TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu
BHXH tại BHXH Quận Long Biên.
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Minh Phương
Lớp : Kinh tế và quản lý công
Khóa : 46
Hệ : Chính quy
GV hướng dẫn : PGS – TS Phan Kim Chiến
HÀ NỘI, NĂM 2008
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT:.............................................................................. 5
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................6
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BHXH ...........................................................8
1. Lý thuyết chung về BHXH ............................................................................................8
1.1. Khái niệm về BHXH..............................................................................................8
1.2. Bản chất của BHXH .............................................................................................10
.......................................................................................................................................
1.3. Đối tượng của BHXH ...........................................................................................11
1.4. Chức năng của BHXH .........................................................................................12
1.5. Tính chất của BHXH ............................................................................................14
2. Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH và những quan điểm cơ bản về BHXH .......15
2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH .................................................................15
2.1.1. Lịch sử phát triển của BHXH ở trên thế giới....................................................15
2.1.2. Lịch sử phát triển của BHXH ở Việt Nam.........................................................16
2.2. Một số quan điểm cơ bản về BHXH ...................................................................18
2.2.1. Chính sách BHXH là bộ phận quan trọng nhất trong chính sách xã
1. Giới thiệu sơ lược về BHXH Thành phố Hà Nội.........................................................43
2. Giới thiệu sơ lược về BHXH quận Long Biên ............................................................44
2.1. Quá trình hình thành và phát triển......................................................................44
2.2. Chức năng, nhiệm vụ của BHXH quận Long Biên ..........................................45
2.3. Cơ cấu tổ chức của BHXH quận Long Biên.......................................................46
3. Tổ chức thực hiện thu và quy trình thu ở BHXH quận Long Biên .........................51
3.1. Tổ chức thực hiện thu BHXH tại BHXH quận Long Biên ..............................51
3.2. Quy trình thu thu BHXH tại BHXH quận Long Biên.......................................54
4. Kết quả thu quỹ BHXH tại BHXH quận Long Biên .................................................58
4.1. Kết quả thu BHXH ................................................................................................58
4.1.1. Kêt quả thu BHXH bắt buộc..............................................................................58
4.1.2. Kết quả thu BHXH theo khối loại hình quản lý................................................60
4.1.3. Cơ cấu lao động tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH quận Long
Biên ............................................................................................................................62
4.1.4. Cơ cấu đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH quận Long Biên .............64
4.2. Kết quả thu BHYT tự nguyện...............................................................................66
5. Thực trạng về công tác quản lý thu tại BHXH quận Long Biên ..............................67
5.1. Về công tác cấp sổ..................................................................................................67
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 3 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
5.2. Tình hình nợ đọng tiền BHXH tại BHXH quận Long Biên..............................68
6. Đánh giá kết quả hoạt động thu ...................................................................................69
6.1. Những thành tích đã đạt được .............................................................................69
6.2. Những vấn đề còn tồn tại trong công tác thu BHXH tại BHXH quận Long
Biên.......................................................................................................................................71
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
THU BHXH TẠI BHXH QUẬN LONG BIÊN – HÀ NỘI.............................................74
1. Phương hướng nhiệm vụ của BHXH quận Long Biên trong thời gian tới..............74
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
DN NQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
HCSN : Hành chính sự nghiệp
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
TNLĐ : Tai nạn lao động
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 5 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
MỞ ĐẦU
BHXH là chính sách quan trọng trong hệ thống các chính sách của
Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện tôt chính sách BHXH, chăm sóc tốt cho
người dân sẽ góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị, từ đó đẩy
mạnh sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nhận thức rõ vai trò của
BHXH nên sau khi Nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản tạo tiền
đề thành lập hệ thống BHXH và đến năm 1995 hệ thống ngành BHXH đã
chính thức ra đời. Sau đó đến năm 2007 Nhà nước đã áp dụng bộ luật BHXH
để thống nhất việc thực hiện BHXH trong cả nước. Hiện nay, Nhà nước ta
đang cố gắng để thực hiện mục tiêu đến năm 2010 triển khai BHXH cho toàn
dân.
