TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LỚP QUẢN TRỊ KINH DOANH 11
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
GVHD: Vỏ Ngọc Niên
Cần Thơ ngày 10/09/2013
Danh sách nhóm
1. Nguyễn Thế Loan MSSV: CT11QT3037
2. Phan Văn Rộ MSSV: CT11QT3065
3. Mai Minh Nhựt MSSV: CT11QT3058
4. Huỳnh Nguyễn Sương Thảo MSSV: CT11QT3074
5. Lê Thành Lợi MSSV: CT11QT3042
6. Trần Thanh Duẫn MSSV: CT11QT3009
LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn rất có
hiệu quả đối với nền kinh tế, hoạt động theo cơ chế thị trường, với rất nhiều
nỗ lực đã rút ngắn được khoảng cách trên con đường hội nhập và hợp tác
quốc tế. Vì vậy sự ra đời và phát triển của Thị Trường Chứng Khoán là yêu
cầu hết sức cần thiết và là yếu tố quan trọng cho sự phát triển đất nước, góp
phần tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa những người sử dụng vốn
với những người có vốn, cung cấp giá cả cho các giao dịch, tạo ra tính thanh
khoản cao, giúp điều tiết và bình ổn thị trường.
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường của các doanh nghiệp
Việt Nam đều phải thông qua một tổ chức trung gian, gọi là các công ty
chứng khoán. Sự phát triển của Thị Trường Chứng Khoán gắn liền với hoạt
động của các công ty Chứng Khoán, chính vì những lý do đó đã thúc đẩy
những dịch vụ thiết yếu hỗ trợ các nhà đầu tư ra đời, góp phần vào việc điều
tiết kinh tế vĩ mô của nền kinh tế.
1. Chức năng môi giới chứng khoán :
a. Khái niệm :
Là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán. Trong đó
CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại sở giao dich chứng khoán hay thi trường OTC mà chính khách hàng
sẽ phải chịu trách nhiệm về hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán phải mở tài
khoản giao dịch chứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp
đồng ký kết giữa khách hàng và công ty.
b. Chức năng môi giới chứng khoán :
- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp cho
khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
- Nối liền những người bán và những người mua: đem đến cho khách
hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.
- Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: trở thành
người bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng và đưa ra những lời động
viên kịp thời.
- Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức (điển hình là sợ hãi và tham
lam), để giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo.
- Đề xuất thời điểm bán hàng.
2. Chức năng tự doanh chứng khoán
a. Khái niệm :
Tự doanh chứng khoán là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua,
bán chứng khoán cho chính công ty mình.
b. Mục đích của hoạt động tự doanh :
Mục đích của hoạt động tự doanh của các CTCK nhằm thu lợi nhuận
cho chính mình. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị
trường, pháp luật các nước đều yêu cầu các CTCK khi thực hiện nghiệp vụ
tự doanh phải đáp ứng yêu cầu về vốn và con người.
∗ Những yêu cầu đối với CTCK trong hoạt động tự doanh :
hành không lớn, thì chỉ cần có một tổ chức bảo lãnh phát hành. Nếu đó là
một công ty lớn, và số lượng chứng khoán phát hành vượt quá khả năng của
một tổ chức bảo lãnh thì cần phải có một tổ hợp bảo lãnh phát hành, bao
gồm một hoặc một tổ chức bảo lãnh chính và một số tổ chức bảo lãnh phát
hành thành viên.
Các tổ chức bảo lãnh phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ
hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành. Phí bảo lãnh phát
hành là mức chênh lệch giữa giá bá.n chứng khoán cho người đầu tư và số
tiền tổ chức phát hành nhận được.
∗ Bảo lãnh phát hành gồm có các phương thức sau:
a. Bảo lãnh với cam kết chắc chắn:
Là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua
toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng
khoán hay không. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc
chắn", một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng
khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công
chúng (POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP.
Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá chào
bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
b. Bảo lãnh theo phương thức dự phòng:
Đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng
phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong
trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu,
và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ
trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông
không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do vậy, công ty cần có một tổ
chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực
hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng. Có
thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam
kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức
+ Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình có thể
không hoàn toàn chính xác và khách hàng cần biết rằng nhà tư vấn sẽ
không chịu trách nhiệm về những lời khuyên đó.
