Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ................................................................................2
MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
Chương I...........................................................................................................6
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU..............................6
1. Khái niệm về đào tạo theo nhu cầu........................................................................................7
2. Phân loại đào tạo theo nhu cầu...............................................................................................7
3. Vai trò và đặc điểm của đào tạo theo nhu cầu.......................................................................8
4. Phân loại nhu cầu đào tạo.......................................................................................................9
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các trường................................11
6. Kinh nghiệm.........................................................................................................................12
Chương II.......................................................................................................18
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY....................................................................................................18
1. Những hạn chế của quá trình đào tạo theo nhu cầu.............................................................21
2. Những thành tựu đạt được từ đào tạo theo nhu cầu............................................................29
Chương III......................................................................................................33
GIẢI PHÁP CHO ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở NƯỚC TA...............33
1. Giải pháp ..............................................................................................................................33
2. Lộ trình thực hiện từ 2007 đến 2010....................................................................................39
KẾT LUẬN....................................................................................................40
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................42
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
1. Giáo dục và Đào tạo GD – ĐT
2. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
3. Đại học ĐH
4. Cao đẳng CĐ
đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao…Cùng với quá trình phát triển của
nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc chúng ta chính thức gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) với cam kết mở cửa thị trường giáo dục đại
học đã tạo áp lực trực tiếp buộc chúng ta phải đổi mới tư duy GD-ĐT mà bằng
chứng cụ thể là việc chấp nhận khái niệm thị trường giáo dục với đầy đủ ý
nghĩa của nó, một khái niệm mà lâu nay vẫn bị coi là kiêng kỵ. Rõ ràng, với áp
lực mở cửa thị trường đại học theo cam kết WTO, nếu chúng ta không khẩn
trương đổi mới triệt để tư duy đào tạo, đặt GD-ĐT vào trung tâm của dòng chảy
phát triển và hội nhập thì khủng hoảng, tụt hậu trong GD-ĐT và nguồn nhân lực
nói chung tất yếu sẽ xảy ra. Một khi nguồn nhân lực đã được khẳng định là chìa
khóa thắng lợi trong cạnh tranh kinh tế thì hậu quả của khủng hoảng, tụt hậu
trong GD-ĐT mà trực tiếp là đào tạo ĐH đối với phát triển kinh tế là vô cùng
nặng nề.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Do đó chủ trương hướng toàn bộ nền ĐH, CĐ, THCN cho mục tiêu đáp
ứng nhu cầu của xã hội mà trước hết là nhu cầu của doanh nghiệp, đối tượng có
nhu cầu lớn nhất về nhân lực đã qua đào tạo, hay nói nôm na là chuyển từ "đào
tạo cái mình có" sang "đào tạo cái mà xã hội (doanh nghiệp) cần" và việc vận
dụng các nguyên tắc của của thị trường trong đào tạo và sử dụng là cần thiết.
Nó không nhanh chóng giải quyết vấn đề nguồn nhân lực của hiện tại mà còn
trở thành một động lực to lớn thúc đẩy phát triển kinh tế khi nước ta trong
tương lai.
Trong bài viết này, em đi sâu vào việc làm rõ thực trạng đào tạo theo nhu
cầu ở nước ta hiện nay và kết quả mà chúng ta nhận được từ những gì mà chúng
ta thực hiện. Vậy liệu có nên chăng tiếp tục con đường mà chúng ta đang đi hay
phải đổi mới, hoàn thiện nó lên một bước cao hơn để GD – ĐT thực sự xuất
phát từ nhu cầu xã hội, để sản phẩm của nó thực sự đáp ứng nhu cầu về nguồn
lao động chất lượng cao tăng lên không ngừng của xã hội.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996), Đảng ta đã khẳng
định: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hang đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả 3 mặt mở rộng quy mô, nâng cao dân
trí và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực đào tạo trong những
năm tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá (CNH – HĐH).
