Phần 1: lời nói đầu
Theo kết kết quả điều tra Lao động- Việc làm , tại thời điểm 1/7/2003 lực lợng
lao động cả nớc(gồm những ngời đủ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh
tế) có hơn 42.128 ngàn ngời,trong đó khu vực thành thị chiếm 24,18%,khu vực
nông thôn chiếm 75,82%.So với thời điểm 1/7/85%.Bên cạnh đó,nhiều cuộc
điều tra khác cũng cho thấy nguồn nhân lực ở Việt Nam có quy mô lớn đã ,
đang và sẽ tạo ra cung về nhân lực với số lợng nhiều.Hằng năm số lợng ngời
cần có việc làm tăng thêm hơn 1,5 triệu ngời .Trong khi đó,với trình độ phát
triển kinh tế và cơ cấu kinh tế nh hiện nay ,cầu về nhân lực phản ánh một cơ
cấu lạc hậu,đại bộ phận nguồn nhân lực còn nằm trong khu vực nông
nghiệp.Chính sự bất cân đối này đã đặt ra vấn đề là phải giải quyết việc làm
cho ngời lao động.
Vấn đề giải quyết việc làm không chỉ đợc thực hiện bằng thị trờng trong n-
ớc mà còn phải chú trọng phát triển cả thị trờng ngoài biên giới,chính vì vậy
vấn đề xuất khẩu lao động (XKLĐ) hiện nay đang đợc quan tâm rất nhiều.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động khá mới ở nớc ta và chỉ phát triển mạnh
mẽ nhất trong những năm gần đây.Mặt khác hoạt động này ở nớc ta cũng đang
bộc lộ rất nhiều khiếm khuyết.Chính vì vậy ,với mục đích tìm hiểu thực trạng
để đa ra giải pháp nhằm pháy huy hiệu quả hơn,em quyết định chọn đề tài về
hoạt động XKLĐ để nghiên cứu,và lấy Nam Định làm thí điểm cho việc
nghiên cứu để có thể nhìn nhận một cách cụ thể nhất trong việc thực hiện hoạt
động này.
Mặc dù đã có cố gắng trong việc nghiên cứu,song chắc chắn bản thảo này
vẫn còn nhiều thiếu sót.Em rất mong đợc thầy xem xét và chỉ bảo để đề án
của em đợc hoàn chỉnh nhất trong bản chính sắp tới.Em xin chân thành cảm
ơn thầy.
Phần 2 : Nội dung
1
Chơng 1: Cơ sở lí luận
I. Xuất khẩu lao động
1.Khái niệm:
Doanh nghiệp Việt Nam đầu t ở nớc ngoài có sử dụng lao động Việt
Nam.
Tất cả các doanh nghiệp trên muốn XKLĐ thì phải đợc Cục quản lý lao động
Nhà nớc cấp giấy phép. Hiện nay trong cả nớc ta có 154 doanh nghiệp có giấy
phép hoạt động XKLĐ trong đó 16 doanh nghiệp chuyên doanh XKLĐ, 134
doanh nghiệp (chiếm 87%) doanh nghiệp đợc bổ sung chức năng XKLĐ,còn
lại là doanh nghiệp t nhân tham gia XKLĐ,trong số 154 doanh nghiệp này thì
hơn 25% doanh nghiệp có giấy phép lao động đợc XKLĐ và tu nghiệp sinh
tại Nhật và gần 20% doanh nghiệp có giấy phép tuyển lao động sang Hàn
Quốc
II. Lợi ích và hạn chế của việc XKLĐ:
a.Lợi ích của việc XKLĐ :
XKLĐ thời gian qua cũng mang lại hiệu quả kinh tế đáng khích lệ, góp
phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống cho ngời lao động và tăng nguồn
thu ngoại tệ cho đất nớc
Bảng 1 : Kết quả hoạt động XKLĐ giai đoạn 1991-1999
3
Năm Số lao động XK
(ngời)
Số ngoại tệ thu
về(1.000 USD)
1991 1.020 2.500
1992 810 6.800
1993 3.960 15.800
1994 9.230 43.100
1995 10.050 77.900
1996 12.660 100.800
1997 18.470 129.200
1998 12.240 148.300
chi phí đầu t đào tạo nghề và tạo chỗ làm việc mới cho ngời lao động. Ngoài
ra, thông qua lao động ở nớc ngoài, ngời lao động đã nâng cao trình độ chuyên
môn kỹ thuật,ngoại ngữ, tiếp thu đợc những công nghệ và tác phong sản xuất
công nghiệp tiên tiến, do đó từng bớc đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc khi họ trở về.
