Đào tạo theo nhu cầu xã hội Những định hướng và giải pháp - Pdf 13

Chuyên đề tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
------*****------

CHUYÊN T TĐỀ Ố
NGHI PỆ
Đề tài:
ào t o theo nhu c u xã h iĐ ạ ầ ộ
Nh ng nh h ng và gi i phápữ đị ướ ả
Giáo viên hướng dẫn : TS. Bùi Đức Thọ
Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Thuỳ Dương
Lớp : Quản lý Công 46
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Hà Nội, tháng 06 năm 2008
MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT .................................................................................... 4
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 5
Chương I .............................................................................................................. 8
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU .................................. 8
1. Khái niệm về đào tạo theo nhu cầu ...................................................................................... 10
2. Phân loại đào tạo theo nhu cầu ............................................................................................. 12
3. Vai trò và đặc điểm của đào tạo theo nhu cầu ..................................................................... 12
3.1. Vai trò ........................................................................................................................... 12
3.2. Đặc điểm ....................................................................................................................... 14
4. Phân loại nhu cầu đào tạo ..................................................................................................... 15
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các trường ................................ 16
5.1. Những nhân tố tích cực ................................................................................................ 16
5.2. Những nhân tố tiêu cực ................................................................................................. 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 68
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
3
Chuyên đề tốt nghiệp
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
1. Giáo dục và Đào tạo GD – ĐT
2. Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
3. Đại học ĐH
4. Cao đẳng CĐ
5. Trung học chuyên nghiệp THCN
6. Trung cấp chuyên nghiệp TCCN
7. Trung học cơ sở THCS
8. Trung học chuyên nghiệp THCN
9. Dạy nghề DN
10. Trung học phổ thông THPT
11.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH – HĐH
12.Kinh tế - xã hội KT – XH
13.Công nghiệp hoá CNH
14.Việt Nam VN
15.Đại học quốc gia ĐHQG
16.Công nghệ thông tin CNTT
17. Công nhân CN
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
4
Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Một căn bệnh cốt tử trong nền Giáo dục và Đạo tạo (GD-ĐT) của ta hiện
nay là sự cách biệt quá lớn giữa đào tạo và sử dụng, giữa cung và cầu về nhân
lực, hay nói cách khác là kết quả GD-ĐT chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị
trường. Đây là căn bệnh đã được nói đến từ nhiều năm qua, từ ngày Đảng và

dụng các nguyên tắc của của thị trường trong đào tạo và sử dụng là rất cần thiết.
Nó không những tạo ra bước đệm giúp chúng ta nhanh chóng giải quyết vấn đề
nguồn nhân lực của hiện tại mà còn trở thành một động lực to lớn thúc đẩy phát
triển kinh tế trong tương lai.
Trong bài viết này, tôi đi sâu vào việc làm rõ thực trạng đào tạo theo nhu
cầu ở nước ta hiện nay và kết quả mà chúng ta nhận được từ những gì chúng ta
đã thực hiện. Qua đó thấy được con đường mà toàn nền giáo dục Việt Nam đã
chọn có đã đi theo đúng nhu cầu của xã hội hay chưa hay cần phải sửa đổi, bổ
xung cho hoàn thiện hơn nữa để con đường đó thực sự xuất phát từ nhu cầu xã
hội, để sản phẩm của nó thực sự đáp ứng nhu cầu về nguồn lao động chất lượng
cao tăng lên không ngừng của xã hội.
Mô hình này không còn phải là mới trên thế giới, nó đã được thực hiện từ
rất lâu rồi, ở rất nhiều quốc gia từ Châu Á đến Châu Âu, Châu Mỹ... Việc Việt
Nam đến nay mới nhận thấy hết ý nghĩa to lớn của đào tạo theo nhu cầu xã hội
trong vấn đề giải quyết nhu cầu lao động ngày càng cao của các doanh nghiệp
nói riêng và của xã hội nói chung và quyết định tiến hành triển khai rộng khắp
trong cả nước tuy là quá muộn song việc thực hiện nó không phải là không có ý
nghĩa bởi lẽ nếu không thực hiện thì không biết nền giáo dục nước nhà sẽ còn đi
đến đâu đặc biệt là hiện nay nước ta đã là thành viên của WTO thì nhu cầu về
nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường là rất lớn. Tuy nhiên để có
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
6
Chuyên đề tốt nghiệp
thể đi đến đích thành công của nó không phải điều dễ dàng, thực tế trên thế giới
cho thấy rõ không phải nước nào cũng thành công khi đi theo con đường này.
Với tính cấp thiết và quan trọng của vấn đề này nên tôi đã chọn đề tài:
“Đào tạo theo nhu cầu xã hội - Những định hướng và giải pháp”
Nội dung chính của bài viết gồm có 3 phần:
Chương I : Lý luận chung về đào tạo theo nhu cầu
Chương II : Thực trạng việc đào tạo theo nhu cầu ở Việt Nam

tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng giáo dục đào tạo phải trở
thành một hệ thống mở: mở đối với đại chúng, mở đối với thực tế kinh tế xã
hội, mở đối với thế giới và thời đại có như vậy chúng ta mới có thể hy vọng
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
8
Chuyên đề tốt nghiệp
trong tương lai không xa chúng ta có được nguồn lao động đáp ứng được các
yêu cầu của xã hội”.
Bên cạnh những quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước thì sự phát
triển của thị trường ngày một nhanh chóng cũng đòi hỏi phải có một phương
thức giáo dục mới ra đời thay thế cho phương thức giáo dục cũ còn nhiều hạn
chế để tạo ra một nguồn lao động vừa mạnh về số lượng vừa đáp ứng được yêu
cầu về chất lượng. Cụ thể là:
- Sự hình thành những ngành nghề mới đã đặt ra những yêu cầu mới đối
với lực lượng lao động, đòi hỏi người lao động phải được đào tạo, đào tạo lại
hoặc thường xuyên bồi dưỡng theo những chương trình được cá biệt.
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, do môi trường hoạt động của các loại
lao động, các doanh nghiệp và cá nhân người lao động có những nhu cầu đào
tạo, bồi dưỡng rất riêng biệt, thường đòi hỏi phải có những chương trình được
thiết kế riêng. Đối với cá nhân người lao động, các yếu tố chủ quan và kỳ vọng
phát triển cá nhân cũng đòi hỏi được đáp ứng bằng những chương trình đào tạo,
bồi dưỡng riêng biệt.
- Thị trường lao động ngày càng hoàn thiện và có quy mô rộng hơn. Nó
không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia, mà đã vươn ra phạm vi quốc tế. Cùng
với sự phát triển của thị trường này, sức ép đối với người lao động cũng tăng
lên, đòi hỏi họ phải không ngừng được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng để
chuẩn bị cho bước phát triển tiếp hoặc khi chuyển sang công việc khác
- Sự luân chuyển ngày càng nhanh và với quy mô ngày càng rộng làm
nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trở nên ngày càng lớn. Xuất phát từ trình độ, kinh
nghiệm và kỹ năng khác nhau, sự chuyển đổi kiến thức, kỹ năng của các cá

cái gì? Đào tạo như thế nào? Đào tạo bao nhiêu? được định hướng bởi nhu cầu
đào tạo xã hội.
Đào tạo cái gì? Trả lời được câu hỏi này chúng ta sẽ xác định được mục
đích của đào tạo như đào tạo ra lớp bác sỹ, kỹ sư, các nhà ngoại giao…, đồng
thời cũng xác định rõ những bác sỹ, kỹ sư, nhà ngoại giao đó phái có những kỹ
năng gì để có thể đảm nhận được công việc Ví dụ như để trở thành một nhà
ngoại giao đòi hỏi ngoài những yêu cầu cơ bản như có ý thức kỷ luật cao, có
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
10
Chuyên đề tốt nghiệp
chuyên môn, trình độ nghề nghiệp cao phải có kỹ năng sau:,có khả năng giao
tiếp tốt, biết nhiều thứ tiếng, năng động, có khả năng làm việc theo nhóm . Như
vậy khi tiến hành giáo dục và đào tạo chúng ta phải xác định được cụ thể rõ xã
hội cần những con người trong những lĩnh vực hoạt động gì, ở trình độ, kỹ năng
ra sao. Để tránh gây lãnh phí thời gian và tiền bạc thì việc điều tra, nghiên cứu,
nắm bắt được nhu cầu xã hội trong tương lai gần và xa là rất quan trọng.
Đào tạo như thế nào? Câu hỏi này giúp chúng ta tìm ra được để đào tạo
có hiệu quả cao thì phải có một cách thức, phương thức đào tạo như thế nào cho
đúng. Hiện nay, tại Việt Nam cũng như trên thế giới tồn tại rất nhiều phương
thức đào tạo trong nhà trường rất khác nhau như đào tạo theo kiểu máy móc, cổ
truyền thầy giảng gì trò biết nấy; hoặc học sinh tự nghiên cứu là chính đến lớp
thầy chỉ giải đáp những thắc mắc của học sinh mà thôi; rồi có cả hình thức đào
tạo trực tuyến….Tuy nhiên tùy theo điều kiện mỗi nơi mà trong trường hợp này
cách thức đào tạo đó là hiệu quả song khi áp dụng cho nơi khác lại nhận được
những kết quả trái ngược. Do đó để tìm ra được một phương thức đào tạo cho
hiệu quả cũng cần phải xét đến yếu tố con người và xã hội của bản thân khu vực
đó.
Đào tạo bao nhiêu? Bao nhiêu ở đây muốn nói đến số lượng con người
mà chúng ta sẽ đào tạo trong một thời kỳ sao cho đủ để đáp ứng nhu cầu của xã
hội. Để xác định được một cách chính xác con số này không phải là điều đơn