Hay trong bài phát biểu của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại Hội
nghị giáo dục đào tạo, Bà đã nhấn mạnh: “Ở thời đại CNH – HĐH hiện nay sự
phát triển kinh tế - xã hộI (KT – XH) trước mắt và tương lai đòi hỏi cấp bách
những năng lực mới như năng lực thích ứng với sự thay đổi, năng lực tư duy
độc lập, năng lực tự học và tự cập nhập thường xuyên kiến thức mới, năng lực
sang tạo và nâng cao sự cạnh tranh của nền kinh tế … đó là những năng lực cần
thiết để tìm ra những cách làm rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước đi
trước nhằm đạt muc tiêu CNH – HĐH. Để có được những năng lực đó thì ngay
từ bây giờ các trường, các cơ sở đào tạo phải chuyển hướng đào tạo theo hướng
đáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng giáo dục đào tạo phải trở thành một hệ
thống mở: mở đối với đại chúng, mở đối với thực tế kinh tế xã hội, mở đối với
thế giới và thời đại có như vậy chúng ta mới có thể hy vọng trong tương lai
không xa chúng ta có được nguồn lao động đáp ứng được các yêu cầu của xã
hội”.
Như vậy vấn đề đào tạo theo nhu cấu thực sự trở thành một vấn đề cấp
thiết với nước ta không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai đặc biệt khi
nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới
WTO thì vấn đề này lại càng trở nên quan trọng bội phần nó giúp ta có được
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
một lượng lớn nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của các doanh
nghiệp trong nước và cả các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam,
giảm bớt được một lượng đáng kể số người thất nghiệp trên thị trường đồng
triển trong tương lai. Việc đào tạo này thường được tổ chức thành các lớp đào
tạo dài hạn (từ 3 đến 6 năm), những lao động được tạo ra từ đây thường có trình
độ cao; khả năng học hỏi, tiếp cận những thành tựu của khoa học công nghệ,
thích ứng với sự thay đổi là nhanh.Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là do thời
gian đào tạo là dài nên đòi hỏi việc dự báo phải có tính chính xác cao để tránh
sự lãng phí nguồn lực và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.
3. Vai trò và đặc điểm của đào tạo theo nhu cầu
a) Vai trò
Đào tạo theo nhu cầu xã hội có một vai trò rất quan trọng đối với sự phát
triển của quốc gia, dân tộc. Ý nghĩa của nó không chỉ tồn tại trong một giai
đoạn phát triển nhất định nào đó mà nó xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển
của mỗi quốc gia, dân tộc bởi lẽ xã hội luôn luôn đi lên, nhu cầu của con người
này càng cao, khoa học công nghệ phát triển từng ngày từng giờ … khiến cho
nhu cầu về nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở có đức tính tốt, cần cù, trung
thành, có trách nhiệm nữa mà họ còn phải có tính sáng tạo, có khả năng xử lý
vần đề, có khả năng phân tích, có tinh thần đồng độI, có khả năng ăn nói diễn
đạt …
Như vậy đào tạo theo nhu cầu xã hội có một vai trò rất to lớn, cụ thể là:
- Nó khắc phục sự thiếu hụt trình độ và kỹ năng của từng cá nhân so với
yêu cầu cụ thể do công việc hiện tại và trước mắt của chính mỗi cá nhân đó đặt
ra.
- Đáp ứng sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực chất lượng cao cho
các đơn vị tuyển dụng
- Tăng khả năng cạnh tranh của lao động trong nước so với nguồn nhân
lực từ nước ngoài chảy vào.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Làm giảm nhu cầu nhập khẩu lao động từ các nước của các đơn vị tuyển
dụng trong nước
này có số lượng lớn, có căn cứ và cơ sở để dự đoán hàng năm. Những ngành
nghề đặc biệt về an ninh, quốc phòng và chế độ cử tuyển do nhà nước dự báo
nhu cầu.
- Nhu cầu của doanh nghiệp: về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bao
gồm đào tạo cán bộ quản lý và lao động chuyên môn trực tiếp đòi hỏi người học
sau khi tốt nghiệp có thể làm được việc ngay, phù hợp với yêu cầu cụ thể của
doanh nghiệp. Nhu cầu đào tạo này phù hợp với các trình độ: đại học theo
hướng nghề nghiệp ừng dụng, kỹ thuật viên trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp và dạy nghề. Tuy nhiên nhu cầu này chưa được tổng hợ, thiều thông tin
nhu cầu dự báo hang năm. Đặc biệt trong các doanh nghiệp ở các nước hiện nay
đang phải nhập khẩu lao động thì việc đào tạo theo nhu cầu của họ để xuất khẩu
lao động là hoàn toàn cần thiết.