+ Không được dụ dỗ, mời gọi khách hàng mua hay bán một loại chứng
khoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ cơ sở khách quan
là sự phân tích tổng hợp một cách lôgíc, khoa học.
5. Chức năng quản lý danh mục đầu tư
Đây là một dạng nghiệp vụ tư vấn của CTCK nhưng ở mức độ cao hơn
vì trong hoạt động này, khách hàng ủy thác cho CTCK thay mặt mình quyết
định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc khác đã được khách
hàng đồng ý.
Chương 2 : CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY KINH DOANH
CHỨNG KHOÁN
I. HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI :
Quy mô và phạm vi hoạt động của CTCK ngày càng được mở rộng, với
94 CTCK thành viên, hơn 50 phòng giao dịch đang hoạt động rộng khắp các
tỉnh và thành phố lớn như Hà Nội, TP. HCM, Nha Trang, Bình Dương, Cần
Thơ, Hải Phòng…Cùng với sự phát triển mạng lưới hoạt động, số lượng tài
khoản giao dịch tại các CTCK cũng tăng mạnh. Năm 2012 số tài khoản giao
dịch chứng khoán tại các CTCK đạt hơn 900.000 tài khoản. Tăng 2.1 lần so
với năm 2011. Cùng với sự gia tăng khối lượng giao dịch, các CTCK đã
thực hiện trên 6.000 hợp đồng tư vấn và bảo lãnh phát hành. Tính đến cuối
năm 2012 đã có gần 90 CTCK hoạt động có lãi. Quy mô vốn hoạt động của
các CTCK ngày càng được nâng cao. Tính đến cuối năm 2012, tổng số vốn
điều lệ của các CTCK là 29.856 tỷ đồng, tăng 11,6% so với năm 2011.Ta có
10 công ty chứng khoán lớn nhất đã chiếm tới gần 50% thị phần môi giới cổ
phiếu trong nước; trong đó dẫn đầu là SSI (HSX) với mức lãi ròng trên 448
tỉ đồng, tăng 27% so với năm 2011, thứ hai là HCM (HSX) với mức lãi ròng
hơn 246 tỉ đồng. Đối với mảng môi giới cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài,
10 công ty lớn nhất nắm trên 87% thị phần; trong đó SSI đứng đầu với gần
Hoạt động tự doanh là hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK)
thực hiện việc mua và bán chứng khoán bằng nguồn vốn của công ty.
Thời điểm hiện nay các CTCK hoạt động tự doanh vẫn chưa thực sự
nổi bật, các CTCK mới chỉ tập trung vào hoạt động môi giới. Điều này có
thể được nhìn nhận dưới rất nhiều lý do khác nhau như: tính chất phức tạp
của hoạt động tự doanh hay các CTCK chỉ muốn tập trung hoàn thiện nghiệp
vụ môi giới trước để từ đó rút kinh nghiệm triển khai các hoạt động có liên
quan trong tương lai.
Nghiệp vụ tự doanh của CTCK có thể chia thành 2 lĩnh vực:
Thứ nhất: các CTCK thực hiện việc mua bán chứng khoán niêm yết
cho chính công ty mình. Tuy nhiên, hiện nay do số lượng các chứng khoán
niêm yết còn ít nên nghiệp vụ này hầu như chưa được triển khai.
Thứ hai: các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh bằng hình thức như
mua chứng khoán không niêm yết trên OTC. Tuy nhiên hoạt động này phải
tuân thủ những hạn mức do pháp luật quy định.
Ngoài ra, một hoạt động tự doanh phổ biến hiện nay của một số CTCK
là việc mua chứng khoán niêm yết lô lẻ, sau đó CTCK sẽ gộp lại thành lô
chẵn để niêm yết và có thể bán lại trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán
(TTGDCK). Đây là một lĩnh vực có khả năng mang lại lợi nhuận tương đối
lớn cho các CTCK. Giá mua lô lẻ được xác định bằng thỏa thuận giữa khách
hàng bán với CTCK, do đó các CTCK có điều kiện để đưa ra mức giá phù
hợp để thu hút khách hàng, tạo sự chủ động cho các CTCK trong hoạt động
kinh doanh của mình.
