MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG: 1
1. Khái niệm: 1
2. Những yếu tố cơ bản trong bố cục tranh 4
2.1. Ý tưởng 4
2.2. Hình mảng và đậm nhạt 5
2.3. Hình tượng 6
2.4. Đường nét và nhịp điệu 7
2.5. Màu sắc 11
3. Quan hệ giữa nội dung và hình thức 14
4.2. Bố cục hình tam giác 15
4.3. Bố cục hình chữ nhật và các dạng bố cục khác 16
5. Phương pháp xây dựng bố cục tranh 17
5.1. Nghiên cứu lựa chọn nội dung chủ đề, tìm ý tưởng bố cục 17
5.2. Tìm tư liệu để xây dựng bố cục tranh 18
5.3. Xây dựng hình tượng nhân vật 19
5.4. Lựa chọn hình thức bố cục 20
5.5. Phác thảo bố cục mảng đen trắng, màu 21
5.6. Thể hiện tranh( phóng hình, tìm hình, vẽ màu) 22
8. Bài tập thực hành : 25
8.1. Bài tập 1: Đề tài tự do 25 tiết (10 + 15) – Khổ giấy 30 cm x 40 cm 25
8.2. Bài tập 2: Đề tài Thiếu nhi 30 tiết (15+15) – Khổ giấy 40 cm x 60 cm 25
8.3. Bài tập 3: Đề tài sinh hoạt 30 tiết (15+15) – Khổ giấy 40 cm x 60 cm 26
8.4. Bài tập 4: Đề tài lễ hội 30 tiết ( 15+15) – Khổ giấy 45 cm x 60 cm 26
8.5. Bài thi học phần theo đề thi 30 tiết (15+15) – Khổ giấy 45 cm x 60 cm 27
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN: 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
BỐ CỤC 1
1. TÊN HỌC PHẦN: BỐ CỤC 1 ( 5T lý thuyết + 145T bài tập nghiên cứu )
2. SỐ TÍN CHỈ : 02
tạo hình phương Đông. Để vẽ được một bức tranh mang giá trị nghệ thuật đòi hỏi
người học phải nắm được những cơ sở khoa học đó của hội họa, trong đó bố cục là
1
một môn học không thể thiếu của sáng tác hội họa. Bố cục chính là phương pháp tự
rèn luyện bằng nhận thức và thực hành, của học sinh- sinh viên mỹ thuật. Có thể nói,
bố cục là phương pháp tìm tòi, xác định một hình thức biểu đạt thích hợp cho một nội
dung tranh có trong ý đồ của người vẽ. Quá trình này vừa là quá trình làm việc vừa là
quá trình nghiên cứu thể nghiệm và sáng tạo.
Khái quát hơn nữa, bố cục là phương pháp làm việc mang tính chiến lược, trước
khi đi vào diễn tả hoàn chỉnh, nhằm xác định hình thức biểu đạt hữu hiệu nhất cho việc
xây dựng một hình tượng nghệ thuật- một nội dung. bằng ngôn ngữ của nghệ thuật
hội họa như: Đường nét, hình mảng, màu sắc, đậm, nhạt, chất cảm Người nghệ sĩ
bằng những năng lực sáng tạo của mình đã tái tạo hiện thực khách quan trên tác phẩm
nghệ thuật. Như vậy Bố cục là dùng ngôn ngữ của hội họa như hình mảng, đường nét,
đậm nhạt, màu s¾c, chất cảm để sắp xếp trên một mặt phẳng, trong một khuôn khổ
nhất định về một nội dung, chủ đề mà người vẽ cần thể hiện. Bố cục là sự sắp xếp, sắp
đặt các yếu tố của nghệ thuật tạo hình sao cho hợp lý và đẹp mắt.
Nói cách khác, bố cục là phương pháp rèn luyện cả bằng nhận thức và trong
thực hành của sinh viên mỹ thuật là phương pháp làm việc tổng hòa các yếu tố như
đường nét, hình thể, đậm nhạt, màu sắc, chất cảm,…tìm ra một giải pháp tối ưu cho
bức tranh. Bố cục còn gọi là sự tìm tòi, xác định một hình thức biểu đạt thích hợp
nhất cho một nội dung tranh có trong ý tưởng của tác giả. Quá trình này vừa là quá
trình làm việc, vừa là quá trình nghiên cứu, thể nghiệm và sáng tạo.
Bố cục còn được hiểu là sự sắp xếp các ngôn ngữ tạo hình bao gồm: Đường nét,
màu sắc, hình khối theo một trật tự logíc được tạo trên không gian, mặt phẳng. Tuỳ
thuôc vào mỗi loại hình Nghệ thuật mà có những cách thức bố cục khác nhau.