- Nhu cầu của người học: là nhu cầu cá nhân của học sinh, sinh viên. Nhu
cầu này thường thay đổi theo nhu cầu của thị trường lao động rất khó xác định
nhưng phải được nghiên cứu và tôn trọng. Đó là nhu cầu của bản than người
học để nâng cao trình độ, học để tìm việc làm, để làm một nghề có thể sống
được, học để tự tạo việc lamg cho bản than và cho người khác. Bên cạnh đó là
nhu cầu của gia đình hướng cho con em mình lựa chọn ngành nghề theo truyền
thống của gia đình.
Ba nhóm nhu cầu này thường xuyên biến động, thay đổi theo từng giai
đoạn, phụ thuộc vào sự phát triển của KT – XH của đất nước tạo ra một tập hợp
có các vùng giao thoa với nhau. Tuỳ theo tầm nhìn và nhiệm vụ đào tạo, nhà
trường sẽ điều chỉnh số người học, ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với
xu thế phát triển, thoả mãn nhu cầu đào tạo của nhà nước, của doanh nghiệp và
nhu cầu của bản thân người học.
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các
trường
khỏi đói nghèo, trở thành nước công nghiệp sánh vai cùng các nước phát triển
trên thế giới (như Anh, Mỹ, Đức…) là mục tiêu hàng đầu và phải kiên quyết
thực hiện. Cho đến nay, sau những chặng đường dài của sự phát triển thì những
thành tựu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đông Á có được từ
chính sách phát triển chú trọng phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo của họ vẫn là những bài học quý giá mà chúng ta cần học tập mặc dù
việc thực hiện chính sách này ở nước ta là muộn so với nhu cầu thực tại của đất
nước.
Ngay từ thời kỳ đầu bước vào công nghiệp hoá (CNH), các nền kinh tế
Đông Á đã nhận thức một cách sâu sắc rằng con người là vốn quý nhất của xã
hội, là yếu tố quyết định của quá trình sản xuất. Điều đáng lưu ý là nhận thức
này không chỉ của Chính phủ mà đã trở thành nhận thức chung, thống nhất của
cả chính quyền các cấp lẫn người dân và các tầng lớp với các giới có liên quan.
Ở các nền kinh tế Đông Á, chiến lược phát triển nguồn nhân lực thông
qua GD – ĐT với chiến lược CNH có tính bổ xung và phù hợp khá cao. Hai loại
chính sách này không thể thành công được nếu như chính sách phát triển NNL
thông qua GD – ĐT không được hoạch định nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể
đặt ra cho mỗi giai đoạn của CNH. Cụ thể là vào thời kỳ chuẩn bị cất cánh công
nghiệp, các nền kinh tế Đông Á (ngay cả Nhật Bản) thường bị lạc vào tụt hậu xa
so với các nền kinh tế Tây Âu và Mỹ. Các nền nước ở Đông Á có nguồn nhân
lực dồi dào và rẻ mạt song lại rất thiếu các nguồn lực để có thể cùng mọt lúc
đáp ứng được rất nhiều nhu cầu cấp bách. Để có thể sớm rút ngắn khoảng cách
đó và đuổi kịp các nước phát triển, các nước Đông Á không có cách nào khác
để tiến hành thành công CNH là phải tiến hành tiếp thu công nghiệp nước
ngoài. Muồn làm được điều này, các nước này cần phải nhanh chóng nâng cao
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trình độ dân chúng và tạo ra được một đội ngũ lao động có trình độ đồng đều và
phù hợp để có thể tiếp thu và cải tiến được các công nghệ nhập khẩu. Trong tình
trung học.
Trong khi đó ở các nước ASEAN, việc mở rộng hệ thống giáo dục trung
học lại không theo sát quá trình CNH đã gây ra một vài rối loạn trên thị trường
lao động. Philippin mở rộng giáo dục vượt quá nhu cầu của CNH, hay không đi
kèm với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã gây ra tình trạng thất nghiệp có học
lớn. Do đó trên thực tế Philippin đã phải chọn giải pháp xuất khẩu lao động để
giải quyết việc làm cho số lao động dư thừa. Ngược lại, ở một cực khác các
nước như Thái Lan, Indonexia, Malayxia giáo dục trung học lại không đáp ứng
được nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng cao của nền kinh tế.