tạo dài hạn (từ 3 đến 6 năm), những lao động được tạo ra từ đây thường có trình
độ cao; khả năng học hỏi, tiếp cận những thành tựu của khoa học công nghệ,
thích ứng với sự thay đổi là nhanh. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là do thời
gian đào tạo là dài nên đòi hỏi việc dự báo phải có tính chính xác cao để tránh
sự lãng phí nguồn lực và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.
3. Vai trò và đặc điểm của đào tạo theo nhu cầu
3.1. Vai trò
Đào tạo theo nhu cầu xã hội có một vai trò rất quan trọng đối với sự phát
triển của quốc gia, dân tộc. Ý nghĩa của nó không chỉ tồn tại trong một giai
đoạn phát triển nhất định của lịch sử mà nó xuyên suốt quá trình tồn tại và phát
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
12
Chuyên đề tốt nghiệp
triển của mỗi quốc gia, dân tộc bởi lẽ xã hội luôn luôn thay đổi không ngừng và
đi lên theo hướng chuyển dần từ lao động thủ công, thô sơ sang lao động bằng
chất xám do đó nhu cầu của thị trường về nguồn lao động không còn đơn thuần
chỉ dừng lại ở đức tính tốt, cần cù, trung thành, có trách nhiệm như thời xa xưa
nữa mà họ còn phải có tính sáng tạo, có khả năng xử lý vần đề, có khả năng
phân tích, có tinh thần đồng đội, có khả năng ăn nói diễn đạt …Do đó nếu
không nhanh chóng nắm bắt được những đòi hỏi về số lượng và chất lượng của
các doanh nghiệp nói riêng và của xã hội nói chung về lao động thì hàng năm sẽ
xảy ra hiện tượng một lượng lớn lao động qua đào tạo sẽ thất nghiệp trong
ngành nghề này và thiếu cục bộ trong ngành nghề khác. Điều này gây lãng phí
rất lớn cho bản thân người lao động, nhà trường và xã hội. Như vậy phương
thức đào tạo theo nhu cầu sẽ khắc phục được hạn chế cơ bản của cách thức giáo
dục trước đây khi còn quá nặng nề, móc máy trong giảng dạy mà chưa chú tâm
đến chất lượng đầu ra.
Qua đây, tôi xin nêu ra những vai trò và ý nghĩa cơ bản của phương thức
đào tạo theo nhu cầu xã:
- Nó khắc phục sự thiếu hụt trình độ và kỹ năng của từng cá nhân so với