Trong các khâu của BHXH thì công tác thu là một khâu quan trọng,
đảm bảo sự cân đối của quỹ BHXH. Và để quỹ BHXH được cân đối và ổn
định lâu dài thì làm tốt công tác thu là một trong những giải pháp mang tính
cơ bản nhất. Thu BHXH ở đây không phải là thu cho ngành BHXH mà là thu
để bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
Là một sinh viên của trường Đại học Kinh tế quốc dân, trong quá trình
học tập tại trường đã được lĩnh hội các kiến thức cơ bản về BHXH cũng như
nhận thức được tầm quan trọng của BHXH nói chung và của công tác thu
BHXH nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình thực tập tại cơ quan BHXH quận
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 6 ~
phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ
và hoàn thiện hơn, xã hội ngày càng văn minh hơn. Do đó, việc thỏa mãn
những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả
năng lao động của họ. Tuy nhiên trên thực tế, không phải lúc nào con người
cũng chỉ gặp thuận lợi có đầy đủ thu nhập và các điều kiện sống bình thường,
Ngược lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi, ngẫu nhiên phát sinh
làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện phát sinh
khác. Chẳng hạn như, bị ốm đau bất ngờ hay bị tai nạn trong lao động, mất
việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ suy
giảm… Khi rơi vào những trường hợp như vậy, các nhu cầu cần thiết không
vì thế mà mất đi, trái lại còn có cái tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một
số nhu cầu mới như: Cần được khám chữa bệnh và điều trị khi ốm đau, tai
nạn, thương tật cần có người chăm sóc nuôi dưỡng … Bởi vậy, muốn tồn tại
và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và trên thực
tế đã tìm ra rất nhiều cách giải quyết khác nhau như: Sẻ chia, đùm bọc lẫn
nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà
nước hay của các tổ chức khác… Rõ ràng những cách đó là hoàn toàn thụ
động, không chắc chắn và có nhiều rủi ro, bất ngờ.
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 8 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ
biến thì mối quan hệ giữa người làm thuê và giới chủ cũng trở nên phức tạp
và rắc rối. Lúc đầu, người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng sau đó đã
phải cam kết cả việc bảo đảm cho người lao động có số thu nhập nhất định để
họ trang trải cho những nhu cầu thiết yếu nhất khi không may bị ốm đau, tai
nạn… Trên thực tế, nhiều lúc các trường hợp trên không xảy ra và tất nhiên
người chủ không phải chi trả một đồng nào. Nhưng cũng có những trường
hợp xảy ra dồn dập, buộc họ phải trả ra một khoản tiền lớn hơn mà họ thực sự
càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế, có thể nói rằng kinh tế chính là nền
tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi
nước.
- Hai là, mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở nền
tảng là quan hệ lao động giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH
và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể là người lao động
hoặc có cả người lao động và người sử dụng lao động. Bên BHXH (bên
nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là các cơ quan chuyên trách do
Nhà nước lập ra và được Nhà nước bảo trợ. Bên được BHXH chính là
những người lao động và gia đình của họ khi có đủ các điều kiện ràng
buộc cần thiết.
- Ba là, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc
làm trong BHXH có thể là các rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ
quan của con người như: Ốm đau, tai nạn lao động… hoặc cũng có thể
là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già,
thai sản… Đồng thời những biến cố đó có thể xảy ra cả trong quá trình
và ngoài quá trình lao động.
- Bốn là, phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp
phải các biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ
tiền tệ tập trung được tích tụ lại. Nguồn quỹ này do các bên tham gia
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 10 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
BHXH đóng là chủ yếu, ngoài ra còn nhận được sự hỗ trợ một phần từ
Nhà nước.
- Năm là, mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết
yếu của người lao động trong trường hợp họ bị giảm hoặc mất thu
nhập, mất việc làm. Những mục tiêu này đã được tổ chức lao động
quốc tế cụ thể hóa như sau:
hiện các công việc về BHXH đối với người lao động. Mối quan hệ ràng buộc
này cũng chính là đặc trưng của riêng BHXH. BHXH có tồn tại và phát triển
một cách và bền vững hay không chính là nhờ vào mối quan hệ này.