2
Hội họa diễn tả không gian ba chiều trên mặt phẳng hai chiều. Nói như vậy
không có nghĩa là không gian ước lệ của hội họa phương đông, không tả chiều sâu
khối tích thì không gọi là hội họa mà ở đây là do những quan niệm tạo hình khác nhau.
chắc chắn rằng, người ta đã chấp nhận những khó khăn và trăn trở. Chúng ta biết có rất
nhiều bố cục đã được hình thành rất mau lẹ trong những giây phút nổi hứng của người
họa sĩ .Trong sáng tạo nghệ thuật ở bất cứ loại hình nào, sự cảm nhận trước thiên
nhiên, cuộc sống và con người là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của tác phẩm.
Thông qua các giác quan, người ta cảm nhận được thế giới bên ngoài. Sự cảm nhận
4
này tác động vào con người từ thiên nhiên, cuộc sống và xã hội. Nó được bắt nguồn từ
một cảm xúc hoặc từ một kích thích nào đó. Có nó cũng xuất phát từ một câu chuyện,
một giai thoại, tình huống có sẵn hay từ sự vận dụng có sẵn, suy nghĩ và suy luận liên
hệ bản thân từ mỗi con người trước hiện tượng sự vật đó. Những cảm nhận này được
xuất hiện hình thành từ nhu cầu sáng tạo, từ tác động của tư duy tình cảm và tinh thần
của người vẽ.
2.2. Hình mảng và đậm nhạt
Nghệ thuật hội hoạ là một nghệ thuật mặt phẳng vì trên đó chứa đựng toàn bộ
tất cả mọi hiệu quả mô tả. Giữa các hình thể có các mối liên hệ tương tác rất phong
phú. Mối liên hệ này thực ra không đơn giản, chúng có những mối liên hệ với nhau với
góp phần vào sự hoàn thiện của tác phẩm. Mối quan hệ tương tác giữa các hình mảng
dẫn đến những tác động thị giác, hiệu quả không gian thậm chí là cả những tác động
đến tâm sinh lý của con người. Về mặt thực tiễn, bất cứ hoạ sĩ nào từ xưa đến nay đều
phải xây dựng mối quan hệ các hình mảng và đậm nhạt để xây dựng tác phẩm nghệ
thuật. ở mỗi hoạ sĩ đều có cách thức sáng tạo riêng. Có thể nói lịch sử hội hoạ là lịch
sử của các trào lưu, các khuynh hướng tìm tòi khả năng biểu đạt của hội hoạ. Đến nay
các hình thức phối kết hợp các yếu tố tạo hình đã hết sức đa dạng và phong phú.
Đầu tiên con người nhận thức cảm xúc thẩm mỹ thông qua hình ảnh được
truyền tải qua kênh thị giác. Hình biểu hiện một thông tin nhận thức về sự vật cụ thể.
Người ta biểu hiện hình thể và đặc điểm của sự vật rất rõ nét có thể nói là rất hiện
thực. Đây là biểu thị sự quan sát và ghi nhớ hình thể có chú tâm và đầu tư trí nhớ về
hình dạng. Hình trong hội họa mang tính tổng hợp nhiều yếu tố tạo hình. Hình cảm
nhận qua thị giác mang ý nghĩa cái nhìn cụ thể, hình cơ bản mang ý nghĩa khái quát
biểu trưng, hình nhịp điệu phản ánh tính quy luật của tự nhiên, hình cấu trúc mang lý
trời đêm, nét đã tạo cho cả bầu trời trình tự đang chuyển động. Trong tranh của Paul
Kilee và Mondriau sự cân bằng của mảng và màu được nét đóng khung tạo sự cân
bằng ổn định. Tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ mảng màu tuy thay đổi đậm nhạt theo
không gian xa gần và khối, nhưng nó đã được hệ thống nét làm rõ hình chi tiết và cả
sự ổn định trên mặt tranh.