người lao động có thể làm được ngay những công việc ở những vị trí mà họ đã
dự tuyển, khi đó doanh nghiệp không phải tiến hành đào tạo lại và sẽ tiết kiệm
được rất nhiều chi phí.
3.2. Đặc điểm
Đào tạo theo nhu cầu xã hội không phải là một phương thức đào tạo mới
trên thế giới hiện nay, song đối với Việt Nam thì đây còn là một bài toàn khó
cần phải giải quyết kịp thời để có nhanh chóng tạo ra nguồn nhân lực tốt đáp
ứng nhu cầu đòi hỏi trước mắt và lâu dài của xã hội. Tuy nhiên để có thể thực
hiện tốt công tác này thì chúng ta cần hiểu rõ đào tạo theo nhu cầu cần xác định
cụ thể, rõ ràng nó cần những yếu tố nào, cách thức vận dùng điều hành những
yếu tố đó có khác gì so với trước đây để tránh việc đi sai hướng, lòng vòng,
kém hiệu quả. Dưới đây tôi xin nêu ra một số đặc điểm của phương thức đào tạo
theo nhu cầu:
- Chi phí cho đào tạo là khá lớn cả về tiền bạc và công sức bởi nó thường
đòi hỏi cơ sở đào tạo phải nghiên cứu kỹ nhu cầu của thị trường cũng như phải
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
14
Chuyên đề tốt nghiệp
đầu tư mua sắm những trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy và nghiên cứu
theo đúng những gì đang có trên thị trường, tiếp cận những phương pháp giảng
dạy tiên tiến trên thế giới
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng đa dạng phù hợp với nhu cầu của
người học và của các cơ quan sử dụng lao động.Khi tiến hành đào tạo theo nhu
cầu nhà trường sẽ kết hợp cùng doanh nghiệp để xác định rõ những kiến thức và
kỹ năng sinh viên cần có đối với mỗi chuyên ngành, qua đó tổng hợp lại và xây
dựng thành giáo trình giảng dạy trong nhà trường. Tuy nhiên bộ giáo trình này
chỉ được xây dựng hoàn chỉnh khi đã tổng hợp được những yêu cầu mà các
doanh nghiệp trong lĩnh vực đó cho là cần thiết cho đào tạo. Tránh trường hợp
xây dựng giáo trình cá thể cho từng doanh nghiệp cụ thể như vậy bộ giáo trình
sẽ chỉ áp dụng đơn thuần cho doanh nghiệp đó mà không áp dụng được trên

được, học để tự tạo việc làm cho bản thân và cho người khác. Bên cạnh đó là
nhu cầu của gia đình hướng cho con em mình lựa chọn ngành nghề theo truyền
thống của gia đình.
Ba nhóm nhu cầu này thường xuyên biến động, thay đổi theo từng giai
đoạn, phụ thuộc vào sự phát triển của KT – XH của đất nước tạo ra một tập hợp
có các vùng giao thoa với nhau. Tuỳ theo tầm nhìn và nhiệm vụ đào tạo, nhà
trường sẽ điều chỉnh số người học, ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với
xu thế phát triển, thoả mãn nhu cầu đào tạo của nhà nước, của doanh nghiệp và
nhu cầu của bản thân người học.
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đào tạo theo nhu cầu của các
trường
Việc đào tạo theo nhu cầu của xã hội là rất quan trọng tuy nhiên có rất
nhiều nhân tố ảnh hưởng làm cho kết quả của quá trình đào tạo có thể hoặc
không thể theo ý muốn chủ quan của người đào tạo và người sử dụng sản phẩm
qua đào tạo. Trong đó bao gồm cả những nhân tố tích cực và những nhân tố tiêu
cực
5.1. Những nhân tố tích cực
+ Có nhiều chính sách, chương trình, dự án của Nhà nước khuyến khích
các trường học, cơ sở đào tạo tiến hành đào tạo theo nhu cầu của xã hội như:
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
16
Chuyên đề tốt nghiệp
tăng nguồn vốn cấp phát cho các trường, cơ sở đào tạo được đầu tư các trang
thiết bị hiện đại phục vụ cho dạy và học, tăng cường liên kết giữa nhà trường và
doanh nghiệp …
+ Nhận thức của người dân về đào tạo theo nhu cầu ngày càng được nâng
cao. Kết quả của nền giáo dục cũ (nặng về lý thuyết xem nhẹ thực hành, các
trường chỉ tập trung đào tạo những gì mình có) đã khiến cho người học có tâm
lý băn khoăn, lo lắng trong vấn đề chọn trường, chọn nghề sao cho khi ra
trường có thể dễ xin việc nhất. Do đó nhu cầu mong muốn được biết rõ xã hội

