Chúng ta đều biết,trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì mục tiêu lớn
nhất và cuối cùng của việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán tại
các quốc gia trong khu vực,và trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói
riêng là đều phục vụ cho chiến lược phaats triển kinh tế một cách hữu hiệu
nhất .Thông qua thị trường chứng khoán ,các nguồn vốn trong và ngoài nước
được tập chung sử dụng cho các dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội .Việc
hình thành và phát triển thị trường chứng khoán là bước phất triển tất yếu của
nền kinh tế thị trường mà trong đó chúng ta không thể không nói đến ngành tài
chính.
Hội nhập kinh tế quốc tế ,gia nhập WTO (1/11/2007),nói đến ngành kinh tế
VN chúng ta không thể không nói tới ngành tài chính VN.Với nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường ,với sự nỗ lực để rút ngắn khoảng cách trên con
đường hội nhập với nền kinh tế thế giới,cũng đòi hỏi phải có thị trường chứng
khoán.Nói đến thị trường chứng khoán là nói đến ngành tài chính.Bên cạnh đó
thì với nền kinh tế đầy biến động này thì ngành tài chính các quốc gia nói
chung và ngành tài chính VN nói riêng luôn chịu sự tác động của các vấn đề
lạm phát,tỷ suất,tỷ giá hối đoái.Để đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu của việc
nghiên cứu vấn đề lạm phát,tỷ giá ,tỷ giá hối đoái của các nước trong khu vực
và trên thế giới và tác động của chúng đối với ngành tài chính VN.Nhóm
chúng tôi đã cùng tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này với mục đích hy vọng
nhóm chúng tôi nói riêng và các bạn đọc nói chung sẽ phần nào hiểu được về
vấn đề trên trong khi học tập và nghiên cứu môn học thị trường chứng khoán.
Qua việc tìm hiểu ,nghiên cứu và làm đề tài tiểu luận này,chúng tôi sẽ
được trang bị thêm những hiểu biết chung về vấn đề lạm phát,tỷ suất,tỷ giá hối
đoái cũng như về thị trường tài chính ,thị trường chứng khoán,cơ cấu tổ chức
và hoạt động ,cũng như các chính sách để phát triển kinh tế xã hội….
Trong quá trình tìm hiểu,nghiên cứu và làm bài ,chúng tôi không thể tránh
khỏi những sai sót và còn rất nhiều mà chúng tôi chưa khai thác ,tìm hiểu hết.
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy giáo,các bạn sinh viênddeer
chất lượng bài tiểu luận của chúng tôi sẽ ngày càng hoàn thiện hơn.Nhằm phục
Tại SINGAPORE, nền kinh tế được coi là mẫu hình của khu vực và
trên thế giới lạm phát cũng đạt tới mức cao nhất trong vòng 26 năm qua
Tại INDONESIA ,sau khi lạm phát của tháng 4 tháng đạt mức cao nhất
trong vòng 19 tháng qua chính phủ nước này đã thông báo có kế hoạch
nâng giá nhiên liệu, một vấn đề rất nhạy cảm từng châm ngòi nhiều cuộc
biểu tình phản đối trong quá khứ
Các chuyên gia của nghân hàng quốc tế INDONESIA cho rằng nếu giá
nhiên liệu bình quân tăng khoảng 30% trong tháng này lạm phát tháng
5/2008 có thể sẽ rất cao và lạm phát cả năm có thể leo lên mức hai con số
trước đó INDONESIA đã quyết định tăng tiền gửi
Tại CAMPUCHIA, cũng đang chật vật chống đỡ lạm phát. Bộ kinh tế
tài chính nước này cho biết chính phủ đang nổ lực triển khai nhiều biện
pháp nhằm giảm tỷ lệ lạm phat từ mức 18,7% tháng giêng vừa qua xuống
mức một con số vào cuối năm 2008 hoặc chậm nhất là trong quý I năm
2009.CAMPUCHIA đang tăng cường khuyến khích đầu tư phát triển nông
nghiệp trợ giúp giá nhiên liệu, tăng dự trữ của các nghân hàng, giảm thuế
hàng hóa tháo gỡ một số rào cản trong cạnh tranh thương mại nhằm kiềm
chế lạm phát. Theo bộ tài chính và kinh tế CAMPUCHIA, nguyên nhân
khách quan khiến tỷ lệ lạm phát nước này tăng mạnh từ đầu năm tới nay là
do giá hàng hóa trên thị trường thế giới tăng mạnh nhất là giá dầu mỏ.
