PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Keo lưỡi liềm có tên khoa học là Acacia crassicarpa A.cunn ex benth,
thuộc họ trinh nữ (Mimosaceae) xuất xứ từ Australia. Rễ phát triển mạnh, có
nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất rất
tốt, đặc biệt là các vùng cát ven biển.
Để cây keo lá liềm sinh trưởng và phát triển tốt ngoài các biện pháp
kỷ thuật lâm sinh khác nhau thì công tác quản lý sâu bệnh có một vai trò rất
quan trọng.
Như chúng ta đã biết, trong thế giới tự nhiên các loài động thực vật và vi
sinh vật chung sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động, xâu chuỗi và
gắn kết với nhau trong sự tồn tại chung. Những tác động tiêu cực hay tích cực
vào một thành phần hay yếu tố nào đó có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng tới cả
hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Con người với những tác
động vào rừng như chặt phá rừng bừa bãi; dùng thuốc trừ sâu… không những
gây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng lớn đến khả năng
xuất hiện và phát dịch của sâu bệnh hại.
Trong các hệ sinh thái, hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ổn định cao,
không có sinh vật gây hại nghiêm trọng và nó có thể tự điều chỉnh để cân bằng.
Tuy nhiên, cũng có nơi xuất hiện sâu bệnh hại rừng tự nhiên thuần loài và cũng
có trường hợp phải can thiệp để giảm thiểu ảnh hưởng của sâu bệnh hại. Mặc dù
vậy, việc diệt trừ sâu bệnh hại rừng ở đây là ít có ý nghĩa. Đối với hệ sinh thái
rừng trồng tính bền vững và ổn định kém, vì vậy rất dễ bị tổn thương khi bị các
tác động bất lợi, do đó việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng là cần thiết và có ý
nghĩa rất quan trọng đối với sự sinh trưởng cũng như tồn tại của cây rừng. Hàng
năm, dịch sâu bệnh hại rừng trồng đã gây nên những tổn thất lớn không những
làm giảm chất lượng rừng, làm chết cây ước tính thiệt hại nhiều tỷ đồng mà còn
làm suy thoái môi trường. Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ hai
ngày 5/12/1997, vấn đề sâu bệnh hại rừng là vấn đề sinh học. Rừng càng được
trồng trên quy mô lớn là những điềukiện thuận lợi về thức ăn cho sâu bệnh phát
sinh và phát triển, tần suất dịch sẽ cao,hậu quả khó có thể lường trước được.
Quy mô của khảo nghiệm phụ thuộc vào phân bố địa lý và mức độ biến dị
của loài. Loài càng có phạm vi phân bố rộng trên nhiều điều kiện lập địa khác
nhau càng có nhiều xuất xứ tham gia khảo nghiệm, ngược lại, loài có phạm vi
phân bố hẹp sẽ có ít xuất xứ tham gia khảo nghiệm. Số xuất xứ tham gia khảo
nghiệm thường là 10 - 30 xuất xứ.
Kích thước ô nhỏ, song đủ để theo dõi, số cây trong mỗi ô là 25 cây (5 x 5),
có thêm 1 hàng đệm.
Số lần lặp là 3 - 4 lần.
Thời gian theo dõi khảo nghiệm 1/4 - 1/2 luân kỳ, các chương trình cải
thiện giống phải được xây dựng cho từng loài cây cụ thể trong từng điều kiện
sinh thái cụ thể và phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cần thiết. Như
vậy có thể nói ba yếu tố chính để tạo nên năng suất rừng là giống được cải thiện,
các biện pháp kỹ thuật thâm canh và điều kiện sinh thái phù hợp.
3
Cuối cùng cần phải nói thêm rằng bất cứ một nền sản xuất nông lâm
nghiệp nào thì giống cũng phải đi trước một bước. Riêng đối với cây rừng thì
thời gian đi trước trồng rừng ít nhất phải 5 - 10 năm.
