Giáo trình Môn Bố cục chất liệu Sơn dầu - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐAI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
Môn Bố cục chất liệu Sơn dầu
Hệ ĐHSP Mỹ thuật trường ĐHSP Nghệ thuật TW.
Người biên soạn: Th.s Nguyễn Thị Trang Ngà
HÀ NỘI 2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
2
LỜI NÓI ĐẦU 3
HỌC PHẦN II: BỐ CỤC CHẤT LIỆU SƠN DẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CHẤT LIỆU SƠN DẦU 2
1.1. Khái quát chung về tranh sơn dầu 2
1.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển của tranh sơn dầu 4
1.3. Tính chất và đặc điểm của tranh sơn dầu 5
1.4. Chất liệu, dụng cụ vẽ sơn dầu 6
1.5. Chuẩn bị vật liệu để vẽ 10
1.6. Phương pháp vẽ sơn dầu 11
1.7. Kỹ thuật cơ bản thể hiện chất liệu sơn dầu 17
CHƯƠNG II : NHỮNG KIẾN THỨC NÂNG CAO VỀ KỸ THUẬT VẼ TRANH
SƠN DẦU 32
2.1. Tính biểu cảm của chất liệu 32
2.2. Nghiên cứu về kỹ thuật sơn dầu cổ điển 33
2.3. Nghiên cứu về kỹ thuật sơn dầu hiên đại 33
2.4. Hướng dẫn thực hiện 37
KẾT LUẬN 39

LỜI NÓI ĐẦU
Sơn dầu là một chất liệu cơ bản và tốt nhất của nghệ thuật hội họa Tranh sơn
dầu được sáng tác ở nhiều nước trên thế giới và là chất liệu dễ vẽ, dễ sử dụng.Ở nước
ta tranh sơn dầu cũng rất phát triển, nó ra đời từ khi có trường Mĩ thuật Đông dương

chưa có sự hướng dẫn về phương pháp học tập và nghiên cứu, đặc biệt là phương pháp
tự học theo xu hướng tích cực như hiện nay của chương trình ĐHSP Mỹ thuật.
Vừa qua, Bộ bộ môn Bố cục có tiến hành biên soạn giáo trình mới theo chương
trình đào tạo trình độ CĐSP. Tuy vậy, so với yêu cầu và sự đổi mới về nội dung,
phương pháp dạy học Mỹ thuật ở trình độ Đại học thì giáo trình này chỉ phù hợp cho
hệ Cao đẳng SP, vì thế cần phải có giáo trình phù hợp với chương trình ĐHSP và từng
chuyên khoa chất liệu cụ thể là điều tất yếu.
2. Mục tiêu:
- Sinh viên hiểu được thể loại tranh sơn dầu
- Nắm vững được kỹ thuật sơn dầu.
- Thể hiện được các bài tập thực hành chất liệu sơn dầu.
-Nâng cao kiến thức chung và hiểu biết về nghệ thuật hội họa.
Điều cần biết trước:
- ĐÓ thực hiện tốt bài tập này, người học cần biết và nắm vững các kiểu kiến
thức cơ bản về chất liệu sơn dầu.
-Biết vận dụng các kiến thức từ những bài học môn hình họa, trang trí bố cục,
ký họa….
-Tìm hiểu xem trước các bức tranh, các tác phẩm nghệ thuật hội họa qua sách
báo, các cuộc triển lãm.
1
- SV được học về khái niệm, sự hình thành và phát triển của nghệ thuật tranh
sơn dầu, kỹ thuật thể hiện chất liệu và thực hành tốt các bài tập về chất liệu sơn dầu.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CHẤT LIỆU SƠN DẦU
1.1. Khái quát chung về tranh sơn dầu.
Tranh sơn dầu là loại tranh dược vẽ bằng màu sơn (màu dầu) hay còn gọi là sơn
dầu, lên các chất liệu khác nhau như trên tường nhà, trần nhà, trên kính, gỗ nhưng đại
đa số được sang tác trên vải ( toan) vì vậy thể loại tranh này cũng được lấy tên từ chất
liệu là màu vẽ và đó là tranh sơn dầu.
Tranh sơn dầu là loại tranh xuất hiên sớm có nhiều và phổ biến ở nhiều nước

Tranh sơn dầu được sáng tác ở nhiều nước trên thế giới và là chất liệu dễ vẽ, dễ
sử dụng.Ở nước ta tranh sơn dầu cũng rất phát triển, nó ra đời từ khi có trường Mĩ
thuật Đông dương và đi song hành cùng với sự phát triển của nền hội họa hiện đại.