2.3. Hình tượng
Hình tượng trong sáng tác được xây dựng bởi sự quan tâm của người vẽ. Không
như ở hình nghiên cứu mà nó phải tổ chức trong một kết cấu hoàn toàn mới nhưng dựa
trên cơ sở hình nghiên cứu, những tư liệu ghi chép từ thực tế mà người vẽ đã khai thác
hình tượng đưa vào tranh là hình được xây dựng trên sự cô đọng nhất của hình nghiên
cứu. Nó không còn giống hoàn toàn như hình ghi chép mặc dù cả hai cùng sử dụng
phương tiện tạo hình. Hình tượng đưa vào sáng tác tranh là sự kết hợp giữa hình có
thật và hình trong tư duy của người vẽ, giữa hình nhìn thấy và hình trong đầu (tưởng
tượng, ý niệm, hình bằng trí nhớ …) để làm cho hai cái đó hòa hợp thì người vẽ trải
qua quá trình suy ngẫm và tìm tòi để sáng tạo. Từ hình tưởng tượng trong ý thức của
người vẽ được thể hiện dần ngày càng rõ nét cụ thể … trở thành cái mà người ta có thể
cảm thấy được. Vì vậy hình tượng nghệ thuật vừa có cái thực vừa có cái hư cấu của
người vẽ. Sự cần thiết đầu tiên cho người vẽ là cần phải thông qua một hình thể để đi
tới sự biểu hiện của cảm giác, của tình cảm, ý thức, quan niệm, tư tưởng sáng tạo của
mình qua hình tượng đó. Chính vì vậy hình tượng vừa là nội dung lại vừa là hình thức
của tác phẩm nghệ thuật. Nó vừa là cái riêng của người họa sỹ nhưng phảI khái quát
6
được cả cái chung của xã hội, có như vậy hình tượng đó mới có được sức sống lâu dài.
Để làm được điều đó việc đầu tiên của người vẽ là sự kích thích, xúc cảm thị giác tiếp
theo là tình cảm và tài năng sáng tạo của người vẽ. Những yếu tố có thật tưởng như rời
rạc trong cuộc sống khi được đưa vào tranh như đưa vào trong một cái lò lớn phức tạp
chịu sự điều tiết của người vẽ với những: nét, mảng, hình, màu sắc, chất cảm … luôn
luôn thay đổi được xây dựng bởi hàng nghìn cách khác nhau để trở thành hình tượng
nghệ thuật.
Những nghiên cứu của người vẽ trở thành hình tượng nghệ thuật ví dụ khi vẽ chân
hóa tất cả các thu nhận thị giác, ấn tượng thị giác đưa hình khối thành đường nét đặc
trưng, xúc tích, khai thác triệt để những đặc thù của sự vật đạt những hiệu quả theo ý
đồ sáng tạo. Nghệ sĩ Ai Cập diễn tả các nhân vật bằng đường viền uyển chuyển và sự
kết hợp cái nhìn ở các diện khác nhau, trên một mặt phẳng. Thân người trên một mặt
phẳng được nhìn đồng thời ở ba góc độ nhìn khác nhau, đầu và chân tay vẽ theo hướng
nghiêng trong khi mắt, ngực tả hướng chính diện, bụng và hông vẽ nghiêng 3/4. Mỗi
bộ phận của cơ thể được miêu tả bằng những nét đại cương nhất về hình thái. Không
phải diễn tả bằng một điểm nhìn thông thường của quy luật thị giác, bằng phương
pháp kết hợp nhiều điểm nhìn trên cùng một đối tượng nhưng nhờ sự biểu đạt của nét
hình tượng trong tranh không bị phi lý mà ngược lại nó còn tạo ra một hình ảnh trọn
vẹn và đầy đủ hơn, vẫn hài hoà với thị giác thông thường của người xem.
Săn chim, bích hoạ Ai Cập cổ đại
Đường nét trong một bức tranh đôi khi hiện ra mạnh mẽ, rõ ràng như trong các
tác phẩm của Gau Giun, Matisse … Cũng có khi nét ẩn biến đi chỉ còn là giới hạn giữa
sự vật với không gian như phong cách ấn tượng, khi đó trên bức tranh chỉ còn là
những nhát bút ngẫu hứng đầy sức biểu cảm.
8
Hai thiếu nữ bên bờ biển. 1891, tranh sơn dầu của Gauguin
Cô gái cầm ô. 1875, tranh sơn dầu của Monet
Trong các tác phẩm tạo hình, ngoài vấn đề nét mô tả hình thù đối tượng của thị
giác mà còn thể hiện sự chuyển động, diễn đạt không gian sáng tối, diễn tả chất của
nét. Tổ hợp lại là tính biểu cảm của nét đạt đến cái đẹp thẩm mỹ và thể hiện rõ ý đồ tư
tưởng của một bức tranh. Từ những tính chất của nét, người vẽ luôn tìm đến một
phương pháp biểu tả, biểu cảm phù hợp với đối tượng nhân vật trong tác phẩm. Thông
9
qua các tính chất của đường nét đối với cảm nhận của thị giác chúng ta thấy rõ sự
phong phú đa dạng của sự biểu cảm của đường nét. Do vậy, nghệ thuật luôn vươn tới
cái đẹp khó nắm bắt và người vẽ luôn đi tìm cho mình một bút pháp riêng trong các
ngôn ngữ tạo hình.