Theo Davidson, 1996 ảnh hường của cải thiện giống đến sinh trưởng, tăng
trưởng thể tích gỗ của các loài keo ngay từ giai đoạn vườn ươm: Năm 1 ở vườn
ươm tỷ lệ tham gia của việc cải thiên giống chiếm 15%; năm 2 ở rừng trồng tỷ lệ
20% và năm 3 tỷ lệ tham gia đến 50%. Vì vậy chọn lọc giống/dòng loài keo lá
liềm có thể thực hiện trong vòng 3 năm đầu đã đảm bảo độ tin cậy cho phép.
Theo Molotcov (1987) thì chọn giống có mục tiêu là một nét đặc trưng
của chọn giống lâm nghiệp hiện đại trong những thập niên tới. Loài keo lá liềm
trồng trên vùng đất cát ven biển muc tiêu kinh doanh chính là phòng hộ bảo vệ
môi trường kết hợp mục tiêu kinh doanh gỗ,củi vì vậy chỉ tiêu cần quan tâm
trong cải thiện giống là khả năng chịu nóng, hạn và sức sinh trưởng của loài.
Theo Pirags (1985) Giai đoạn chọn cây trội (tức cây giống) để xây dựng
vườn giống bằng cây ghép và bằng cây hạt. Kết quả của giai đoạn này thường
nâng sản lượng của rừng trồng trong đời sau lên 10 - 15% so với rừng trồng từ
là nền tảng của một chương trình chọn giống.
Theo Dubinin (1971) Nếu trong nông nghiệp người ta ít khi sử dụng trực
tiếp cây lai đời thứ nhất (F
1
) mà phải qua một quá trình chọn lọc để đào thải
những cá thể mang gen lặn bất lợi hoặc dùng ưu thế lai đời F
1
bằng cách lợi
dụng dòng bất thụ đực để lai giống, thì trong lâm nghiệp lại phải dùng trực tiếp
ưu thế lai của đời F
1
thông qua nhân giống sinh dưỡng bằng hom hoặc nuôi cấy
mô phân sinh, tiến hành khảo nghiệm dòng vô tính để chọn ra những dòng cây
lai tốt nhất, sau đó lại dùng nhân giống hom hoặc nuôi cấy mô phân sinh để phát
triển giống vào sản xuất.
Do những khó khăn trên mà hướng chọn giống trong lâm nghiệp chủ yếu
là sử dụng những biến dị hoặc những thể đột biến tự nhiên, được chọn lọc tự
nhiên giữ lại, và đã thích ứng với hoàn cảnh của từng vùng. Chính vì vậy mà
trong những năm gần đây, việc khảo nghiệm xuất xứ, một phương pháp vận
dụng dãy cùng nguồn trong biến dị di truyền, sử dụng các kết quả của sự phát
sinh biến dị và chọn lọc tự nhiên trong nhiều thế hệ, kết hợp với việc chọn lọc
cây trội lai giống và nhân giống sinh dưỡng, đã được áp dụng rộng rãi.
Cuối cùng, cần nói thêm rằng, ngày nay mặc dù công nghệ di truyền đã
phát triển đến đỉnh cao, người ra đã có thể xây dựng được công nghệ ghép gen
để tạo nên những cây trồng có tính chất tổng hợp, đã nghĩ đến việc tạo ra các mô
hình không có trong tự nhiên như tạo giống đại mạch có khả năng tổng hợp
được đạm khí quyển và tổng hợp được trong hạt của nó các protein quý giá của
Đậu tương (A. Sizonov, 1984). Xian Hanchen (1989) đã dùng tần số siêu cao để
chuyển tải thành công các thông tin di truyền cho những cơ thể khác loài. Song
phương pháp chọn giống cổ điển vẫn không hề giảm ý nghĩa của nó. Có điều
Theo Đặng Thái Dương 2008, Sinh trưởng đường kính của 4 loài keo gai
đoạn 9 tháng tuổi trong mô hình là có khác nhau. Giá trị trung bình về đường
kính gốc của 105 cây mỗi loài thì loài keo lưỡi Liềm là lớn nhất 3,13 cm và thấp
nhất là keo lá tràm 1,46cm. Qua kết quả phân tích phương sai cho thấy: + Ftính
= 6957,3> F
05
= 4,75 điều này chứng tỏ sinh trường về đường kính gốc D
0
của
các loài keo ở mô hình này đã có sự sai khác nhau rõ rệt với độ tin cậy 95%.