Van Eyck : Đức mẹ năm 1439
3
Leonardo da Vinci: Mona Lisa
Tô Ngọc Vân: Thiếu nữ bên hoa huệ
1.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển của tranh sơn dầu.
Nền văn minh cổ xưa nhất ở vùng Địa trung Hải, bao gồm La Mã, Hy Lạp và
Ai cập ( t.k.6 TCN- t.k 4 ) đẫ biết trộn các hạt màu tìm thấy trong thiên nhiên với sáp
ong để vẽ. Từ cuối thời La Mã cổ đại( t.k 4) cho đến đầu thời kỳ Phục Hưng( thế kỷ 15
) kỹ thuật cổ đó dần được thay thế bằng sơn dầu và tempera ( màu trộn lòng đỏ trứng
gà). Lúc đầu, ở Hy Lạp và Ý người ta dùng dầu ooliu có nhược điểm là rất lâu khô.
Kết quả nghiên cứu gần đây nhất cho thấy sơn dầu đã được dùng để vẽ từ thế kỷ 5-7
tại Tây Afganistan ( 12 trong số 50 hang tại Bamiyan). Các nhà khoa học từ 3 trung
tâm nghiên cứu của Nhật, Pháp và Mỹ đã dùng các phương pháp khác nhau để phân
tích hàng trăm mẫu thử. Họ phát hiện ra rằng hàng trăm những bức họa trên tường
hang ở Bamiyan được vẽ bằng màu, trong đó có vermillion ( sulfide thủy ngân) và
lapislazuli ( gần bamyian có mỏ lapis lazuli ) trộn với dầu hạt thuốc phiện và dầu
walnutt ( hạt cây óc chó), với một kỹ thuật vẽ nhiều lớp, có cả láng màu, tương tự như
kỹ thuật vẽ sơn dầu của thời Trung cổ sau này. Từ đó có vẻ như kỹ thuật vẽ sơn dầu đã
được lan truyền sang phương tây theo con đường tơ lụa. Tu sĩ Theophilus (- 1070-
1125) là người công bố cuốn sách đầu tiên đề cập tới kỹ thuật vẽ tranh sơn dầu nhan
4
đề ‘ Latin, về các nghệ thuật khác nhau’’. Cuốn sách viết bằng tiếng Latin gồm 3
tập.Tập 1 viết về cách chế tạo và sử dụng họa phẩm. Tập 2 viết về chế tạo kính màu và
kỹ thuật vẽ trên kính. Tập 3 viết về kỹ thuật kim hoàn và cách chế tạo đàn đại phong
cầm. Đó là cuốn sách đầu tiên trong lịch sử đề cập tới tranh sơn dầu. Trong thế kỷ 19
và 20 cuốn sách đã được dịch ra 9 thứ tiếng ( Anh, Pháp, Ba lan, Hung, Đức, Nhật,
Rumani và Nga).

- Là loại tranh dễ vẽ: do đặc tính chất liệu này có nhiều và dễ chế tác ở nhiều
hãng và nhiều nước trên thế giới đồng thời nó cũng là chất liệu dễ vẽ và dễ sử dụng.
Đây là nguyên liệu được sử dụng rộng rãi trong sáng tác cũng như học tập mĩ thuật.
- Là loại tranh có thể vẽ nhiều thời gian: Từ xưa đã có những tác phẩm được
sáng tác trong nhiều năm bởi do những đặc tính của chất liệu
- Là loại tranh có thể vẽ nhiều lớp:
- Là loại tranh có khả năng diễn tả phong phú:
- Là loại tranh có độ bền cao:
- Là loại tranh được nhiều họa sĩ yêu thích:
- Là loại tranh có nhiều tác phẩm đóng góp cho sự phát triển của nền hội họa:
1.3.2.Đặc điểm của tranh sơn dầu
- Nếu như sơn mài đặc biệt ở kỹ thuật thì cái tạo nên đặc điểm của sơn dầu
chính là chất gai để trộn màu. Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông định nghĩa sơn
dầu là một loại màu bột nghiền kỹ trộn với dầu lanh ( hay dầu cù túc). So với bảng
màu đặc biệt của sơn mài thì bảng màu sơn dầu phong phú xứng đáng được coi là
những phím đen, phím trắng trên cây đàn dương cầm
- Khả năng biểu cảm
- Nguyên vật liệu :
+ màu
+ Đặc tính của màu:
+ Cách pha trộn màu
+ Dung môi, chất trung gian
- Kỹ thuật vẽ:
1.4. Chất liệu, dụng cụ vẽ sơn dầu.
1.4.1. Vật liệu đỡ: thường được chia làm 3 nhóm:
- Vật liệu có mật độ trung bình: bảng gỗ ép
- Vật liệu nhẹ: vải
- Vật liệu mỏng: giấy sợi bông tốt nhất, giấy thường, bìa, giấy bồi.Mặt phải đủ
ráp để sơn dính vào nhưng lại không được hút sơn để khỏi bị xuống màu, không được
co giãn nhiều quá khi nhiệt độ thay đổi để sơn khỏi bị nứt vỡ.Vì thế vật liệu phải được

Nhóm thứ nhất để pha lỏng sơn, chùi sơn, lau cọ…biến chế từ những chất lấy từ
thảo mộc hay động vật và có nhiều tên khác nhau thông như người ta gọi là Thinner
hay Turpentine Loại không mùi, đắt tiền hơn nhưng không làm cho phòng vẽ bị
ngộp. Loại đắt tiền dùng rửa cọ trong thời gian lâu không dùng sẽ giúp cọ ít bị đóng
cứng.
Nhóm thứ hai dùng để pha chút ít vào mầu giúp cọ đưa lướt nhẹ nhàng hơn.
Nhóm này không bay hơi, từ từ khô đi và đóng cứng lại với mầu. Thông dụng nhất
trong nhóm này là Linseed Oil.
7
Trừ trường hợp cần thiết, ngoài ra không nên dùng quá nhiều chất pha sơn vì
khi khô mầu bi xỉn, mất rực rỡ là một đặc tính của sơn dầu.
- Có một số chất phụ khác tuy không dùng thường xuyên nhưng cũng nên biết
như chất làm cho sơn mau khô, chất bảo vệ tranh khi đã hoàn tất và sơn đã thật sự khô
(matte varnish/gloss varnish). Lạm dụng chất làm sơn mau khô khiến sơn sau khi khô
dễ bị nứt nẻ. Chỉ dùng chất phun lên tranh để bảo vệ và tái lập cái đẹp của mầu sau khi
sơn đã hoàn toàn khô, thông thường là sáu tháng đến một năm tùy lớp sơn vẽ dầy hay
mỏng.
Sơn dầu là các màu vẽ dùng cho họa sĩ được pha chế sẵn .Chất liệu Sơn dầu là
loai họa phẩm sắc tố ở dạng bột được nghiền kĩ với dầu lanh (cây gai) hay là cây cù
túc tạo ra dạng dẻo nhuyễn. Tuy nhiên để chế ra loại họa phẩm này phải đòi hỏi có sự
nghiên cứu, có kiến thức chuyên môn thì màu mới có thể giữ được độ dẻo ,nhuyễn, sắc
màu bền vững với thời gian, ít biến đổi.
Sơn dầu sau khi được chế biến , nó được đóng ở dạng tuýp hay hộp .Nhà sản
xuất luôn ghi rõ về độ phủ hay độ trong của từng màu vẽ ngay trên vỏ chứa. Điều này
rất thuận tiện cho các họa sĩ khi sử dụng trong sáng tác tranh. Sơn dầu có nhiều hãng
và nhiều nước sản xuất, chính vì vậy chất lượng của sơn dầu cũng khác nhau ở các
nước phát triển sơn dầu dùng cho họa sĩ được chế biến cầu kì tạo ra các màu đẹp có độ
bền vững thì giá thành cũng rất đắt.Cũng là sơn dầu dung cho vẽ tranh nhưng được sản
xuất đại trà và phổ biến chất lượng chưa thực sự cao và di theo đó là giá thành rẻ, học
sinh và sinh viên mĩ thuật có thể mua và sử dụng dễ dàng.

chung không bám màu và sợi dễ bị cong vĩ nhiệt độ.Ngoài các bút bẹt và tròn, bút hình
quạt thường được chuyên dùng cho vẽ xoa( làm mất vệt bút, hòa các chuyển độ vào
nhau, )
* Dung môi, dầu tạo màng, chất trung gian. dầu bóng
+ Dung môi: là dung dịch để hòa tan sơn dầu trong khi vẽ và rửa bút, palette
sau khi vẽ. dung môi tinh khiết phải có khả năng bay hơi hoàn toàn không để lại dấu
vết.
+ Dầu thông: là dung môi độc hại nhất và nặng mùi nhất bay hơi chậm, không
thể thiếu khi vẽ vì là dung môi duy nhất có khả năng hòa tan nhựa Dammar.