Hầu hết các giáo trình giảng dạy cho sinh viên hiện nay đều là giáo trình cũ của
nhiều năm trước, tuy có sửa đổi, bổ sung xong vẫn chủ là chắp vá chứ ít có bộ
giáo trình hoàn chỉnh theo đúng nội dung của công việc hiện tại. Hoặc nhiều
giáo trình được dịch ra từ sách nước ngoài nên có đôi chỗ không hiểu chính xác
ý của tác giả dẫn đến tình trạng học sinh không hiểu được nội dung của bài. Và
đa số sách này cũng chủ yếu lá sách cũ từ vài năm trước đó chứ cũng chưa có
nhiều sách tham khảo mới nhất từ nước ngoài về hoặc có được thì cũng chỉ là
bản gốc nên nhiều khi do hạn chế về mặt tiếng nước ngoài nên học sinh ngại
không xem.
+ Đôi chỗ còn tồn tại một đội ngũ giảng viên có sức ỳ lớn, ngại đổi mới
phương pháp giảng dạy giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng cải
cách theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội.
6. Kinh nghiệm về đào tạo theo nhu cầu của một số nước và khu
vực trên thế giới
6.1. Khu vực Đông Á
Sự tăng trưởng của khu vực Đông Á trong những thập kỷ qua là kết quả
của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó không thể không kể đến chiến lược phát
triển nguồn nhân lực thông qua GD – ĐT nhằm mục tiêu đưa đất nước thoát
khỏi đói nghèo, trở thành nước công nghiệp sánh vai cùng các nước phát triển
trên thế giới (như Anh, Mỹ, Đức…) là mục tiêu hàng đầu và phải kiên quyết
thực hiện. Cho đến nay, sau những chặng đường dài của sự phát triển thì những
thành tựu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đông Á có được từ
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
18
Chuyên đề tốt nghiệp
chính sách phát triển chú trọng phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo của họ vẫn là những bài học quý giá mà chúng ta cần học tập mặc dù
việc thực hiện chính sách này ở nước ta là muộn so với nhu cầu thực tại của đất
nước.
Ngay từ thời kỳ đầu bước vào công nghiệp hoá (CNH), các nền kinh tế

tế.
Vào thời kỳ chuyển dịch cơ cầu công nghiệp từ các hoạt động giá trị gia
tăng thấp lên các hoạt động có giá trị gia tăng cao, nhu cầu nhân lực lúc này
không chỉ là lao động giản đơn tốt nghiệp tiểu học như giai đoạn trước nữa mà
đòi hỏi lao động phải có trình độ cao hơn. Do đó ngay sau khi đạt được phổ cập
giáo dục tiểu học, các nền kinh tế Đông Á đã chuyển sang mở rộng giáo dục
trung học, ban hành chính sách phổ cập giáo dục trung học và ưu tiên đầu tư
cho cấp học này. Nhật Bản và các nước công nghiệp đã rất thành công trong
việc thực hiện chính sách mới này là do họ đã có chính sách mở rộng và ưu tiên
đầu tư thích hợp khiến quy mô mở rộng giáo dục trung học đủ lớn; đồng thời
chính sách CNH thích hợp được đưa ra sau khi các nền kinh tế này thực hiện
thành công phổ cập giáo dục tiểu học, đã thu hút được hầu hết lực lực lượng lao
động vào quá trình sản xuất, do vậy đã giúp nền kinh tế nhanh chóng chuyển
sang hoạt động công nghiệp có giá trị giá tăng cao. Trong những năm 1970,
giáo dục trung học trong các nền kinh tế này đã nhận được phần đầu tư đáng kể
trong các khoản đầu tư cho 3 cấp giáo dục : tiểu học, trung học, đại học. Đồng
thời chính sách mở rộng giáo dục trung học đã nhấn mạnh không chỉ khía cạnh
văn hoá của giáo dục trung học mà còn cả khía cạnh giáo dục nghề nghiệp cấp
trung học.
Từ những năm 1980, do toàn cầu hoá kinh tế ngày càng trở thành một xu
thế nổi trội và do sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, nên khối lượng kiến thức
được sản sinh ra ngày càng nhiều và đổi mới ngày càng nhanh, đồng thời tính
cạnh tranh giữa các nền kinh tế và các doanh nghiệp ngày càng quyết liệt. Thực
tế này đòi hỏi các nền kinh tế phải chuẩn bị được nguồn nhân lực chất lượng
cao không chỉ nắm vững các kiến thức cơ bản mà còn phải cập nhập thường
xuyên các thành tựu khao học và có đầu óc sáng tạo, linh hoạt, dám nghĩ dám
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
20
Chuyên đề tốt nghiệp
làm, năng động, chấp nhận mạo hiểm. Trước những yêu cầu đòi hỏi đó các nền