6
+ Kết quả tính toán tiêu chuẩn t xác định loài có sinh trưởng đường kính
tốt nhất được kết quả t
tính
= 5,5 > t
05
= 4,3, cho thấy sinh trưởng đường kính của
loài keo lưởi liềm lớn hơn rõ rệt so với loài keo lai. Dựa vào số liệu và kết quả
xử lý thống kê cho thấy sinh trưởng về đường kinh sgốc của loài keo lưỡi liềm là
lớn nhất. Do đó ta chọn loài keo có đường kính gốc trung bình lớn nhất là keo
lưỡi liềm sinh trưởng về chiều cao bình quân số cây của 3 lần lặp thì keo lai là
lớn nhất (1,4 cm) và thấp nhất là keo lá tràm (0,78 cm).
Qua kết quả phân tích phương sai cho thấy: + F
tính
= 723,9 > F
05
= 4,75
điều này chứng tỏ sinh trường về chiều cao vút ngọn của các loài keo ở mô hình
này đã có sự chênh lệch với độ tin cậy ≥ 95%.
+ Xác định loài sinh trưởng chiều cao lớn nhất, tiến hành so sánh chiều
Tỷ lệ sống của rừng trồng là một chi tiêu rất quan trong trong việc đánh
giá sự thành công hay thất bại của công tác trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng
trên vùng đất cát ven biển. Hiện nay số loài cây lâm nghiệp tồn tại được trên
vùng cát trắng ven biển còn rất ít, lý do chủ yếu do tính chất khắc nghiệt của đất
cát và khí hậu vùng cát làm cho cây trồng không thể chịu đựng nỗi. Tỷ lệ sống
7
của các loài keo trồng trong mô hình là khá cao: keo tai tượng đạt 75%, keo lá
tràm là 85%, keo lai 95% và cao nhất là keo lưỡi Liềm 96%. Qua nghiên cứu
thấy rằng kỹ thuật làm đất, chế độ chăm sóc và trồng dặm sau thời kỳ lạnh nhất
trong năm (tháng 1-3) đã đảm bảo tỷ lệ sống của cây trồng. Các loài keo có khả
năng chịu nóng và chịu hạn tốt vì vậy trong thời kỳ nóng nhất trong năm (tháng
5,6,7) tỷ lệ sống của rừng keo vẫn ổn định.
Các loài keo vùng thấp là những loài có diện tích trồng rừng lớn nhất ở
nước ta. Có thể nói gần 40% diện tích trồng rừng ở vùng đồi thấp hiện nay là
keo vì thế nghiên cứu chọn giống cho các loài keo vùng thấp từ khâu khảo
nghiệm xuất xứ đến chọn lọc cây trội, lai giống và khảo nghiệm giống là có ý
nghĩa rất thiết thực trong sản xuất lâm nghiệp.