1.4. Chức năng của BHXH.
Như trong giáo trình BHXH thì BHXH có bốn chức năng chủ yếu sau:
- “Thứ nhất, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao
động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả
năng lao động hoặc mất việc làm”
2
. Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp
này chắc chắn sẽ xảy ra, vì suy cho cùng, người lao động khi đến độ
tuổi hết tuổi lao động theo quy định của BHXH, họ sẽ mất khả năng lao
động. Trong trường hợp mất việc làm hoặc mất khả năng lao động tạm
thời dẫn đến làm giảm hoặc mất thu nhập, người lao động cũng sẽ nhận
được trợ cấp từ BHXH, mức trợ cấp phụ thuộc vào các điều kiện cần
thiết, thời điểm , thời hạn được hưởng phải đúng theo quy định của
pháp luật. Đây chính là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó sẽ quyết
định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế hoạt động của BHXH.
- “Thứ hai, tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những
người lao động tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có những
người lao động mà còn có những người sử dụng lao động. Các bên
2
Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005,
trang 37.
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 12 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH”
3
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 13 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
- “Thứ tư, gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao
động, giữa người lao động với xã hội”
5
. Từ trước đến nay, trong thực tế
lao động sản xuất, giữa người lao động và người sử dụng lao động có
tồn tại những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, về thời gian
lao động … nhưng khi BHXH xuất hiện nó đã giải quyết và điều hòa
được những mâu thuẫn đó. Người lao động cảm thấy mình được bảo
vệ, những rủi ro được giàn trải, cuộc sống gia đình được ổn định. Còn
người sử dụng lao động thì thấy mình có lợi vì các hoạt động sản xuất
diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Từ đó,
BHXH đã làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau.
1.5. Tính chất của BHXH .
BHXH và đời sống của người lao động luôn đi liền với nhau, do đó, nó có
một số tính chất cơ bản như sau:
- “Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội.
- BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh, không đồng đều theo thời gian và
không gian.
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính
dịch vụ.”
6
Sau đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn về các tính chất trên của BHXH :
Đầu tiên, là tính tất yếu khách quan của BHXH. Như chúng ta đã biết,
trong quá trình lao động, người lao động có thể gặp phải những biến cố rủi ro,
từ đó, người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không kém.
Sản xuất ngày càng phát triển thì nguy cơ gặp phải rủi ro đối với người lao
được sự tận tụy, yên tâm làm việc của người lao động, từ đó mang lại hiệu
quả kinh tế cho họ. Với Nhà nước, BHXH góp phần làm giảm gánh nặng
Ngân sách và là nguồn đầu tư đáng kể cho việc phát triển kinh tế. Còn tính xã
họi thẻ hiện rất rõ ở chỗ, BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống an sinh xã
hội. Xét về mặt lâu dài, mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH,
còn BHXH có trách nhiệm phải bảo đảm cho người lao động và gia đình của
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 15 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
họ ngay cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động. Tính dịch vụ gắn liền với
tính xã hội của BHXH, khi xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính
xã hội hóa của BHXH ngày càng cao.
2. Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH và những quan điểm cơ
bản về BHXH.
2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH.
2.1.1. Lịch sử phát triển của BHXH ở trên thế giới.
BHXH xuất hiện khá sớm. Vào năm 1883, ở nước Phổ (Cộng hòa Liên
bang Đức ngày nay) Luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới đã được đã
được ban hành đánh dấu sự ra đời của BHXH. Sau đó, BHXH đã lần lượt
xuất hiện ở các nước dưới các mức độ khác nhau nhưng có chung mục đích là
bảo đảm cho đời sống của người lao động và gia đình của họ.