2.Lạm Phát ở Một Số Nước Trên Thế Giới:
- ở Liên Minh Châu Âu (EU):
Cơ quan thống kê của EU cho biết mức lạm phát hàng năm tại 15 nước
sử dụng đồng tiền chung châu Âu (EU) đã tăng lên mức kỷ lục 3,6% vào
tháng 3.Đây là mức tăng nhanh nhất trong vòng 16 năm qua.
-Lạm phát tiếp tục tăng cao là một trong những vấn đề lớn nhất mà
ECB và các bộ trưởng tài chính khu vực đồng EUR đối mặt.Uỷ ban châu
Âu vào tháng 5 tới sẽ phải hạ mức dự đoán tốc tăng trưởng KT của khu vực
so với mức dự doán hiện nay là 18%.Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) vừa dự báo
tốc độ tăng trưởng KT của khu vực đồng EUR chỉ đạt 1,4%năm 2008 và
cao nhất trong vòng một thập kỷ qua.
Nguyên nhân : chủ yếu là do dầu mỏ tăng giá, các mặt hàng lương thực,
thực phẩm leo thang đặc biệt là giá gạo và thịt lợn. Để trấn an dân chúng
không tăng giá lương thực thực phẩm do tâm lý.
Tại Ấn Độ : lạm phát đã leo lên mức cao nhất trong vòng 3 năm qua.
Ngân hàng trung ương Ấn Độ vừa quyết định giữ ổn định lãi suất để ngăn
chặn lạm phát.
Việc phát triển Hàn Quốc đã nâng mức dự báo lạm phát của Hàn Quốc
lên 4.1%. So với 2.8% đưa ra trước đây. Qúy 1/2008 lạm phát ở Australia
cũng đã tăng 4.2% mức cao nhất trong vòng 17 năm qua. Ngân hàng trung
ương Australia đã phải quyết định giữ nguyên lãi suất cao nhất trong vòng
12 năm qua là 7.25%.
Lạm phát ở Việt Nam .
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đối mặt với năm trước tăng 15.7% mức cao
nhất trong hơn 10% năm qua và hiện là tỉ lệ cao nhất tại các nước công
nghiệp hóa ở Đông Nam Á.
Tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên 2 con số trong 5 tháng qua đe dọa sẽ ảnh
hưởng đến sự ổn định về xã hội và kinh tế vĩ mô đã được đặt nền móng
bằng tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 8% trong 5 năm qua.
Vượt qua ngưỡng lạm phát 9% mức độ cho phép của mỗi quốc gia. Điều
này dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính phủ. Làm suy
vong nền kinh tế quốc gia. Bên cạnh đó tác động mạnh đến đời sống của
nhân dân nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang.
Vấn đề lạm phát phát đã có tác động làm giảm tốc đj tăng trưởng của Việt
Nam khi gia nhập WTO.
B_ TỶ SUẤT
1. TỶ SUẤT
TỶ SUẤT LÀ GÌ ?
Tỷ suất là tỉ lệ của tổng tiền gửi trả so với tổng số tiền vay trong một
Lãi suất huy động: là lãi suất ngân hàng áp dụng khi cần huy động
lượng tiền bằng nội tệ, ngoại tệ hoặc huy động tiền trong dự án.
Lãi suất cấp vốn :là lãi suất mà ngân hàng nhà nước áp dụng khi cấp
vốn cho các ngân hàng thương mại.
Lãi suất chiết khấu: là lãi suất khi ngân hàng trung ương vay tiền từ
ngân hàng nhà nước.
2.VẤN ĐỀ TỶ SUẤT
Từ các loại lãi suất trên ta thấy nhìn chung, không chỉ ở Việt Nam mà ở
các nước trong khu vực và trên thế giới đều sử dụng các loại tỉ suất như
nhau. Nhưng ở mỗi nước họ áp dụng mỗi mức tỷ suất khác nhau tùy thuộc
vào điều kiện và tình hình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia mình.