Đầu những năm 1980 bốn loài keo vùng thấp là keo lá tràm, keo tai tượng
(A. mangium), keo lá liềm (A. crassicarpa), và keo nâu (A. alaucocarpa). đã
được nhập trồng thử tại Ba Vì (Hà Tây), Hóa Thượng (Thái Nguyên) và Trảng
Bom (Đồng Nai). Đánh giá sơ bộ năm 1991 đã thấy trong 4 loài keo được trồng
thử năm 1982 tại Ba Vì và năm 1984 tại Hóa Thượng thì ba loài keo có sinh
trưởng nhanh là keo tai tượng, keo lá liềm (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa,
1991). tại Đông Hà đã trồng các lô hạt của CSIRO (Australia) gồm 13 xuất xứ
keo lá tràm (A. auriculiformis), 9 xuất xứ Keo lá liềm (A. crassicarpa). Đây là
những nguồn vật liệu rất có ý nghĩa và thuận lợi cho những nghiên cứu tiếp
theo. Keo lá liềm (A. crasscicarpa) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia, có phân bố ở vĩ độ 8 - 20o Nam, độ cao 5 - 200 m trên mặt
biển, lượng mưa 1000 -3500 mm/năm, gỗ có tỷ trọng 0,6 - 0,7 thích hợp cho xây
dựng, làm đồ mộc (Doran, Turnbull, et.al, 1997). Keo lá liềm là loài cây mới
O đều tăng, như vậy keo lưỡi
liềm đã làm tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, đáp ứng được nhu
cầu cải tạo môi trường đất cát nội đồng. Các chất dinh dưỡng khoáng trong đất
tăng là do rễ keo lưỡi liềm có rất nhiều nốt sần có khả năng cố định Nitơ tự do
từ khí trời, ngoài ra cây có hệ tán lá phát triển rất mạnh, vật rơi rụng rất nhiều,
được vi sinh vật phân huỷ, trả lại chất hữu cơ cho đất.
• Vi sinh vật hoạt động và tổng số vi sinh vật đều tăng sẽ làm tăng
khả năng cải tạo đất thông qua hoạt động của chúng bằng phân huỹ chất
hữu cơ từ cành khô lá rụng, cố định đạm, hấp phụ lân khó tiêu để trả lại
cho đất P
2
O
5
dễ tiêu.
+ Tại các rừng trồng keo lá liềm trên cát nội đồng, qua kiểm tra rất nhiều
điểm trên đất trống trong rừng, kể cả những nơi khảong cách 3-4m so với gốc
cây gần nhất đều phát hiện thấy rễ của keo lưỡi liềm có mang rất nhiều nốt sần.
Điều này chứng tỏ rễ của keo lưỡi liềm vươn rất xa, khả năng sinh trưởng tốt và
khả năng cải tạo đất cũng rất tốt.
+ Trên đất rừng keo lưỡi liềm khối lượng lá rụng rất lớn, che phủ đất
và cải tạo đất tốt, do đó keo lưỡi liềm có khả năng cải tạo đất cát nội đồng tốt,
vừa thích hợp được với điều kiện úng ngập vừa thích hợp cho điều kiện cát
bay cục bộ.
+ Bên cạnh rừng trồng keo lá liềm trước đây thường bị úng ngập hoặc cát
bay, nên hầu hết người dân bỏ hoang, nay hầu như không còn hiện tượng cát
bay, người dân đã trồng được các loại hoa màu như: Ngô, Lạc, Dưa hấu, Dưa
9
chuột Thậm chí trước đây một số vùng trũng trong rừng không thể trồng rừng
được, nay người dân cũng xin xen vào giữa để trồng các loại hoa màu đó.
Ở Việt Nam, keo lưỡi liềm được trồng ở hầu khắp các tỉnh từ Bắc vào
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Keo lưỡi liềm (còn gọi là keo lá liềm vì lá có hình lưỡi liềm) có tên khoa
học là Acacia orassicarpa.
Thuộc ngành Hạt kín.
Lớp Hoa Hồng (Rosidea).
Bộ đậu (Fabaceae).
Họ Trinh nữ (Mimosaceae).
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung và
phương pháp sau:
3.3.1. Nội dung
1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực ngiên cứu.
2. Tìm hiểu tình hình chung về sâu bệnh hại keo.
11
3. Nghiên cứu một số sâu bệnh hại keo lưỡi liềm giai đoạn vườn ươm và
rừng trồng.
4. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài sâu ăn lá ở keo lưỡi liềm trên
vùng cát ven biển.
5. Đề xuất một số giải pháp phòng trừ sâu bệnh.
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu:
3.3.2.1.Điều tra sơ bộ:
a. Đối với vườn ươm cây lâm nghiệp:
Vườn ươm cây lâm nghiệp ở nước ta thường có quy mô nhỏ, không cố
định, nằm gần hiện trường trồng rừng. Các nhóm sâu hại thường gặp ở vườn
ươm là: sâu hại rễ, mầm non, sâu hại lá và sâu hại thân cành. Trong thực tế đối
với loại vườn ươm nhỏ thường bỏ qua các bước điều tra sơ bộ mà tiến hành điều
tra tỉ mỉ ngay. Một vườn ươm được quản lý, kinh doanh tốt sẽ không phải điều
tra sơ bộ về sâu bệnh.
Để điều tra sơ bộ ở vườn ươm ta dùng phương pháp quan sát trực tiếp. Cụ
thể đối với vườn ươm có diện tích dưới 5ha thì quan sát vườn bằng cách đi theo
- Phương pháp xác định tuyến điều tra:
Tuyến điều tra phải giúp ta nhanh chóng có được kết quả đại diện cho khu
vực điều tra. Vì thế yêu cầu tuyến điều tra phải đi qua các dạng cây trồng chính,
các dạng địa hình, các dạng thực bì và thời gian trồng khác nhau. Trong một khu
vực điều tra không nên bố trí quá nhiều tuyến vì việc xác định tuyến ngoài thực
địa yêu cầu phải đơn giản. Nếu có thể được chỉ nên bố trí một tuyến điều tra dài
xuên suốt khu vực điều tra. Các hình thức bố trí tuyến điều tra thường gặp là:
tuyến song song, tuyến chữ chi ( díc dắc), tuyến nan quạt, tuyến xoắn trôn ốc…
Người điều tra cần căn cứ vào đặc điểm địa hình, đặc điểm rừng để bố trí cho
hợp lí. Nếu phải điều tra trên nhiều tuyến thì khoảng cách giữa các tuyến là 200-
500m. viếc lợi dụng các đường mòn, ranh giới lô, khoảnh trong thiết kế tuyến
điều tra sẽ có lợi cho định hướng khi đi trên tuyến điều tra sau này.
Trên tuyến điều tra cứ cách 100m lại xác định một điểm điều tra. Điểm
điều tra phải nằm trên đất có rừng. Nếu điểm điều tra rơi đúng đường mòn, ranh
giới lô hay khoảng trống người điều tra phải rẽ sang bên trái hoặc ben phải
vuông gốc với tuyến điều tra và cách tuyến điều tra 20m để xác định một điểm
điều tra khác thay thế. Tại điểm điều tra, quan sát một diện tích rừng có bán kính
10m ( hay chọn 30 cây gần điểm điều tra nhất) để ước tính về mật độ sâu bệnh
hại, mức độ bị hại và tình hình phân bố của những cây và cành bị sâu bệnh hại.
Các tuyến điều tra được vạch trên bản đồ, đặt tên hay đánh số thứ tự. số
lượng điểm điều tra cũng cần được xác định và đánh số thứ tự để có thể chuẩn bị
các biểu mẫu và dụng cụ cần thiết khác. Cần có sổ ghi đặc điểm như độ dài, địa
danh, loài cây… của tuyến điều tra.