+ Xăng trắng: ít độc hơn dầu thông, thường được dùng để rửa bút và palette.
Xăng trắng là sản phẩm dùng để tẩy rửa sơn, thu được sau một chu trình chưng cất
phân đoạn dầu mỏ. Đầu tiên người ta chưng dầu thô thành dầu tây và nhiều hợp chất
lỏng cháy được. Những sản phẩm đó lại được trải qua 2-3 bước chưng cất nữa để cuối
cùng thu được các sản phẩm có nhiệt độ khác nhau và đã được sử lý theo nhiều kiểu
khác nhau
+ Dung môi không mùi: dùng khi không chịu được mùi dầu thông nhưng không
tốt bằng hay bay hơi chậm hơn dầu thông.
+ Dung môi rửa tranh: Dùng để lau vec-ni cũ bẩn khỏi tranh cổ, Phải rất cẩn
thận khi dùng và phải đưng lại ngay nếu màu cũng bắt đầu thôi ra.
+ Dầu tạo màng dàu thực vật dùng để trộn hạt màu làm nên màu sơn dầu, chủ
yếu gồm: dầu lanh. dầu thuốc phiện, dầu rum, dầu hạt óc chó. Dầu lanh thường được
9
un lên khiến dầu được cao phân tử hóa và oxi hóa trở nên đặc sánh hơn. Tuy nhiên
ngày nay dầu lanh đun thực ra chỉ là một lớp hợp chất của dầu lanh sống, dung môi
dầu tây và hóa chất làm khô. Dầu lanh được sử lý nhiệt bằng cách đun trong xoong
đậy kín ( không tiếp xúc với oxy được gọi là stand oil, đặc sánh như mật ong và khô
chậm. Stand oil tạo cho sơn một lớp men bóng. Thêm quá nhiều stand oil sẽ gây ra
hiện tượng mặt sơn bị nhăn nheo.
+ Chất trung gian: thêm vào để tạo hiệu quả ( thay đổi độ bóng, độ dày, tạo ra
kết cấu…)

do cá tính, do có liên tưởng họ sẽ có mong muốn được tái hiện bằng các yếu tố tạo
hình hoặc ở hình nét, màu sắc hoặc ở ánh sáng, không gian hay ở nhịp điệu cấu trúc …
ý đồ để nảy sinh nguồn hứng khởi là những điều vô cùng phong phú đa dạng, nhưng
chắc chắn rằng, người ta đã chấp nhận những khó khăn và trăn trở. Chúng ta biết có rất
nhiều bố cục đã được hình thành rất mau lẹ trong những giây phút nổi hứng của người
họa sĩ, ví dụ: Bức tranh "Những cô gái Avigmon" của Picasso chỉ tiến hành trong một
đêm mà đã trở thành một sự ra đời của xu hướng lập thể. Các bức "Tôm" của Tề Bạch
Thạch, "Ngựa" của Từ Bi Hồng đều được xem là những tác phẩm thần hứng, khoảng
cách rất ngắn ngủi, khi ra đời nhưng bản thân chúng lại trường tồn với thời gian.
Trong quá trình cảm hứng họ nhận thấy biểu hiện bằng nét, hay hình thể, màu sắc chất
cảm, cái nào là trung tâm, cái nào là hỗ trợ hoặc phối hợp ra sao. Họ phải chứng thực
thể nghiệm lên mặt tranh bằng nhiều cách như: vẽ ngay, phác thảo, kí họa tư liệu …
11
Đó cũng là giai đoạn mà người vẽ tìm đến năng lực và cảm hứng kết hợp nhuần
nhuyễn với nhau. Tất cả tạo thành một quy trình, từ cảm hứng dẫn đến việc hình thành
những ý tưởng và cho việc hình thành một hóa trang bố cục.
Trong sáng tạo nghệ thuật ở bất cứ loại hình nào, sự cảm nhận trước thiên
nhiên, cuộc sống và con người là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của tác phẩm.
Thông qua các giác quan, người ta cảm nhận được thế giới bên ngoài. Sự cảm nhận
này tác động vào con người từ thiên nhiên, cuộc sống và xã hội. Nó được bắt nguồn từ
một cảm xúc hoặc từ một kích thích nào đó. Có nó cũng xuất phát từ một câu chuyện,
một giai thoại, tình huống có sẵn hay từ sự vận dụng có sẵn, suy nghĩ và suy luận liên
hệ bản thân từ mỗi con người trước hiện tượng sự vật đó. Những cảm nhận này được
xuất hiện hình thành từ nhu cầu sáng tạo, từ tác động của tư duy tình cảm và tinh thần
của người vẽ.