Để cụ thể hơn dưới đây là một số biểu lãi suất của ngân hàng PGBank
Biểu lãi suất huy động tiền tiết kiệm-PGBank
(áp dụng cho các cá nhân tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể)
Kỳ hạn Tiền gửi AND Tiền gửi EUR Tiền gửi USD
Trả lãi cuối
kỳ(%/năm)
Trả lãi cuối kỳ
(%/năm) (áp
dụng từ
24/2/2009)
Trả lãi cuối
kỳ(%/năm)(21/4/2010)
Không kỳ hạn NA 0.25% 0.50%
1 tháng NA 0.80% 3.00%
2 tháng NA 1.00% 4.00%
3 tháng NA 1.20% 4.30%
6 tháng NA 1.30% 4.40%
9 tháng NA 1.40% 1.5%
12 tháng NA 1.60% 4.70%
la mỹ trên thị trường ngoại hối đích danh bằng đô la mỹ là 16.015 VND bằng
một đô la hoặc “ tỷ giá hối đoái giữa đồng VIỆT NAM và đô la Mỹ trên thị
trường ngoại hối định danh bằng đô la Mỹ trên thị trường ngoại hối đích danh
bằng đồng VN là 0,0000624 đô la bằng một đồng
CÁC LOẠI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
- Tỷ giá hối đoái chính thức và tỷ giá hối đoái song song.
- Tỷ gá hối đóai danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế
- Tỷ giá hối đoái song phương và tỷ giá hối đoái hiệu lực.
1.Vấn đề tỷ giá hối đoái của một nước trong khu vực và trên thế giới:
Hiện nay nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, …đều thực
hiện được việc sử dụng đồng tiền của từng quốc gia trên thị trường nội địa và
các nước đó đã đáp ứng được cả hai yếu tố về giao dịch ngoai tệ của người dân
và các nhân dân, về tiện ích và lợi ích:
Thái Lan đã “NEO” tỷ giá trong 13 năm từ 1984 đến 1997 là 1 USD/24-
25bath thả nổi tỷ giá từ tháng 7/1997. Khởi đầu cuộc khủng hoảng tiền tệ khu
vực, mấy năm gần đây vấn đề tỷ giá hối đoái đã ổn định hơn.
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền nước này với đồng tiền nước nọ
nên vấn đề tỷ giá hối đoái liên quan đến vấn đề bất ổn của thị trường tài chính
thế giới.
Tỷ giá hối đoái gần đây tại Hàn Quốc đã tăng hơn 200 won so với mưc
1259won/USD vào thời điểm cuối năm ngoái. Lý do chủ yếu khiến đồng won
mất giá mạnh. Như vậy là do sự bất ổn của thị trường tài chính thế giới. Gần
đây, do đồng đô la trở nên khan hiếm và tăng mạnh các nước buộc phải tìm
cách dự trữ đô la duy trì ổn định của thị trường tài chính. Trong nước cũng như
trong giao dịch với nước ngoài khác sự bất ổn của kinh tế Đông Âu cũng ảnh
hưởng không nhỏ tới thị trường Hàn Quốc.
Mấy năm nay giữa đồng đô la với đồng EUR của khối liên minh Châu Âu thị
giá USD trên thị trường thế giới giảm mạnh khi đồng EUR mới được lưu hành
giảm khá mạnh. Khi đồng EUR thì một đồng USD được một đồng EUR, môt
vài năm sau một usd ăn khoảng 1.3 eur nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn sau
Nền kinh tế VN đang ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới:
Câc vấn đề xuất nhập khẩu, về đầu tư nước ngoài đang là những chủ điểm cho
các cuộc hội thảo kinh tế ở VN.Làm sao đẻ tăng cường giá trị XNK,thu hút đầu
tư đó là những vấn đè đáng quan tâm cho những nhà hoạch định chính sách
nhìn nhận vấn đè XNK, đầu tư chúng ta không thể bỏ qua vấn đè tỷ giá hối
đoái, nhất là trong ngành tài chính nói chung và ngành tài chính VIỆT NAM nói
riêng.
Thị trường hối đoái VIỆT NAM đang đặc trưng là thiếu các công cụ phòng
chống rủi ro tỷ giá. Các doanh nghiệp dễ chịu tổn thất khi tỷ giá biến động và vì
vậy việc điều hành chính sách tiền tệ theo những mục tiêu kinh tế lớn thường
gặp nhiều trở ngại sử dụng tỷ giá bình quân liên ngân hàng làm thước đo phần
nào tạo ra một kết quả tích cực.
Tuy nhiên điều chỉnh như thế nào để tỷ giá theo sát được những cân đối lớn
của chính phủ và phản ánh lớn hơn cung cầu thị trường hiện vẫn là mục tiêu nan
giải theo quan điểm cá nhân, vấn đề này có thể xem xét ở các mức độ khác
nhau.