13
- Điều tra trên điểm điều tra:
Trong điểm điều tra, xác định tỉ lệ cây có sâu vè mức độ gây hại của
chúng. Để đánh giá mức độ bị hại vè tình hình phân bố của các cây bị hại,
thường dựa vào các chỉ tiêu sau:
+ Mức độ sâu hại lá:
• Không: Tán lá không bị hại
Độ
tàn
che
Tỉ lệ cây có sâu hại(P%) hay
mức độ bị hại(R%)
Hại
lá
Hại
thân
cành
Hại
ngọn
Hại
hoa
quả
Hại
rễ
1
2
14
3.3.2.2. Điều tra tỉ mỉ:
a. Điều tra tỉ mỉ ở vườn ươm:
Ở vườn ươm cây lâm nghiệp thường dùng phương pháp điều tra trực tiếp
để nắm chính xác thành phần, mực độ và mức độ gây hại của sâu bệnh. Để trên cơ
sở đó rút ra loài chủ yếu phục vụ cho công tác phòng trừ sâu bệnh hại. Tại vườn
ươm thường không lập ô tiêu chuẩn mà điều tra sâu bệnh hại cây theo từng loài
cây, đôi khi theo từng đọ tuổi, từng phương thức tạo cây và chăm sóc của một loài
cây ( ví dụ : cây rễ trần, cây có bầu, phương thức bón phân, che nắng…).
- Điều tra thành phần sâu hại thân cành:
Các loài cây ở vườn ươm thường được giao hay cấy theo hàng trong
Tên loài
sâu
Số lượng sâu bệnh hại
Ghi chú
Trứng Sâu non Nhộng
Trưởng
thành
1
2
3
…
30
Mẫu bảng kết quả điều tra sâu hại lá, thân cành ở vườn ươm gieo cấy
theo luống
Tên vườn ươm:
Loài cây:
Ngày điều tra: Người điều tra:
STT ô
dạng
∑cây
trong
Tên
loài
Số cây
có sâu
Số lượng sâu bệnh hại Ghi
chú
Trứng Sâu
non
Nhộng Trưởng
2
…
30
2
Căn cứ vào số liệu điều tra ở bảng 4, tính chỉ số bị hại của các loài sâu
theo công thức sau:
R% = ( ∑n
i
v
i
).100/NV
Trong đó: R% là chỉ số hại của từng loài tính theo %.
N
i
là số lá bị hại ở cấp hại i
V
i
là trị số của cấp hại hại I ( v
i
= 0, 1, 2, 3, 4)
N là tổng só lá quan sát trên một cây ( N = ∑n
i
)
V là trị số cấp bệnh cao nhất ( ở trường hợp nay V = 4)
Sau đó tính chỉ số hại trung bình cho các cây điều tra đối với từng loại sâu
bệnh và từng loài cây trong toàn vườn.
Cuối cùng căn cứ vào R% trung bình của từng loại sâu và từng loài cây
đối chiếu với các tiêu chuẩn dưới đây để đánh giá mức độ hại.
+ Hại nhẹ: R%
tb
cây bị
Độ
sâu
Tên loài sâu
hay thiên
Số lượng sâu hại và thiên địch
Trứng
Sâu
non
Nhộng Tr.thành
Căn cứ vào số liệu điều tra bảng 5 để tính ra mật độ ( sâu hại và thiên
địch), tỉ lệ có sâu của từng loài sâu hại và tỉ lệ cây bị hại trung bình của 1m
2
.
b. Điều tra tỉ mỉ ở rừng trồng:
Điều tra tỉ mỉ ở rừng trồng là một nội dung quan trọng nhất của công tác
điều tra. Các phương pháp điều tra được thực hiện trong các ô tiêu chuẩn, trên
tuyến điều tra hay trong một lô mẫu. Để xác định số lượng sâu hại có thể dùng
phương pháp đếm trực tiếp hay phương pháp gián tiếp.
- Điều tra sâu hại lá và thiên địch:
+ Chọn mẫu điều tra trong ô tiêu chuẩn:
• Chọn mẫu điều tra trong ô tiêu chuẩn:
Có thể chọn ô tiêu chuẩn bằng các phương pháp như: phương pháp ngẫu
nhiên hệ thống, phương pháp bốc thăm hoặc phương pháp 5 điểm.