Chủ đề hay ý tưởng sáng tác không phải xa lạ, nó chính là cuộc sống hay một
phần cuộc sống mà người họa sĩ tâm đắc, đôi khi có thể là những giấc mơ , hay câu
chuyện nào đó, cũng có khi là những bức xúc về các vấn đề xã hội.
1.6.2. Nghiên cứu tư liệu.
- Khai thác từ nghiên cứu ký họa

dáng hình cần lựa chọn. Chính vì vậy muốn đạt được một bố cục như ở phía ngoài như
quạt thóc thì tác giả phải rất thuộc về dáng. Nhưng cái thuộc đó phải có sự linh động tức
là phải chế biến, phải chuyển hướng, phải thay đổi cho nó phù hợp với bố cục và chính
đây, buộc hoạ sĩ phải chuyển tải hình ảnh làm sao cho đạt. Rồi những chỗ như sàng sẩy,
người ngồi, người cho thóc vào sàng, người sảy.v v. tất cả những dáng đó buộc người
hoạ sĩ từ những tư liệu, những vốn liếng ban đầu mình có, từ kí hoạ chuyển hoá những
dáng người cho hợp lý. Rồi người ngồi, người nghỉ tất cả làm sao có thể chuyển động có
nhịp điệu, có cao thấp để nó phù hợp, vừa để nó tạo thành một hình êlíp rộng lớn ở phía
bên ngoài, có nhịp điệu tự nhiên, hài hoà. Như vậy tài năng chính là một sự có sẵn
những tư liệu, nhưng nếu không biết chuyển hoá thì người ta không biết tạo ra một bố
cục đẹp. Vì vậy sự cuốn hút của nội dung, cuốn hút của sự việc, cuốn hút của từng lô
gích của sự sắp đặt bắt người hoạ sĩ phải chuyển biến tức là phải suy nghĩ sáng tạo trên
cơ sở những kiến thức, những khả năng mà mình đã được trang bị.
Bức tranh “tát nước đồng chiêm” của hoạ sĩ Trần Văn Cẩn nhờ những ký hoạ đẹp
có sẵn, ông chợt nảy ra một ý tưởng. Đây là những hoạt động đẹp của con người nhờ có
những hình ảnh cụ thể đã ghi chép được thì khi đưa lên mặt tranh kết hợp với chất liệu
sơn mài sẽ trở thành một tác phẩm đẹp. Như vậy do có những ký hoạ tư liệu đẹp thì hoạ
sĩ Trần Văn Cẩn vẽ “Tát nước đồng chiêm” mới thành công. Nếu người khác không có
ký hoạ đẹp thì vẽ “Tát nước đồng chiêm” không đẹp. Bởi vì ngồi xếp mấy người ngồi
tát nước sẽ bị cứng. Nó là một sự kết hợp rất nhiều yếu tố mới ra được sự thành công.
Như vậy luôn luôn trong quá trình sáng tác người vẽ phải suy ngẫm dựa vào
những tư liệu, dựa vào những hình ảnh mà mình đã có sẵn để tạo ra ý tưởng, những ý
tưởng đó có thể quy tụ vào những nét khái quát lớn để tiến hành làm bố cục và dựa theo
những đường hướng lên, những gợi ý lớn đó người vẽ lên chi tiết của tạo hình, của sự
sắp đặt, của sự diễn tả đậm nhạt, của hình thức bố cục, của không gian… của những
cảm xúc bất chợt cũng có thể tạo nên những thành công bất ngờ. Nhưng tóm lại quá
trình chuẩn bị từ kiến thức, tư liệu, tay nghề vẫn là quan trọng nhất.