II .MỐI LIÊN HỆ GIỮA LẠM PHÁT, TỶ SUẤT, TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Như chúng ta đều biết lạm phát, tỷ suất, tỷ giá hối đoái là 3 vấn đề liên
quan trực tiếp tới nền kinh tế nó tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế xã
hội. Ba vấn đề này nó có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Khi lạm phát tăng cao, đồng nghĩa với việc ngân hàng nhà nước bơm tiền quá
trớn, điều đó sẽ dẫn tới giá cả của hàng hoá được đẩy lên rất cao. Ngoại tệ cũng
là một loại hàng hoá dễ mua bán và tích trữ không chỉ của ngân hàng mà còn
của cả doanh nghiệp, hộ gia đình. Với việc đồng tiền mất giá mạnh như vậy thì
việc mua ngoại tệ như vậy sẽ rất nhiều chi phí, ngoại tệ sẽ đội giá lên cao, đây
là chưa kể đến các khoản vay từ nước ngoài, Đến thời điểm lạm phát cao có thể
chúng ta sẽ mất nhiều hơn là đi vay mặc dù cũng đúng bằng một lượng tiền
ngoại tệ như vậy.
Quan sát tỷ giá và mức lạm phát của những nước xung quanh khu vực có cơ
động trong phạm vi tỷ suất lợi nhuận bình quân và trong một tình hình đặc biệt,
có thể vượt qua tỷ suất lợi nhuận bình quân. Còn tỷ giá hối đoái thì do quan hệ
cung cầu về ngoại hối quyết định, mà quan hệ này lại do tình hình của cán cân
thanh toán dư thừa hay thiếu hụt quyết định. Như vậy là nhân tố hình thành tỷ
suất và tỷ giá không giống nhau. Do đó biến động của lãi suất (chẳng hạn lên
cao) không nhất thiết đưa đến tỷ giá hối đoái biến động theo (chẳng hạn hạ
xuống). Tỷ suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chảy vào.
Nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế, tiền tệ trong nước không ổn định thì
không nhất thiết thực hiện được.
Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ suất, tỷ giá:
- Lạm phát giữa các quốc gia
- Cung cầu ngoại hối
- Cán cân thanh toán quốc tế (hệ quả cung cầu-ngoại tệ)
- Chính sách ngoại thương.
- Hoạt động đầu cơ
- Tình hình chính trị trong nước và quốc tế.
Từ tình hình của nền kinh tế, như chúng ta đều thấy, vào năm 2007 tình hình
lạm phát ở nước ta khá cao, giá cả hàng hoá tăng cao, đến 2008 nhà nước phải
đưa ra các biện pháp, chính sách để giảm lạm phát, để có thể giữ cán cân cân
bằng giữa tỷ suất và tỷ giá với sự phát triển của kinh tế và xã hội.
Tỉ số giá tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2008 tăng 11.6%, USD xuống giá thê
thảm (có lúc đang từ 16000 VNĐ/USD tụt xuống 15000 VND/USD) giảm bình
quân 4.32% so với đầu năm 2007 rồi đột ngột lại tăng mạnh trở lại xung quanh
16000VND/USD kéo theo tâm lý lo ngại có sự chuyển đổi tiền tệ do luồng vốn
đầu tư gián tiếp từ nước ngoài rời bỏ thị trường. Trong lúc giá trị đôỉ nội tệ
giảm, giá trị đối ngoại tăng thì giá vốn USD lại luôn có xu hướng tăng. Thậm
chí nhiều ngân hang thương mại sẵn sang huy động vốn và cho vay USD với lãi
suất trên 6% thanh khoản “cuộc đua” đã diễn ra khá căng thẳng, đến đầu tháng
3/2008, tình hình dịu đi phần nào nhờ ngân hang thương mại bơm tiền ra tương
ứng trước khi hút vào và khuyến cáo các ngân hàng thương mại không nên huy
về vốn lưu động cũng như có thể đáp ứng được các nguồn vốn vay cho các
doanh nghiệp .
Hoạt động KT được đẩy mạnh phát triển thường đi đôi với vấn đề lạm
phát,dễ dẫn đến những thay đổi về mức lãi suất,tỷ giá hối đoái trong hoạt động
kinh doanh,hương mại nhất là hoạt động trong ngành tài chính và cụ thể là thị
trường chứng khoán.
Do chịu ảnh hưởng của Tài chính thế thế giới .Nên khi tỷ giá giao dịch của
đông đola Mỹ đạt gần 20000VND/USD Năm 2009 .Vào trưa ngày 11/11,đã xác
lập kỷ lục về giá trị trường của đồng dola năm 2009.Nguyên nhân là do đầu cơ ,
những căng thẳng trên thị trường ngoại tệ .Trong giai đoạn 6 tháng cuối năm,
dẫn đến cơn sốt giá vàng diễn ra giữa tháng 11/2009 vừa qua,để giải quyết căng
thẳng ,ngầy 25/11 ngân hàng nhà nước VN quyết định điều chỉnh tỷ giá bình
quân liên ngân hàng từ 17 034VND/USD LÊN 17 961VND/USD,thu hẹp mức
chênh lệch đối với tỷ giá tại các ngân hàng thương mại 4,5% xuống 3% .Đay là
lần điều chỉnh biên độ tỷ giá thứ hai trong năm của ngân hàng nhà nước VN.Sau
khi nâng từ mức 3%-5% vào tháng 3.