BHXH đã nhanh chóng trở thành một trong những quyền cơ bản của con
người và được cả xã hội thừa nhận. Trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên
hợp quốc (1945) đã ghi “Tất cả mọi người lao động với tư cách là thành viên
của xã hội đều có quyền hưởng BHXH”. Sau đó, ngày 4 – 6 – 1952 Tổ chức
lao động quốc tế (ILO) đã ký công ước Giơnevơ về “BHXH cho người lao
động” và khuyến nghị các nước thực hiện BHXH cho người lao động tùy theo
điều kiện và khả năng của mỗi nước. Vận dụng khuyến nghị của ILO các
nước đã có những chính sách, biện pháp phù hợp với điều kiện riêng của nước
hành Nghị định số 218/CP kèm theo Điều lệ tạm thời về chế độ BHXH đối
với công nhân viên chức Nhà nước và được thi hành từ ngày 01 – 01 – 1962
cùng với điều lệ đãi ngộ quân nhân theo Nghị định 161/CP ngày 30 – 10 –
1964 của Chính phủ. Sau hơn 20 năm thực hiện, BHXH đối với cán bộ, công
nhân viên chức đã bộc lộ nhiều hạn chế. Vì vậy, ngày 18 – 9 – 1985 Chính
phủ (lúc đó là Hội đồng bộ trưởng)đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT về
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 17 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
việc sửa đổi, bổ sung chính sách và chế độ BHXH đối với người lao động, nội
dung chủ yếu là điều chỉnh mức đóng và mức hưởng BHXH .
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên chính sách BHXH ở
Việt Nam chưa được thực hiện một cách triệt để, nhất là việc thực hiện trong
giai đoạn này lại được giao cho nhiều tổ chức khác nhau đảm nhiệm như
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.
Do vậy, để phù hợp với sự sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần có sự quản lý của Nhà nước, ngày 27 – 12 – 1993 Chính phủ đã ban
hành Nghị định 43/CP Quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho
các thành phần kinh tế. Nhưng BHXH Việt Nam chỉ thực sự có bước đột phá
sau khi có Nghị định 12/CP của Chính phủ về việc ban hành “Điều lệ BHXH
đối với công chức, viên chức và công nhân của Nhà nước và mọi người lao
động theo loại hình bắt buộc”, Nghị định 45/CP ngày 15 – 7 – 1995 của
Chính phủ ban hành điều lệ đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ
quan, binh sỹ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Để đáp ứng với đòi
hỏi của sự đổi mới của về chế quản lý, ngày 01 – 10 – 1995 Chính phủ đã ban
hành Nghị định 19/CP về việc thành lập BHXH. Như vậy, hệ thống BHXH
Việt Nam đã chính thức được thành lập, theo đó, hệ thống này sẽ được tổ
chức, quản lý tập trung theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương, và chịu
sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ. Chính sách BHXH cũng được
vào quỹ BHXH để bảo hiểm cho người lao động.
Người sử dụng lao động ở đây có thể là các tổ chức, các doanh nghiệp và
các cá nhân thuê mướn lao động. Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ
BHXH và trách nhiệm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động
mà họ sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Người sử dụng lao động
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 19 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
muốn ổn định và phát triển công việc kinh doanh sản xuất muốn nâng cao
năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thì ngoài việc đầu tư, ứng dụng vào
các công nghệ mới tiên tiến, các phương tiện kỹ thuật hiện đại thì phải chăm
lo, quan tâm đến đời sống của người lao động. Khi họ khỏe mạnh, làm việc
bình thường thì phải trả lương đầy đủ và thỏa đáng với họ. Khi họ gặp phải
rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động … thì phải thực hiện trách nhiệm BHXH đối
với họ. Có như vậy người lao động mới yên tâm làm việc, tích cực lao động
sản xuất, phát huy tiềm năng sáng tạo, góp phần cải tiến kỹ thuật, từ đó nâng
cao năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
2.2.3. Mọi người lao động đều được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối
với BHXH.
Điều này có nghĩa là tất cả mọi người lao động bên cạnh việc được hưởng
các quyền lợi BHXH một cách bình đẳng như trong bản Tuyên ngôn nhân
quyền đã nêu còn có nghĩa vụ phải đóng góp BHXH. Vì xét cho cùng, người
lao động khi gặp phải rủi ro không mong muốn và dù cho đó không phải
hoàn toàn và trực tiếp là lỗi của người khác thì trước tiên đó vẫn là rủi ro của
bản thân người lao động. Do vậy, nếu muốn được hưởng trợ cấp từ BHXH,
muốn được nhiều người hỗ trợ cho mình để dàn trải rủi ro thì trước tiên người
lao động phải tự mình gánh chịu trực tiếp, nghĩa là người lao động phải tham
gia BHXH để tự mình bảo hiểm cho chính mình trước.