Nh vậy, hoạt động XKLĐ nớc ta đã đem lại lợi ích kinh tế, xã hội không
nhỏ, góp phần trực tiếp và gián tiếp vào việc tăng tích lũy vốn cho công nghiệp
hóa.
b.Hạn chế trong công tác XKLĐ :
Trong iu kin cnh tranh ngy cng gay gt, ngi s dng lao ng
ngy cng cú iu kin a ra nhiu ũi hi kht khe hn. Cụng nhõn
khụng nhng phi cú sc khe tt, cú ý thc phc tựng k lut cao, m cũn
phi s dng c ngụn ng ca nc tip nhn. õy l im yu ca ngi
lao ng Vit Nam. Lao ng Vit Nam nhiu khi cha ỏp ng c y
cỏc yờu cu m th trng t ra nh ngoi ng, tay ngh, sc khe v
c bit l ý thc k lut, t l b trn hin ti Hn Quc l 59,25%, Nht
Bn l 27,09%, i Loan 7%. Ti th trng Malaysia, nhiu lao ng Vit
Nam ó vi phm k lut nh: ung ru, ỏnh nhau v ỡnh cụng.
5
Bên cạnh đó, đa số người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài là nông dân,
tiếp thu ngoại ngữ chậm, lại được đào tạo trong thời gian quá ngắn, vì vậy
vốn kiến thức mà họ được trang bị cũng như học hỏi được là rất ít và không
đồng bộ. Ưu điểm của số lao động này là có sức khỏe, nhưng họ lại không
có nghề nghiệp chuyên môn và chưa quen với tác phong công nghiệp trong
nền sản xuất của nước bạn.
Mặt khác, hệ thống đào tạo của nước ta chưa chú trọng về việc cho người
lao động tìm hiểu cũng như có kiến thức về văn hóa, chính trị, luật pháp
cũng như những đặc trưng của nước sở tại mà họ sẽ lao động, vì vậy tạo cho
người lao động sự bỡ ngỡ khi làm việc trong môi trường hoàn toàn mới và
xa lạ này. Ngoài ra, công tác XKLĐ còn bị hạn chế trong quá trình tiến
định 81/2003/NĐ-CP, Chính phủ đã có quyết định về việc thành lập quỹ hỗ
trợ XKLĐ, theo đó quỹ này sẽ hỗ trợ chi phí cho việc phát triển thị trường
lao động mới, cho việc đào tạo người lao động , việc hỗ trợ người lao động
và doanh nghiệp giải quyết rủi ro cũng như việc thưởng cho các cơ quan,
đơn vị có thành tích trong hoạt động XKLĐ. Như vậy, quỹ này ra đời sẽ góp
phần phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh
tranh của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, đồng thời hỗ
trợ rủi ro cho người lao động và doanh nghiệp trong hoạt động này.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã có chính sách hỗ trợ cho vay đối với
người lao động đi xuất khẩu, theo đó người lao động đi XKLĐ không thuộc
diện chính sách được vay tối đa là 20 triệu đồng mà không yêu cầu thế chấp
tài sản, điều này đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho người lao động, nhất là
đối với những lao động nghèo ở nông thôn – lực lượng chính của XKLĐ, mà
7
trước đây không có tiền để đóng góp chi phí XKLĐ hoặc không có tài sản để
thế chấp. Đồng thời với chính sách này, hồ sơ thủ tục xin đi XKLĐ cũng đã
được giảm bớt và trở nên đơn giản thuận lợi hơn.