Chuyên đề tốt nghiệp
"Digitalization of Education" (số hoá giáo dục) nhằm phổ cập máy tính và
Internet tại tất cả các cấp học phổ thông, kể cả các trường dành cho người
khuyết tật vào năm tài chính 2001, và chuẩn bị môi trường và điều kiện để có
thể sử dụng được máy tính vào việc dạy và học ở tất cả các trường công lập vào
năm 2005.
Đồng thời, chính phủ Nhật Bản cũng đang xúc tiến mở các khoá tiếng
Anh trên khắp cả nước và tăng cường mời các thầy giáo tiếng Anh bản xứ vào
dạy học tại các trường Nhật Bản ngay từ tiểu học, phấn đấu tạo cho mọi công
dân đều có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh vào công việc chuyên môn của
mình khi đến tuổi trưởng thành trong tương lai không xa. Về lâu dài, tiếng Anh
sẽ dần được coi là ngôn ngữ chính thức thứ hai sau tiếng Nhật.
Cùng với việc cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo, Nhật Bản cũng tiến
hành đổi mới hệ thống quản lý xí nghiệp theo hướng chuyển từ chế độ coi trọng
thâm niên và kinh nghiệm công tác, coi trọng tính tập thể và phục tùng cấp trên
sang chế độ coi trọng hơn năng lực và thành tích cá nhân, đề cao tính độc lập và
sáng tạo của công nhân, khuyến khích mọi người hăng hái học tập để nâng cao
trình độ hơn là ỷ lại vào thâm niên phục vụ công ty và kinh nghiệm "sống lâu
lên lão làng".
Trong khi đó ở các nước ASEAN, việc mở rộng hệ thống giáo dục trung
học lại không theo sát quá trình CNH đã gây ra một vài rối loạn trên thị trường
lao động. Philippin mở rộng giáo dục vượt quá nhu cầu của CNH, hay không đi
kèm với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã gây ra tình trạng thất nghiệp có học
lớn. Do đó trên thực tế Philippin đã phải chọn giải pháp xuất khẩu lao động để
giải quyết việc làm cho số lao động dư thừa. Ngược lại, ở một cực khác các
nước như Thái Lan, Indonexia, Malayxia giáo dục trung học lại không đáp ứng
được nhu cầu về lao động có kỹ năng ngày càng cao của nền kinh tế.
Như vậy, điểm mấu chốt khiến cho chính sách mở rộng giáo dục trung
học của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới hiệu quả hơn các nước ASEAN
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46

Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
23
Chuyên đề tốt nghiệp
trong một số lĩnh vực trọng điểm như cơ khí, phát triển nông thôn và công nghệ
thông tin lên ngang tầm thế giới. Đồng thời, ngoài việc nâng cao chất lượng đào
tạo trong nước, Trung Quốc còn có chính sách khuyến khích thanh niên đi du
học và nghiên cứu ở nước ngoài để sau đó trở về xây dựng đất nước.
Như vậy các nước Đông Á, Châu Âu và Trung Quốc ngay từ những ngày
đầu tiến hành CNH nền kinh tế đều đã coi con người là nhân tố quan trọng và
cần được đào tạo không chỉ về số lượng mà cả chất lượng theo nhu cầu thị
trường. Tuy cách thức đào tạo của mỗi nước là khác nhau như các nước Đông Á
gắn đào tạo theo sát nhu cầu của thị trường trong từng giai đoạn phát triển, các
nước Châu Âu tạo mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nhà trường,
Trung Quốc tiến hành cải cách mạnh mẽ giáo dục theo nhu cầu của hiện đại
hoá, của thế giới và của tương lai song tựu chung lại các nước đều gắn đào tạo
theo nhu cầu xã hội. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến
cho nền kinh tế của các nước này phát triển vượt bậc.
Trên đây là những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đào tào theo
nhu cầu xã hội ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên không phải mọi bài học
đó đều có thể áp dụng vào Việt Nam một cách thành công. Vì vậy trong quá
trình học hỏi chúng ta phải xác định rõ những bài học nào phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh của đất nước ta để vận dụng một cách tốt nhất, tránh tình trạng sao
chép một cách máy móc.
Bùi Thị Thuỳ Dương - Quản lý công 46
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương II
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM HỢP TÁC CHUYÊN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status