13
1.6.3. Xây dựng bố cục.
Trong quá trình làm tranh bố cục, phương pháp xây dựng bố cục tranh các

Chúng ta phải tập làm quen với cách thức làm việc mang tính chuyên nghiệp này. Có
chuẩn bị kỹ lượng về thời gian, tư duy, suy nghĩ về một đề tài sắp vẽ thì kết quả bài
tập mới đạt kết quả cao. Đây là quá trình nung nấu, suy nghĩ, phát hiện định hướng, rồi
sắp đặt trong đầu hoặc ngay trong phác thảo trong tìm tòi nghiên cứu ở thực tế, ở mẫu,
ở màu sắc, ở những tư liệu mà mình có thể dựa vào đó để cảm xúc. Như vậy quá trình
14
tư này là một quá trình làm việc thật sự khi sáng tác tranh bố cục, từ một đề tài, ta xây
dựng hình tượng, bố cục sắp xếp nhân vật và có những ý niệm về bước đi hình thành
cho phù hợp với những ý tưởng mà mình định vẽ có sự khẳng định bằng tư duy, bằng
nghề nghiệp, bằng kỹ năng, kỹ thuật…
Quá trình sáng tạo là một quá trình có hệ thống, có một sự suy nghĩ lâu dài và
quá trình đó bao giờ cũng là những cảm xúc, nhằm phản ánh những vẻ đẹp, sự rung
động của trai tim trước cuộc sống.Tranh không phải là hình thức hoàn toàn ngẫu hứng,
hứng lên đặt bút vẽ không suy nghĩ, không tính toán mà tranh cũng không phải là một
hình thức để người ta chơi nhưng mảng màu, nét, mảng miếng mà bao giờ nó cũng là
sự kết hợp hài hoà giữa nội dung và hình thức tức là giữa cảm xúc và trình độ, khả
năng kinh nghiệm, học tập đã có một bề dày để thể hiện sự phong phú của nghệ thuật
tạo hình. Như vậy một bức tranh với nhiều ngôn ngữ khác nhau với sự biểu đạt khác
nhau nhưng nó vẫn chỉ là những yếu tố tạo hình như đường nét. Hình khối, mầu sắc,
chất cảm, ý tưởng không gian bố cục…được sắp xếp đặt trong một mối tương quan.
Quá trình sáng tạo bao giờ cũng đi từ ý tương rồi đến hình. Quá trình này là quá trình
tìm tòi và sáng tạo từ tâm hồn đến kỹ năng.Vậy có thể nói rằng dù ở trường hợp nào
thì quá trình sáng tác cũng là xuất phát từ tâm hồn phong phú, lòng yêu nghề mà chính
các em đã lựa chọn cộng với tài năng, kinh nghiệm và kỹ thuật thể hiện để khởi đầu
cho một hướng đi tìm tòi sự sáng tạo cái mới cho các bài tập bố cục
Cho dù kể cả trực hoạ là những bức tranh vẽ ngay ở thực tế thì người hoạ sĩ vẫn
phải có một tư duy về mặt hình tượng nghệ thuật. Ví dụ bức tranh “Nữ dân quân vùng
biển” của hoạ sĩ Trần Văn Cần, mặc dù đó là người mẫu thật sự ở khu chài Hòn Gai
được bày mẫu nhưng trong tất cả số sinh viên đi vẽ cũng thấy Trần Văn Cẩn chưa hình
thành một ý thức về xây dựng thành một tác phẩm mà chỉ là hình nghiên cứu sao chép

nước Nga trên bến sông. Giá trị thật sự chính là giá trị mà nó cụ thể dần ra ý tưởng ban
đầu. Ý tưởng ban đầu chỉ là một ý tưởng mơ hồ không rõ rệt nhưng mà dần dà nó nảy
sinh ra một cách cụ thể. Vậy đó là quá trình thiết lập trên mặt tranh một số những hình
ảnh, một số những mối quan hệ màu sắc, đường nét, bố cục … Sau đó ngày về nhìn
vào bức tranh (phác thảo) xem nó có khớp với ý đồ của mình không. Nếu nó chưa
khớp, thì vẫn phải sửa chữa và tìm tòi đến khi cảm thấy đã khớp với suy nghĩ của
mình thì mới dừng lại. Đấy là quá trình làm việc thật sự.
1.7. Kỹ thuật cơ bản thể hiện chất liệu sơn dầu
Nguyên tắc căn bản: Fat Over Lean.
Cho dù các họa sỹ có cách vẽ riêng, nhưng có một nguyên tắc căn bản đã trở thành
cố định “Sơn vẽ sau béo hơn sơn vẽ trước” (Fat over lean} hay vẽ trên nền sơn ít độ dầu.
Đây là một nguyên tắc họa sỹ sơn dầu nào cũng phải tuân theo khi vẽ để tránh những sai
17
lầm căn bản có thể làm hỏng bức tranh khi sơn khô. Fat over lean có nghĩa là mình đang vẽ
sơn dầu trên một cái base ít dầu hơn.
