào tạo nghề ở
các nước Đông Á thì phương thức nổi trội nhất là đào tạo nghề ngay tại nơi làm
việc (phát triển nhất ở Đài Loan, Nhật bản, Hàn Quốc). Phương thức đào tạo
này đảm bảo được nguyên tắc gắn học với hành và hầu như không có sự bất cập
giữa cung và cầu lao động được đào tạo vì các công ty thực hiện đào tạo chủ
yếu cho và từ nhu cầu của chính mình.
Gần đây, Nhật Bản đã đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm đào tạo ra
những con người năng động, sáng tạo hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học
và công nghệ của đất nước trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Những hướng
cải cách chủ yếu là loại bỏ dần tính thống nhất và bình đẳng thái quá trong giáo

trình độ hơn là ỷ lại vào thâm niên phục vụ công ty và kinh nghiệm "sống lâu
lên lão làng".
Trong khi đó ở các nước ASEAN, việc mở rộng hệ thống giáo dục trung
học lại không theo sát quá trình CNH đã gây ra một vài rối loạn trên thị trường
lao động. Philippin mở rộng giáo dục vượt quá nhu cầu của CNH, hay không đi
kèm với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã gây ra tình trạng thất nghiệp có học
lớn. Do đó trên thực tế Philippin đã phải chọn giải pháp xuất khẩu lao động để
giải quyết việc làm cho số lao động dư thừa. Ngược lại, ở một cực khác các
nước như Thái Lan, Indonexia, Malayxia giáo dục trung học lại không đáp ứng
được nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng cao của nền kinh tế.
Như vậy, điểm mấu chốt khiến cho chính sách mở rộng giáo dục trung
học của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới hiệu quả hơn các nước ASEAN
là họ đã kịp thời nhận thấy được nhu cầu về lao động có kỹ năng cao ngày càng
tăng cho phát triển và nhanh chóng có những đổi mới trong quá trình đào tạo để
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tạo ra những con người đáp ứng các nhu cầu đó. Hay nói một cách chính xác là
vấn đề đào tạo theo nhu cầu ở Đông Á đã được nhận thức một cách sâu sắc ý
nghĩa và tầm quan trọng của nó đối với phát triển kinh tế.
6.2. Châu Âu
Ở châu Âu, các doanh nghiệp thường kết hợp chặt chẽ với ngành giáo
dục để tạo thuận lợi cho các sinh viên từ nhà trường đến làm việc ở các doanh
nghiệp. Để phổ cập Internet trong dân chúng, Hội nghị thượng đỉnh EU tại
Lisbon, Bồ Đào Nha (23/3/2000) nhất trí quyết định tăng cường đầu tư đào tạo
nhân tài, thúc đẩy cải cách kinh tế xã hội, để EU thích ứng hơn nữa với "xã hội
tin học dựa trên cơ sở tri thức và đổi mới". Các nước này đã đặt mục tiêu, trong
vòng 10 năm tới, đuổi kịp nền kinh tế Internet Mỹ, xây dựng châu Âu thành khu
"khu vực kinh tế có sức sống mạnh nhất, có sức cạnh tranh nhất thế giới", với
một số biện pháp cụ thể như hoàn tất khung pháp lý cho thương mại điện tử, tất

Trên đây là những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đào tào theo
nhu cầu xã hội ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên không phải mọi bài học
đó đều có thể áp dụng vào Việt Nam một cách thành công. Vì vậy trong quá
trình học hỏi chúng ta phải xác định rõ những bài học nào phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh của đất nước ta để vận dụng một cách tốt nhất, tránh tình trạng sao
chép một cách máy móc.
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương II
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM HỢP TÁC CHUYÊN
GIA VÀ KỸ THUẬT VỚI NƯỚC NGOÀI
1.Quá trình hình thành
Trung tâm hợp tác chuyên gia và kỹ thuật với nước ngoài được thành lập
vào ngày 28 tháng 2 năm 1989 theo quyết định số 212 của Bộ trưởng Bộ Đại
học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo),
trước đó là Cục chuyên gia thuộc Chính phủ. Trong quyết định này có nêu rõ
Trung tâm trực thuộc Bộ Đại học, THCN và DN, Trung tâm hoạt động theo chế
độ hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài
khoản tại Ngân hàng. Mọi hoạt động của trung tâm phải đảm bảo theo đúng
pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ.
Trung tâm hợp tác chuyên gia và kỹ thuật với nước ngoài – Bộ GD-ĐT là
đơn vị trực tiếp quản lý chuyên gia giáo dục làm việc ở nước ngoài. Trung tâm
hiện đang thực hiện tuyển chọn, đào tạo ngoại ngữ và đưa chuyên gia đi làm
việc tại các nước như Angola, Algierie, Công Gô, Madagascar, Môdămbique,
Nhật bản, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nga, Lào, Campuchia, Malaysia và một số nước
khác trên thế giới.
2. Chức năng, nhiệm vụ vủa trung tâm

- Liên doanh, liên kết với các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước về
các mặt hoạt động theo chức năng nhiệm vụ đã được quy định;
- Thực hiện các chế độ tài chính có liên quan, sử dụng ngoại tệ theo quy
định của nhà nước và của Bộ
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
25

Trích đoạn Nguyên nhân của những tồn tại trên Lộ trình thực hiện từ 2007 đến 2010
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status