+ Phương pháp ngẫu nhiên hệ thống: nếu rừng trồng theo hàng, cứ cách 1
hàng điều tra 1 hàng. Trong hàng được chọn, cứ 2-5 cây điều tra 1 cây tùy theo
số lượng cây tiêu chuẩn cần có.
+ Phương pháp bốc thăm: nếu rừng không trồng thành hàng, phải đánh số
toàn bộ số cây của ô tiêu chuẩn bằng sơn, phấn hoặc băng keo. Sau đó lấy ngẫu
nhiên một số lượng cây cần thiết bằng cách bốc thăm để điều tra miễn sao số cây
1 2 3 4 5 6
1 1
2
…
…
10
- Điều tra thân cây và xung quanh gốc cây:
Một số loài sâu có tập tính qua đông hay ban ngày ẩn nấp trong kẻ nứt vỏ
cây hoặc ban ngày ẩn nấp dưới lớp lá khô quanh gốc cây, một số khắc hóa
nhộng trên và xung quanh gốc cây. Do vậy cần phải điều tra thống kê thành
phần loài và số lượng cá thể từng loài ở các vị trí đó. Kết quả thu được sẽ gộp
chung với kết quả điều tra trên phần tán của cây tiêu chuẩn tương ứng.
19
Khi điều tra thân cây, chủ yếu tập trung cho đoạn thân trong phạm vi cách
mặt đất 2m. Điều tra xung quanh gốc cây thì chỉ nên tập trung trong khu vực
cách gốc cây 60cm.
- Điều tra mức độ hại lá của sâu:
Đối với cây có chiều cao dưới 2.5m có thể ước lượng mức độ bị hại của
cả cây tiêu chuẩn.
Đối với cây lá rộng, tùy theo mức độ phân bố của các lá trên cành và mức
độ chính xác yêu cầu mà có thể điều tra phân cấp tất cả các lá trên cành hoặc
trên mỗi cành chỉ điều tra phân cấp 5-6 lá phân bố tương đối đều trên cành bằng
cách chọn 2 lá ở gốc cành, 2 lá ở giữa cành và 1-2 lá ở ngọn cành để quan sát.
Đối với cây lá kim, trên các cành điều tra chọn hệ thống khoảng từ 5-6
túm lá để cắt khỏi tán lá. Bằng cách rút mẫu đều theo túm lá để lấy được một
nắm lá vừa nắm chặt trong tay từ những cành đã thu mẫu, chú ý lấy đủ cả những
gốc lá đã bị sâu ăn trụi. Rãi nắm lá trên một tờ giấy báo và xếp các lá có gốc đều
đặn và nhô ra khỏi mép giấy 1cm; cuộn tờ giấy báo kín phần còn lại của lá. Từ
phía gốc lá, rút ngẫu nhiên 30-50 cụm bao lá ra khỏi giấy để đánh giá mức độ
tổn hại của lá bằng cách phân cấp lá bị hại dựa vào chiều dài phần lá đã bị hại so
i
2
1
2
…
5
Căn cứ vào số liệu điều tra tính chỉ số hại R% cho từng loại sâu hại ở từng
cây điều tra theo công thức:
R% = (∑n
i
v
i
).100/NV
Trong đó: R% là chỉ số hại của từng loài tính theo %.
n
i
là số lá bị hại thuộc cấp hại i
v
i
là trị số cấp hại i
N là tổng số lá quan sát của một cây
V là trị số cấp bệnh cao nhất ( V=4).
Sau đó tính chỉ số bị hại trung bình của từng loài sâu của toàn OTC hay
của toàn lâm phần theo phương pháp bình quân cộng.
- Điều tra thành phần, số lượng sâu hại thân cành:
Sâu hại thân cành phần lớn có giai đoạn nằm sâu bên trong thân và cành,
rất khó phát hiện, đặc biệt khi chúng mới xâm nhập. Một số nhóm loài như bọ
xít, rệp chích hút nhựa cây chỉ để lại dấu vết rất nhỏ rất khó thấy. Do đó điều tra
sâu hại thân cành thường được kết họp với điều tra thành phần, số lượng và điều
tra mức độ hại.
hành điều tra trên các ô dạng bản.