Tranh sơn dầu khô rất lâu. Có thể cần sáu tháng đến một năm mới hoàn toàn
khô. Trong thời gian này, dầu tiếp xúc với không khí từ từ khô cứng lại vì ốc-xít hóa
và hơi co lại một chút. Nếu ta vẽ “lean over fat”, hiểu là ta ta đang dùng turpentine pha
loãng sơn ra và dùng nó vẽ trên lớp sơn dầu (chưa khô hẳn), như vậy lớp trên sẽ khô
nhanh vì ít dầu hơn. Khi lớp dước khô sau sẽ khiến bức tranh bị bong ra hoặc nứt nẻ.
Bởi vậy khi vẽ sơn dầu, ta luôn luôn nhớ nguyên tắc “Fat Over Lean”. Có nhiều cách
vẽ fat over lean:
- từ từ tăng độ dầu trong sơn, khi vẽ.
- giảm bớt lượng dầu (pha loãng với turpentine) trong những lớp sơn đầu khi
vẽ.
- Dùng những mầu sơn khô mau để vẽ nền (xin coi lại đoạn nói về sơn dầu).
Vẽ trên sơn còn ướt (Alla prima):
Sơn dầu lâu khô. Người vẽ muốn hoàn thành một bức tranh trong cùng một lần
vẽ, buộc lòng phải vẽ ngay trên sơn ướt. Kết quả nhận được khi vẽ trên sơn ướt khác
xa kết quả khi vẽ trên sơn đã khô. Bởi lẽ lớp sơn mới vẽ có thể trộn với lớp sơn bên

Dù là sơn nền hay sơn lót, theo cách “vẽ trên sơn đã khô”, thì dĩ nhiên phải để
cho những lớp sơn này khô rồi mới vẽ lên. Ba đặc điểm chính của lối vẽ này là:
- Vì sơn dưới đã khô nên không thấm trộn với sơn mới vẽ, không tạo ra những
mầu phụ mình không thích. Cũng vì thế mà chúng ta phải pha trộn mầu trên khay.
- Bức tranh có thể vẽ chi tiết hơn, vì chúng ta có thể thêm đưòng vẽ hay những
lớp mầu một cách dễ dàng.
- Đợi sơn khô, chúng ta có thì giờ để suy nghĩ v à phát triển bức tranh kỹ lưỡng
hơn.
Vẽ cách này nên kiên nhẫn, đừng lạm dụng chất mau khô để pha vào sơn, vì
như thế khi khô, sơn có thể bị nứt hay tróc ra. Để sơn mau khô, người ta pha loãng
mầu với Turpentine, đặc biệt khi vẽ lót. Tuy nhiên không nên pha loãng quá vì sơn bị
xỉn đi.
Đi xa nhất theo lối vẽ này là Painting with glazes. Từ đầu tới cuối, bức tranh vẽ
bằng sơn pha loãng với turpentine. Vẽ kiểu này tương tự như vẽ mầu nước. Lối vẽ này
đã xưa cũ, chỉ còn dùng đôi chút với những lối vẽ khác, vì không tận dụng được cái
hay của sơn dầu và mầu sắc không bền.
Vẽ trên nền tráng dầu (Painting over a Base of Oil):
Dầu vừa là chất pha chế vừa dùng tráng nền để vẽ lên. Kỹ thuật này đặc biệt
thích hợp để vẽ cảnh sương mù. Trước khi vẽ, phủ một lớp dầu mỏng (Linseed Oil)
lên mặt canvas, đặc biệt những chỗ cần tạo ảo giác sương mù, hay mờ ảo như cảnh
mùa đ ông trong tranh thủy mặc. Khi vẽ lên chỗ có dầu, mầu tự động loang ra tạo ra ảo
giác cho người xem tranh. Kỹ thuật này giống kỹ thuật vẽ mầu nước. Tất nhiên tranh
vẽ lối này rất lâu khô và hy vọng bạn không dị ứng với mùi dầu.
Vẽ những đường nhỏ cạnh nhau (Painting with Small Strokes of colour):
Đây là cách vẽ được những người theo phái ấn tượng xử dụng nhiều nhất. Thay
vì pha mầu sẵn từ khay, người ta pha mầu bằng cách đặt những chấm nhỏ cạnh nhau.
19
Kết quả là mầu sắc nhìn sẽ lung linh. mầu sắc rực lên. Nói chung thì lối vẽ ấn tượng
có cái dẹp của nó, mặc dù chi tiết bị bỏ qua.
Sẽ là một sai lầm khi nói rằng sơn dầu là chất liệu của nền dân chủ để rồi ai

2- Kĩ thuật vẽ trực tiếp.