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp BHXH.
làm, nhưng do bản chất của BHXH là đảm bảo các nhu cầu sinh sống thiết
yếu nên mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu.
7
Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005,
trang 43
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 21 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
2.2.5. Nhà nước quản lý thống nhất và tổ chức bộ máy thực hiện chính sách
BHXH .
BHXH là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, là công cụ giúp
Nhà nước thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, cho nên vai trò của Nhà nước
là rất quan trọng. Thực tế đã chỉ rõ, nếu không có sự quản lý vĩ mô của Nhà
nước thì mối quan hệ ba bên trong BHXH sẽ bị phá vỡ, mối quan hệ giữa
người lao động và người sử dụng lao động sẽ không được duy trì bền vững.
Hơn nữa, việc thực hiện BHXH phải đảm bảo một quy trình chặt chẽ: từ việc
hoạch định chính sách, giới hạn đối tượng, xác định phạm vi bảo hiểm cho
đến việc đảm bảo vật chất và xét trợ cấp… Do vây, để đảm bảo cho hệ thống
BHXH vận hành một cách linh hoạt và chặt chẽ Nhà nước cần phải quản lý
thống nhất toàn bộ quy trình này.
Trước tiên, cần phải khẳng định rằng việc hoạch định chính sách BHXH là
khâu đầu tiên và quan trọng nhất. Sự quản lý của Nhà nước thể hiện ở việc
xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về BHXH và ban hành thực
hiện. Và sau đó là hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, thanh tra việc thực hiện của
các cá nhân và tổ chức. Còn với việc quản lý và đảm bảo vật chất cho BHXH
thì vai trò của Nhà nước còn phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nước
quy định. Nếu chính sách bảo hiểm quy định việc đảm bảo cơ sở vật chất do
Nhà nước cung cấp thì Nhà nước sẽ quản lý trực tiếp và toàn diện, còn nếu
việc đảm bảo vật chất là do Nha nước quy định, người sử dụng lao động,
Tuy nhiên, giữa Ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH cũng có một số điểm
khác nhau cơ bản như: Ngân sách Nhà nước hình thành, tồn tại và phát triển
gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và thực hiện chức
năng kinh tế xã hội của Nhà nước. Còn quỹ BHXH hình thành, tồn tại và phát
8
Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005,
trang 50.
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 23 ~
Chuyên êđ̀ tốt nghi pệ KT
& Quản lý công
triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa với các mối quan hệ thuê
mướn người lao động. Điểm khác nhau nữa là, quan hệ phân phối của Ngân
sách Nhà nước mang tính pháp lý cao và dựa vào quyền lực chính trị, kinh tế
của Nhà nước, quan hệ phân phối này mang tính hoàn trả và phản ánh lợi ích
của xã hội, lợi ích quốc gia. Trong khi đó, quan hệ phân phối của quỹ BHXH
có tính pháp lý thấp hơn và mối quan hệ phân phối này phản ánh lợi ích của
các bên tham gia BHXH trước, sau đó mới đến lợi ích xã hội.
Quỹ BHXH có các đặc điểm chủ yếu như sau:
- Một là, nguyên tắc quản lý của quỹ BHXH là cân bằng thu – chi. Sở dĩ
nguyên tắc hoạt động như vậy là do quá trình hình thành tồn tại và phát
triển của quỹ gắn liền với mục đích của quỹ là đảm bảo ổn định cuộc
sống cho người lao động và gia đình của họ khi họ gặp phải các biến cố
rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập.
- Hai là, phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang
tính không hoàn trả. Tính chất hoàn trả này thể hiện ở chỗ đối tượng
tham gia và đóng góp BHXH là người lao động và cũng chính họ là
người được nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho dù thời gian
nhận trợ cấp, mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, túy thuộc vào
những biến cố mà họ gặp phải cũng như phụ thuộc vào mức đóng góp
luật Nhà nước.
- Năm là, sự hình thành, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và phụ thuộc và điều
kiện lịch sử trong từng thời kì nhất định của đất nước. Một đất nước có
nền kinh tế – xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy
đủ các chế độ BHXH và nhu cầu thỏa mãn về BHXH của người lao
Nguyễn Th Minh Phị ương ~ 25 ~