Mặc dù chủ trương chính sách đã được ban hành tương đối đồng bộ và
từng bước hoàn thiện, nhưng vẫn còn chậm để triển khai vào cuộc sống, vẫn
còn tình trạng một số ngành, địa phương đứng ngoài hoạt động XKLĐ hoặc
có tham gia nhưng thiếu triệt để. Ở một số địa phương, cán bộ còn quan liêu,
cửa quyền và sách nhiễu dân trong việc giải quyết thủ tục đi XKLĐ. Bên
cạnh đó, còn nhiều khoản mục khác cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước
nhưng vẫn còn vắng bóng. Ví dụ như chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối
với vấn đề tạo lập , giữ vững và phát triển thị trường XKLĐ, vấn đề tư pháp
quốc tế, vấn đề bảo hộ họat động XKLĐ khi tham gia vào thị trường mới …
3.Quản lý hoạt động XKLĐ:
Bộ lao động – thương binh và xã hội là cơ quan trực tiếp giúp Chính phủ
quản lý hoạt động XKLĐ. Tùy từng trường hợp mà một số cơ quan khác
như Bộ tài chính, Bộ công an, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ thương mại, Ngân
Bước đầu phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế để phát triển thị
trường XKLĐ, trên thị trường đã hình thành được đội ngũ doanh nghiệp và
các trung tâm làm công tác XKLĐ tương đối mạnh mẽ về cơ sở vật chất, về
cán bộ, năng lực đào tạo lao động. Đã hình thành được 154 doanh nghiệp có
giấy phép XKLĐ trong đó chiếm gần 90% là doanh nghiệp được bổ sung
chức năng XKLĐ. Nhiều doanh nghiệp đã tích cực, chủ động trong việc tìm
kiếm thị trường ngoài nước , phối kết hợp với các cơ quan chức năng, co sở
đào tạo nghề để trang bị kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, luật pháp, phong
tục tập quán, ngoại ngữ cho người lao động. Xuất hiện ngày càng nhiều
9
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có uy tín đối với đối tác nước ngoài, rất
thuận lợi cho việc phát triển thị trường lao động. Kết quả trong 3 năm từ
2001 – 2003 đã có:
1 doanh nghiệp xuất khẩu 10.000 lao động;
4 doanh nghiệp xuất khẩu trên 5.000 lao động;
37 doanh nghiệp xuất khẩu trên 1.000 lao động
Bên cạnh những kết quả này, chất lượng của các doanh nghiệp XKLĐ vẫn
còn nhiều bất cập. Trên thực tế, đội ngũ hoạt động trong lĩnh vực này vẫn
còn mỏng, yếu về kinh nghiệm, thiếu về cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính ,
vì vậy khả năng khai thác và phát triển thị trường còn hạn chế . Đã có nhiều
doanh nghiệp, thậm chí cả bản thân người lao động tích cực khai thác thông
tin, tìm hiểu thị trường lao động ngoài nước, song như vậy vẫn là chưa đủ để
đảm bảo khả năng phát triển thị trường.
Song song với những khó khăn này, chất lượng của các trung tâm dạy
nghề cũng có nhiều vấn đề đáng bàn, các cơ sở đào tạo nghề đã hiếm, lại
nghèo nàn và lạc hậu về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên mỏng và yếu về
chuyên môn nghiệp vụ, phần lớn những nghề mà trường đào tạo cho học
viên là những nghề trường có khả năng đào tạo chứ chưa dựa vào nhu cầu
thực tiễn của từng thị trường lao động ngoài nước . Mặt khác, việc đào tạo
nghề chỉ nặng về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ mà chưa đi sâu, đi sát
2003 75000 150 162,61
10 tháng/2004 67000 134 131,37
Ta có thể biểu diễn số liệu trên bằng biểu đồ sau:
11
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Đặc biệt là từ năm 2001 đến nay, hoạt động XKLĐ và chuyên gia đã có
những bước tiến vượt bậc. Trong 3 năm qua, ta đã đưa đi được trên 157.000
lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài, gấp 1,3 lần số lao động và
chuyên gia đưa đi được trong 10 năm trước đó ( 121.752 người)
Bên cạnh đó, chất lượng nguồn lao động được xuất khẩu cũng từng bước
được nâng lên, ngày càng có thêm nhiều lao động được đào tạo sâu hơn về
chuyên môn, ngoại ngữ, kiến thức luật pháp, phong tục tập quán trong và
ngoài nước. Do vậy, hiện nay thị trường XKLĐ của nước ta không chỉ bó
hẹp trong các nước SNG, châu Phi, mà được mở rộng sang các nước khác
chế độ chính trị - xã hội. Lao động xuất khẩu của nước ta đã và đang làm
việc ở 40 nước, vùng lãnh thổ, với thị phần ngày càng tăng, trải rộng từ
Đông Bắc Á, Đông Nam Á, khu vực Trung Đông tới nam Thái Bình Dương
với ngày càng nhiều các hình thức XKLĐ đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi
cho lao động Việt Nam thâm nhập thị trường mới và giữ vững thị trường
truyền thống.
II.Giới thiệu chung về Nam Định:
Về quy mô hành chính, Nam Định có 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 9
huyện bao gồm 229 xã, 15 phường và 9 thị trấn.
2.Thực trạng lao động ở Nam Định:
2.1.Quy mô lực lượng lao động:
Kết quả điều tra lao động việc làm giai đoạn 1997- 2000 phản ánh rõ xu
hướng tăng về số tuyệt đối của lực lượng lao động ở tỉnh Nam Định cũng
như khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước.