20
- Được vẽ chồng lớp trực tiếp ướt lên ướt từ đầu đến cuối, tất cả các loại màu
cũng như toàn bộ mặt tranh đều được vẽ kín, bức tranh khi vẽ xong tạo cảm giác như
được vẽ chỉ sau 1 buổi, không ngừng. (kỹ thuật vẽ này có ưu điểm là có được bề mặt
sơn trên tranh óng ả và giữ được những sắc mầu tươi tự nhiên…Tuy nhiên, người vẽ
phải có sự chủ động trong từng nét bút…) Kỹ thuật này cũng rất thông dụng trong lối
vẽ hiên đại.( Trường phái Ấn tượng …)
3- Kĩ thuật vẽ kết hợp 2 cách trên
- Lối kĩ thuật này cũng rất thông dụng, phổ biến trong hội họa hiện đại,( người
vẽ có thể chồng lớp, tạo chất bằng các kĩ thuật láy,day bút,hay dùng bay, tạo chất băng
các loại dụng cụ…)
Ngoài ra, người vẽ cũng chú ý một số nguyên tắc cơ bản như sau:
1- Vẽ sơn nhiều dầu trên lớp sơn ít dầu
2- Vẽ lớp dày trên lớp mỏng
3- Vẽ sơn dầu khô trên sơn nhanh khô
Qua một số những kỹ thuật cơ bản đã nêu trên thì chúng ta cũng hiểu, những kỹ
thuật trên chỉ là những nền tảng ban đầu.Mỗi lối vẽ, mỗi trường phái đều có những kỹ
thuật riêng để thể hiện các tác phẩm.Vì vậy, người vẽ cần phải chủ động sáng tạo
những kỹ thuật phù hợp. Mỹ thuật là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, mỗi tác phẩm , mỗi
bài học vừa là cụ thể, vừa là trừu tượng, khi học MT,người học phải chủ động luyện
tập & thực hành, trên cơ sở đó dần dần hình thành nên tảng kiến thức, kĩ năng, từ đó sẽ
thể hiện được những tác phẩm tốt trên tư duy sáng tạo chủ động của riêng mình.
1.8. Một số thể loại tranh sơn dầu
1.8.1. Bố cục tranh tĩnh vật
Đúng như tên gọi, tranh tĩnh vật là loại tranh vẽ những vật tĩnh, không động
như các vật dựng trong nhà: bình, ấm chén, bát, lọ…, các loại hoa, lá v.v… Thông qua
tâm hồn, suy nghĩ của họa sĩ, tranh tĩnh vật thể hiện cuộc sống thực của nó, khơi dậy
tình yêu thiên nhiên tha thiết, động vật, đồ vật, và cao hơn tranh tĩnh vật còn nhằm
mục đích ca ngợi con người, ca ngợi sức sáng tạo và sự cải tạo của con người đối với

tác phẩm của Tây Ban Nha và Italia, đặc biệt của Hà Lan. Vào thế kỷ XVII, khi chủ
nghĩa hiện thực ở các nước này đến mức hưng thịnh, tranh tĩnh vật đã trở thành một
thể loại hội họa độc lập.
Ở Hà Lan vào buổi đầu, loại tranh này chỉ chọn một số đối tượng miêu tả đơn
giản: giăm-bông (đùi lợn), mẩu bánh mì, cốc chén và tẩu thuốc lá. Dần về sau, đời
sống vật chất phát triển, đối tượng miêu tả cho tĩnh vật cũng trở nên phong phú, toàn
diện hơn. Những đĩa, những hình bằng bạc, cốc, đồ đựng bằng thuỷ tinh, những trái
cây, con sò quý hiếm… cũng xuất hiện mỗi lúc một nhiều hơn, rồi đến các loại khăn,
hoa trái… rực rỡ sắc màu làm cho tranh tĩnh vật phát triển đến đỉnh cao, gắn liền với
tên tuổi của các họa sĩ nổi tiếng như Vin-lam Cla-áo Hê-đa (1594-1682), A-bra-em
Van Bây-e-rem (1621-1695), Vin-len Can phơ (1622-1693), Giăng Đa-vít-xơ đơ He-
em (1906-1684)… Họ say sưa khai thác nhiều đề tài quen thuộc và hấp dẫn như:
"Những thức ăn sáng", "Cá và cua", "Hoa quả"… với từng mớ, từng bó bày biện đẹp
đẽ, chứa đựng sức sống tràn trề của người và vật. Cuối thế kỷ XIX, họa sĩ Cezanne->
22

Trích đoạn Nghiên cứu về kỹ thuật sơn dầu cổ điển
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status