Diện tích của ô dạng bản là 1m
2
. Số lượng ô dạng bản phụ thuộc vào yêu
cầu của độ chính xác. Để điều tra sâu dưới đất thường mỗi ô tiêu chuẩn điều tra
5 ô dạng bản là đủ. Các ô dạng bản được bố trí theo phương pháp đường chéo
trong ô tiêu chuẩn: 4 ô ở 4 gốc và 1 ô ở trung tâm. Dụng cụ cần thiết để diều tra
sâu hại đất là thước mét, cuốc xẻng, cào thưa, rây đất và mẫu biểu.
22
Mẫu điều tra thành phần, số lượng các loài sâu dưới đất rừng
Số hiệu OTC: Ngày điều tra: Người điều tra:
STT
ô
Độ
sâu
Loài
sâu
Số lượng sâu hại
Trứng Sâu non Nhộng
Trưởng
thành
1
Thảm
mục
10cm
20cm
30cm
2
3
Khi đã dùng thước mét xác định xong vị trí của ô dạng bản, trước hết
- Từ 107
0
18
’
00
’’
đến 108
0
00
’
00
’’
độ kinh Đông
Phía Bắc giáp huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng
Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp các xã còn lại của các huyện trong vùng dự án.
Tổng diện tích tự nhiên vùng dự án là 55.713,6 ha.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Khu vực nghiên cứu bao gồm 3 vùng:
a. Vùng cát di động ven biển: nằm giáp với phá Tam Giang và giáp biển
Đông, tập trung chủ yếu phía bờ biển, chia làm 2 vùng sử dụng đất khác nhau:
- Vùng bãi cát ven biển với những cồn thấp, chỉ cao hơn mặt nước biển
vài mét, nằm gần bãi biển và có mực nước ngầm tương đối cao chỉ cách mặt đất
vài chục cm.
- Vùng cồn cát cao, thường cách bờ bãi biển 200m. Đây là những cồn cát
di động mạnh, được coi là một vùng sinh thái rất khó khăn cho việc trồng rừng.
b. Vùng cát cố định nội đồng: Chiếm diện tích tương đối lớn, gồm các xã
nằm phái Tây hệ phá Tam Giang, là vùng đất rất nghèo chất dinh dưỡng, độ ph
từ 3,5 – 4,5 thể hiện đất chua, phèn. Bề dày mặt đất chủ yếu là lớp đất cát mịn và
ra biển) nhưng không mạnh và ít gây hại hơn so với gió Đông Bắc. Mỗi khi có
gió Lào về làm cho nhiệt độ không khí lên rất cao (có khi lên đến trên 40
0
C) và độ
ẩm không khí giảm xuống thấp, lượng nước bốc hơi mạnh làm ảnh hưởng đến
quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng và dễ gây ra hạn hán vụ hè thu.
• Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau. Đặc điểm
gió thường kèm theo mưa, lạnh, nền nhiệt thấp, độ ẩm không khí cao. Gió mùa
Đông Bắc về làm cho nhiệt độ giảm thấp, gây giá lạnh có hại cho sinh trưởng phát
triển của cây trồng và có khi gây nên sương muối làm chết nhiều loại cây trồng
hoặc giảm năng suất và chính gió mùa Đông Bắc là nguyên nhân gây nên cát bay,
cát lấp (từ phía biển vào đất liền).
• Bão: Bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm, kèm theo
mưa lũ ở thượng nguồn gây triều cường, ngập úng ở vùng hạ lưu. Trên địa bàn
vùng dự án thường hứng chịu các cơn bão có sức công phá lớn gây thiệt hại về tài
sản của nhân dân và các công trình cơ sở hạ tầng và sản xuất Nông lâm ngư nghiệp.
25