13
Biểu 3: Quy mô và tỷ trọng của lực lượng lao động
1997 1999
NĐ ĐBSH Cả
nước
NĐ ĐBSH Cả
nước
-Lực lượng lao động
(1000 người)
-Tỷ lệ trong tổng DS từ
15 tuổi trở lên (%)
982
74,74
7.432
73,3
36.29
6
72,31
1.006
73,1
7.735
72,39
37.783
lượng lao động thành thị của Nam Định vẫn cao hơn.
Biểu 4: Cơ cấu của bộ phận dân số từ 15 tuổi trở lên tỉnh Nam Định
15
Các năm (người) Tốc độ phát triển (%)
1997 1998 1999 2000 98/97 99/98 2000/99 BQ
mỗi
năm
1.NKTT
-BQ
NKH
2.DS từ
15 tuổi
trở lên
-Theo
giới tính
+Nam
+Nữ
-Theo
khu vực
+TThị
+NT
-Theo
nhóm
tuổi
1850850
3,81
1314868
616866
698002
101,01
98,66
101,8
102,69
101,55
100,09
102,02
101,44
97,83
103,03
103,89
102,26
103,74
102,93
105,15
98,13
102,57
103,12
102,09
102,41
102,60
Chú thích: - NKTT : Nhân khẩu thường trú
-BQNKH : Bình quân nhân khẩu hộ
Nếu chia lực lượng lao động theo nhóm tuổi, ta có thể có được thống kê
như sau:
Biểu 5: Lực lượng lao động chia theo nhóm tuổi tỉnh Nam Định
Chú thích:
Tuổi trẻ : từ 15 – 34 tuổi;
Trung niên : 35 – 54 tuổi;
Cao tuổi : > 55 tuổi;
2.3.Chất lượng của lực lượng lao động:
Tình độ học vấn của lực lượng lao động tỉnh Nam Định ngày càng được
nâng cao. Biểu hiện cụ thể là: số lượng người chưa biết chữ và chưa tốt
nghiệp cấp I giảm liên tuc cả về số tuyệt đối và tỷ lệ trong tổng số qua các
năm. Chỉ tiêu này năm 1997 là 111 ngàn người, chiếm 11,34%, đến năm
2000 là 88,6 ngàn người chiếm 8,4%, ngược lại số người đã tốt nghiệp cấp II
và cấp III không ngừng tăng, trong đó tăng nhanh nhất cả về quy mô và tốc
độ là số người tốt nghiệp cấp III. Theo kết quả điều tra năm 1997 số người
tốt nghiệp cấp III của Nam Định là 172,6 ngàn người, chiếm 17,6% trong
tổng số, năm 2000 là 201,1 ngàn người chiếm 18,9% trong tổng số. Bình
quân mỗi năm số người tốt nghiệp cấp III của tỉnh tăng khoảng 9,5 ngàn
người.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động cũng có những tiến
bộ rõ rệt. Tại thời điểm điều tra năm 1997, số người thuộc lực lượng lao
17
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật (gồm công nhân, sơ cấp, trung cấp,
đại học và trên đại học) của tỉnh Nam Định là 139.347 người, chiếm 14,18%
so với tổng số. Đến năm 2000 chỉ tiêu này là 183.168 người, chiếm 17,28%
so với tổng số, tăng 31% so với năm 1997, trong đó tăng mạnh nhất là số lao
động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học (36%). Trình độ chuyên
môn kỹ thuật của lực lượng lao động ở Nam Định như trên phản ánh tổng
hợp những cố gắng và kết quả của công tác giáo dục đào tạo dạy nghề của
tỉnh những năm qua. Tuy vậy cơ cấu lao động kỹ thuật của Nam Định cũng
như cả nước vẫn chưa ra khỏi tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Theo kinh
nghiệm của các nước thành công trong công nghiệp hóa thì cơ cấu lao động
kỹ thuật phổ biến phải có cơ cấu là 1 đại học, cao đẳng/ 4 trung học/ 10 công
nhân kỹ thuật, nhưng ở Nam Định cơ cấu này là 1/ 2,2 /2,5, của cả nước là 1/
1,5/ 1,7. Tình trạng bất hợp lí này ngày càng tăng lên, hiện nay cơ cấu này ở
Nam Định là 1/ 1,9/ 2,1. Để khắc phục tình trạng bất hợp lí này, Nam Định
cần chủ trương thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước về điều chỉnh lại cơ