Hiện nay có nhiều công ty đang thực hiện nghiệp vụ tự doanh rất
chuyên nghiệp. Kết quả thu được cũng khá khả quan. Công ty BVS, doanh
thu môi giới tăng mạnh của công ty chứng khoán BVS nhờ nguồn thu lớn từ
phí giao dịch của khách hàng lên tới 24 tỷ đồng, tăng 300% so với quý I.
Đối với nghiệp vụ tự doanh, quý II cũng đạt 36 tỷ đồng doanh thu, tăng
200% so với quý I. Chi phí trong quý II của BVS chủ yếu ở chỉ tiêu "dự
phòng giảm giá chứng khoán tự doanh". Trong quý II, BVS đã hoàn nhập dự
phát hành là 165 tỷ đồng. Trước thời điểm bảo lãnh, các CTCK không được
vi phạm luật chứng khoán trong 6 tháng liên tục, đồng thời, tổng giá trị bảo
lãnh phát hành không được lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu của tổ chức bảo
lãnh phát hành vào thời điểm cuối quý gần nhất tính đến ngày ký hợp đồng
bảo lãnh phát hành, trừ trường hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ,
trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Và, CTCK cũng phải có tỷ lệ vốn khả
dụng trên nợ điều chỉnh trên 6% trong 3 tháng liền trước thời điểm nhận bảo
lãnh phát hành.
Hoạt động bảo lãnh phát hành của các CTCK vẫn tập trung chủ yếu là
bảo lãnh phát hành các loại trái phiếu như trái phiếu chính phủ cho Kho bạc
Nhà nước, trái phiếu ngân hành, trái phiếu đô thị.
Trong những tháng vừa qua, có một số hợp đồng bảo lãnh phát hành
được thực hiện như: 10/06/2013 Kho bạc Nhà nước và Công ty cổ phần
Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) đã thống nhất để ký Hợp đồng nguyên tắc
thực hiện đợt bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 15 năm đợt
I/2013., Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ đại lý phát hành
trái phiếu và bảo lãnh phát hành trái phiếu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
với số vốn điều lệ của ngân hàng này là 1.500 tỷ đồng.
Nhìn chung, hoạt động tư vấn đã có những phát triển đáng kể so với
thời gian đầu. Theo Ủy ban Chứng khoá Nhà nước (UBCKNN), năm 2012
có gần 90 CTCK hoạt động có lãi. Hết năm 2012, tổng vốn điều lệ của các
CTCK là 29.856 tỷ đồng, tăng 11,6% so với năm 2011. Ngoài hội sở chính,
các thành viên đã có 94 CTCK với hơn 50 phòng giao dịch đang hoạt động
trên cả nước. Các CTCK cũng đã thực hiện trên 6.000 hợp đồng tư vấn và
bảo lãnh phát hành. Số lượng tài khoản giao dịch tại các thành viên này cũng
tăng mạnh với trên 900.000 tài khoản, tăng 2.1 lần so với năm 2011.
Số lượng người hành nghề kinh doanh chứng khoán ngày càng tăng.
Tính đến nay, UBCKNN đã cấp chứng chỉ người hành nghề chứng khoán
cho 2.744 nhân viên. Nhiều CTCK đã tuyển dụng được nhân viên có trình
độ, chuyên môn cao trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, góp phần nâng
Cấp I - Người sở hữu chứng khoán phải lưu ký chứng khoán tại thành
viên lưu ký (hiện có 13 CTCK, 2 ngân hàng trong nước và 3 ngân hàng nước
ngoài là thành viên lưu ký);
Cấp II - Thành viên lưu ký sẽ tái lưu ký chứng khoán đó tại TTGDCK.
Thực tế hiện nay, hoạt động đăng ký, lưu ký và bù trừ, thanh toán
chứng khoán (bao gồm cả chứng khoán niêm yết/đăng ký giao dịch và
chứng khoán không niêm yết/đăng ký giao dịch trên 2 TTGDCK) được thực
hiện thông qua 2 Phòng Đăng ký- Thanh toán bù trừ - Lưu ký chứng khoán
của 2 TTGDCK. Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Đăng ký - Thanh toán bù
trừ- Lưu ký chứng khoán tại TTGDCK là: đăng ký chứng khoán, lưu ký
chứng khoán,thanh toán bù trừ.