Cách giải quyết này rất dễ làm cho giá cả trong nước tăng lên,đồng nghĩa
với việc làm lạm phát sẽ tăng theo,khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn
hơn,kéo theo đó là sự suy giảm SXKD trong nước và lãi suất cũng được điều
chỉnh tăng .Điều này dễ gây ra tình trạng kiệt quệ nền kinh tế.
Do đó ngân hàng nhà nước VN nên duy trì mức tỷ giá hiện tại là
17961VND/USD.Trong một thời gian dài để không tạo ra sự nặng nề thêm cho
nền kinh tế về lâu dài.Đúng theo tình hình mà có sự điều chỉnh linh hoạt tiếp
theo.
Muốn đạt được những điều đó,ngân hàng Nhà nước cần phải áp dụng các
giải pháp:hàng rào kỷ thuật ,dùng nghiệp vụ trong hệ thống ngân hàng ,dùng
chính sách hỗ trợ hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu ,phải vận dụng liên tục và
kêu gọi “ưu tiên người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”.Để các cty ,doanh
nghiệp VN đạt được lợi nhuận cao,có thể tăng nguồn vớn kinh doanh thông qua
các trung gian tài chính hay phát hành các loại chứng khoán của cty cổ phần đẻ
với quy luật cung cầu –NHNN phải thuyết phục chính phủ bỏ cơ chế lãi suất
trần theo lãi suất cơ bản,để tiến tới tự do hóa lãi suất mà nước ta đã làm từ năm
2002.
Hiện nay,VN đang nằm trong top những nước có lãi suất cơ bản cao nhất
thế giới,chỉ thấp hơn paskistan,venezuela.NHNN phải phát huy hiệu quả các
công cụ chính sách tiền tệ ,lãi suất chiêt khấu dự trữ bắt buộc,hoạt động nghiệp
vụ thị trường mở để điều tiết lãi suất thị trường phù hợp với mục tiêu tăng
trưởng kinh tế,ổn định kinh tế vĩ mô.
Về hoạt động của thị trường vàng ,do chưa có một cơ chế tập chung trong
việc quản lý nêndder sảy ra nhiều vụ ồn ào thị trường,gây ra những cơn sốt khi
giá vàng tăng cao.Hai phương án sử lý sàn vàng đaax được gân hàng nhà nước
đệ trình chính phủ ,đó là vào thời gian tới thị trường vàng được quản lý tập
trung theo đúng pháp luật,và lâu dài có thể tổ chức dưới hình thức sở giao dịch
vàng giống như sở giao dịch chứng khoán.
Riêng ở thị trường vàng vật chất ,Nhà nước ta cần phải vận hành một cách
có hệ thống và liên thông với giá vàng thế giới nhằm hạn chế tối đa việc xảy ra
hiện tượng bong bóng giá gây rối loạn thị trường tiền tệ.
Việt Nam là quốc gia có nền kimh tế đang phát triển ,hoạt động phát triển
kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế thế giới đặc biệt là ngành tài chính.
Ngành tài chính Việt Nam tuy là ngành mới phát triển nhưng đã đạt được
nhiều hiệu quả kinh tế cao trong những năm gần đây nhưng lại chịu sự ảnh
hưởng mạnh mẽ của ngành tài chính thế giới. Nhất là hiện nay VN đã gia nhập
vào tổ chức kinh tế thế giới WTO .Hoạt động kinh tế mở đã đem đến cho VN
nhiều vơ hội phát triển ngành tài chính nhưng cũng phải chịu những tác động
không nhỏ khi các vấn đề lạm phát ,tỷ suất và tỷ giá hối đoái của các nước trong
khu vực và trên thế giới có sự biến động tăng lên hoặc giảm xuống,vì vậy,chính
phủ VN cần có những biện pháp để duy trì ,thay đổi để điều chỉnh các mức tăng
giảm cho phù hợp theo từng thời kỳ để ổn định nền kinh tế vĩ mô và phat triển
kinh tế đất
08559617
8584227
4 In bài Nguyễn Văn Đạt 29/05 08568447