Như vậy, điểm mấu chốt khiến cho chính sách mở rộng giáo dục trung
học của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới hiệu quả hơn các nước ASEAN
là họ đã kịp thời nhận thấy được nhu cầu về lao động có kỹ năng cao ngày càng
tăng cho phát triển và nhanh chóng có những đổi mới trong quá trình đào tạo để
tạo ra những con người đáp ứng các nhu cầu đó.
Từ những năm 1980, do toàn cầu hoá kinh tế ngày càng trở thành một xu
thế nổi trội và do sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, nên khối lượng kiến thức
được sản sinh ra ngày càng nhiều và đổi mới ngày càng nhanh, đồng thời tính
cạnh tranh giữa các nền kinh tế và các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt. Thực
tế này đòi hỏi các nền kinh tế phải chuẩn bị được nguồn nhân lực chất lượng
cao không chỉ nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải cập nhập thường
xuyên các thành tựu khao học và có đầu óc sáng tạo, linh hoạt, dám nghĩ dám
làm, năng động, chấp nhận mạo hiểm. Trước những yêu cầu đòi hỏi đó các nền
kinh tế Đông Á đã tập trung nguồn lực tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thồng
giáo dục và đào tạo cả về cơ cấu, nội dung giảng dạy, tạo điều kiện tốt nhất cho
mọi người tham gia học tập và đổi mới kiến thức suốt đời.
Bên cạnh vấn đề giáo dục phổ thông, thì các nước trong khu vực Đông Á
còn quan tâm đến giáo dục nghề ban đầu, Các nước này cho rằng lực lượng lao
động có tay nghề là cầu nối giữa các nhà khoa học và sản xuất, là lực lượng chủ
14
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dạy học tại các trường Nhật Bản ngay từ tiểu học, phấn đấu tạo cho mọi công
dân đều có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh vào công việc chuyên môn của
mình khi đến tuổi trưởng thành trong tương lai không xa. Về lâu dài, tiếng Anh
sẽ dần được coi là ngôn ngữ chính thức thứ hai sau tiếng Nhật.
Cùng với việc cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo, Nhật Bản cũng tiến
hành đổi mới hệ thống quản lý xí nghiệp theo hướng chuyển từ chế độ coi trọng
thâm niên và kinh nghiệm công tác, coi trọng tính tập thể và phục tùng cấp trên
sang chế độ coi trọng hơn năng lực và thành tích cá nhân, đề cao tính độc lập và
sáng tạo của công nhân, khuyến khích mọi người hăng hái học tập để nâng cao
trình độ hơn là ỷ lại vào thâm niên phục vụ công ty và kinh nghiệm "sống lâu
lên lão làng".
Ở châu Âu, các doanh nghiệp thường kết hợp chặt chẽ với ngành giáo
dục để tạo thuận lợi cho các sinh viên từ nhà trường đến làm việc ở các doanh
nghiệp. Để phổ cập Internet trong dân chúng, Hội nghị thượng đỉnh EU tại
Lisbon, Bồ Đào Nha (23/3/2000) nhất trí quyết định tăng cường đầu tư đào tạo
nhân tài, thúc đẩy cải cách kinh tế xã hội, để EU thích ứng hơn nữa với "xã hội
tin học dựa trên cơ sở tri thức và đổi mới". Các nước này đã đặt mục tiêu, trong
vòng 10 năm tới, đuổi kịp nền kinh tế Internet Mỹ, xây dựng châu Âu thành khu
"khu vực kinh tế có sức sống mạnh nhất, có sức cạnh tranh nhất thế giới", với
một số biện pháp cụ thể như hoàn tất khung pháp lý cho thương mại điện tử, tất
cả các trường học đều có thể truy cập Internet; năm 2002, kết nối mạng với tốc
độ cao cho tất cả các trường đại học, thư viện và viện nghiên cứu.
Còn ở Trung Quốc thì trong nhiều năm qua, Đảng và chính phủ Trung
Quốc đã coi việc hỗ trợ, thu hút và sử dụng nhân tài là một nhiệm vụ chiến lược
quốc gia, trong đó giáo dục được coi là khâu quan trọng nhất. Trung Quốc đã
tiến hành cải cách và đổi mới mạnh mẽ quá trình phát triển giáo dục và hướng
giáo dục theo nhu cầu của hiện đại hoá, của thế giới và của tương lai, có nhiều