Trước đòi hỏi thực tế của TTCK Việt Nam và theo thông lệ quốc tế,
việc “gộp” 2 bộ phận đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán tại
2 TTGDCK để hình thành một TTLKCK độc lập với Sở Giao dịch Chứng
khoán/TTGDCK là một “thực tiễn khách quan”, làm cho loại hình dịch vụ
này trở lên an toàn hơn và chuyên nghiệp hơn.
TTLKCK đi vào hoạt động ngoài việc tạo sự đồng bộ về kết cấu hạ
tầng cho TTCK Việt Nam; cung cấp các dịch vụ đăng ký, lưu ký và thanh
toán, bù trừ chứng khoán,còn giúp giảm rủi ro, giảm chi phí, nâng cao hiệu
quả cho nghiệp vụ sau thanh toán, tiêu chuẩn hoá giữa các thành viên tham
gia thị trường, góp phần tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy tiến trình phát triển
và hội nhập, cung cấp các dịch vụ liên quan tới giao dịch chứng khoán. Điều
này gíp thị trừờng hoạt động có hiệu quả hơn
TTLKCK sẽ được tổ chức theo mô hình là các dịch vụ đăng ký, lưu ký,
bù trừ, thanh toán chứng khoán và các dịch vụ hỗ trợ cho việc hoàn tất giao
dịch trên TTCK sẽ do một tổ chức độc lập duy nhất thực hiện là TTLKCK,
không cần có thêm tổ chức bù trừ chứng khoán cùng đảm nhận
2. Cầm cố chứng khoán
Các nguyên tắc và phương thức cầm cố CK:
a. Là một nghiệp vụ kinh doanh CK - ít nhất có hai chủ thể tham gia:
Repo chứng khoán được hiểu là một giao dịch trong đó các chứng
khoán được mua ở tỉ lệ giao ngay và được mua lại ở tỉ lệ kì hạn. Về bản chất
thì nghiệp vụ repo giống như một khoản vay có đảm bảo bằng các chứng
khoán và các tài sản đảm bảo khác. Về hình thức biểu hiện thì repo chứng
khoán sử dụng một hợp đồng mua lại ( còn gọi là hợp đồng rp) trong đó quy
định các điều khoản mà mỗi bên tham gia phải tôn trọng.
Khi hai bên thực hiện kí một hợp đồng repo thì bên A tức bên Nhà
buôn sẽ thực hiện bán số chứng khoán tương đương với một khoản tiền vay
nào đó tại một tỉ lệ lãi suất chấp nhận được cho cả hai bên cho bên B ( nhà
đầu tư) và cam kết sẽ mua lại vào một thời gian nào đó (thông thường dưới 1
năm vì hợp đồng repo là công cụ trên thị trường tiền tệ).
Nói chung thì một giao dịch repo có hai giai đoạn là giai đoạn bán
chứng khoán và giai đoạn mua lại chứng khoán.
Tham gia chủ yếu vào giao dịch repo là các nhà đầu tư có tổ chức lớn
như ngân hàng, công ty chứng khoán., các quỹ đầu tư , các nhà buôn, nhà
kinh doanh chứng khoán, ngân hàng trung ương, các tổ chức cung cấp dịch
vụ riêng cho hoạt động repo. Hợp đồng repo cũng được coi là một công cụ
thực hiện chính sách tiền tệ trong ngắn hạn.
Để hoạt động repo diễn ra suôn sẻ và tránh thiệt hại cho mỗi bên khi giá
các chứng khoán repo bị biến động bởi thị trường thì các bên tham gia
thường thỏa thuận với nhau một biên độ giao động giá hay một khoản giảm
trừ đối với các chứng khoán repo. Vì thế giá của các chứng khoán cơ sở
thường thấp hơn so với giá thị trường. Khoản giảm trừ này là tương đối nhỏ
đối với các trái phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ và lớn hơn đối với cổ
phiếu.
Nghiệp vụ repo làm tăng tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu vì
thế rất quan trọng nếu muốnphát triển thị trường trái phiếu.
Còn ở Việt Nam, nghiệp vụ repo được các CTCK và ngân hàng thực hiện từ
năm 2003 đối với các trái phiếu chính phủ, đến nay nghiệp vụ này đã đi tới
cổ phiếu với mức độ rủi ro hơn nhiều so với trái phiếu. Đây cũng là nghiệp
7. Website :www.vi.wikipedia.org