Khi vẽ tranh, người vẽ bao giờ cũng phác qua ý đồ bố cục của mình là đường
tác dụng kết hợp giữa quang học và thị giác, gọi là hiệu ứng quang sinh lý. Con mắt
thế gian lại coi màu sắc là thuộc tính vật thể liên kết với hình dáng, giúp ta phân biệt
vật này với vật kia. Còn đối với hội họa thì màu sắc là nhân tố biểu hiện tình cảm về
vẻ đẹp của không gian và hình thể, trong cuộc sống cũng như trong tác phẩm. Dưới
góc độ hội hoạ thì sắc và màu được ghép chung trong khái niệm màu sắc một trong
những biểu hiện bên ngoài làm rõ thêm đặc điểm của mỗi vật thể. Điều đáng ghi nhận
là màu sắc không sẵn có mà được sinh ra từ vô sắc. Khoa học đã giải thích rằng: ánh
sáng vốn trong suốt và không màu, khi va đập vào bề mặt vật thể rồi truyền tới mắt ta
sẽ gây một hiệu ứng là hiệu ứng quang sinh lý khiến cái vô sắc thành hữu sắc. Vì vậy,
chỉ những đối tượng được chiếu sáng mới thật sự có ý nghĩa trong việc chuyển hóa các
giải sóng ánh sáng thành màu sắc. Sự hiển thị của tất cả các màu thực chất là kết quả
pha trộn hết sức kỳ diệu từ ba màu gốc phát sinh do hiệu ứng quang sinh lý là lam, lục,
đỏ. Nói chính xác hơn là ba màu này kết hợp với ánh sáng và tức thì trong không gian
vẫn tồn tại những bộ phận hấp thụ ánh sáng như các khoảng đen tạo vùng tối và những
bộ phận để ánh sáng truyền qua, không gây va đập nên không phản xạ tới mắt như các
vật trong suốt và khoảng không. Vì sự kết hợp đó mà toàn thể không gian được lấp
đầy màu sắc mà nhờ vậy mà các màu đi với nhau trong quan hệ nào cũng được điều
chỉnh để đi đến hòa hợp. Màu sắc đem lại cho con người những cảm giác và cảm nhận
hết sức phong phú về thiên nhiên và còn phát hiện nhiều thi vị của cuộc sống. Có hai
tác động chính của màu sắc với cơ thể con người đó là tác động về tâm lý và sinh lý.
Những phản ứng về mặt tư duy, nhận thức khiến ta có những biến đổi về trạng thái
tình cảm như vui, buồn … khi bị màu sắc tác động. Nói chung những màu tươi thường
có tác dụng kích thích, hưng phấn, tạo nên sự vui vẻ náo nhiệt do đó nó hay có mặt
trong các cuộc vui như cưới hỏi, tiệc tùng. Những màu dịu đem lại sự thư giãn, nhẹ
nhàng, thoải mái. Những màu trầm, tối thường đi với tâm trạng u uất, buồn chán, song
đôi khi cũng thích hợp với nếp tư duy sâu lặng và thanh tao. Về sinh lý là những phản
11
ứng sinh học của cơ thể khi tiếp nhận màu như nóng bức, mát mẻ, sảng khoái hay mệt
mỏi. Những phản ứng này hoàn toàn giống nhau đối với tất cả mọi người.
Cá vàng. 1911, sơn dầu của Matisse
Hiên nhà ở Sainte – Adresse. 1867, sơn dầu của Monet
Trong học tập và nghiên cứu khả năng màu sắc còn phụ thuộc vào thể trạng của
từng người, hay còn gọi là tạng. Có những người có năng khiếu đặc b iệt về một mặt
này song lại yếu kém ở mặt kia. Trong việc xử lý màu sắc ta có thể phân ra làm 3 loại:
Một là, dạng có khả năng chép lại từ mặt phẳng thích hợp việc chép tranh. Có
thể chép chính xác màu từ một phác thảo, bức tranh.
Hai là, dạng có khả năng chép được màu từ không gian và mặt phẳng. Có thể vẽ
trực tiếp với các đối tượng xung quanh. Dạng này có thể sao chép đúng màu từ thiên
nhiên, thích hợp với phong cách hiện thực.
Ba là, dạng không có khả năng sao chép một cách chính xác đối tượng từ không
gian cũng như trên mặt phẳng. Thích hợp cho việc sáng tác tự do, theo các khuynh
hướng cách tân như biểu hiện trừu tượng …
Đó là tạng của mỗi cá nhân đã có từ khi chưa được đào tạo chính quy. Còn đối
với người đã đi học phải rèn luyện để đủ được cả 3 khả năng trên. Để rèn luyện được
đủ 3 khả năng trên đòi hỏi phải học nghiêm túc theo chương trình các bài tập từ dễ đến
khó của môn trang trí và môn bố cục.
Nghệ thuật hội họa không thể thiếu màu sắc, đó là nơi người vẽ xây dựng tác
phẩm qua sự rung động của tâm hôn. Màu sắc biến hóa khôn lường trước sự vận động
13
của cuộc sống. Người vẽ trong sự sáng tạo của mình có thể gây tác động tích cực tới
mọi người thông qua màu sắc. Màu giúp người vẽ truyền tải được tâm tư tình cảm
cũng như các yếu tố thẩm mỹ, tư tưởng, tư duy, nó cũng là sợi dây kết nối giữa tác giả
và người thưởng thức tranh. Màu sắc là cái đẹp mang tính trực cảm để khán giả có thể
cảm thụ một cách tức thời. Lịch sử hội hoạ đôI khi là lịch sử của những phương thức
biểu đạt màu sắc, nó giúp hội họa ngày càng phong phú và đa dạng.
3. Quan hệ giữa nội dung và hình thức
Những nội dung cụ thể của tự nhiên, cuộc sống kể không hết, chúng ta có thể
khai thác và phản ánh thường xuyên trong nghệ thuật bằng nhịp điệu uyên nguyên của
tiềm thức và bằng tính “người” được khắc nét in sâu. Ai biết được từ bao giờ cái nhịp
điệu tuần hoàn của vũ trụ xuân-hạ-thu-đông…nhịp nhân sinh: khóc, cười, hít, thở…đã
niệm của người vẽ về thế giới, vũ trụ nhân sinh và hơn hết là xúc cảm thâm mỹ đẹp,
mới lạ và thân quen; cũng có khi là ánh sáng, có khi là sắc độ và nhiều yếu tố khác cấu
thành.
Tác phẩm “Người ném đĩa” Mi-rông được tạo hình ngay từ thời Hy Lạp cổ đại
đã thể hiện nét hiện đại trong bố cục. Nó được tạo lập từ sự hữu hình trong dáng thế
chuẩn bị ném đĩa với đường lực vô hình của động tác tay và ném đĩa trên một đường
tròn khép kín. Sự phối hợp giữa không và có trên một quỹ đạo tròn, tạo cho thị giác sự
liên tưởng tiếp diễn giữa cái cụ thể và cái chuyển động trong vô hình của lực làm cho
bố cục của tượng gây sự sinh động, nhịp nhàng của vẻ đẹp cơ thể người ném đĩa. Mi-
rông là một trong những nghệ sĩ đầu tiên của Hy Lạp đã đạt đến trình độ tinh xảo của
nghệ thuật.
4.2. Bố cục hình tam giác
Nếu như Kim tự tháp Ai cập được tạo dựng để biểu thị sự vững bền lý tưởng,
có lẽ nó cũng là ý niệm về sự vững bền được tạo dựng dựa trên sự thấu hiểu quan hệ,
thiên địa nhân mà các kiến trúc sư thời cổ đại để lại trong Kim Tự Tháp:
Quy luật xây dựng khoa học
Quy luật ướp xác
Sự nhận biết về các nguyên lý hoá học, vật lý, địa lý, sức bền vật liệu…
Tác phẩm “Thần tự do trên chiến luỹ”- Delacroa là một dạng bố cục khá đông
người, nhưng nếu nhìn tổng thể ta thấy bố cục trong dạng hình tam giác mà đỉnh và
cách tay và lá cờ Pháp quốc đựơc người thiếu nữ tượng trưng cho cách mạng Pháp
(đẹp- dũng cảm- hào hùng).
“Thần tự do trên chiến luỹ”, tranh sơn dầu của Delacroa
Qua bức tranh ta thấy cả sự vận động, ý chí sự phấn đấu như được vực dậy và
dẫn dắt bởi hình ảnh người phụ nữ, biểu tượng cho thần Tự do, tay dương cao ngọn cờ
ba màu, tượng trưng cho tự do - bình đẳng - bắc ái, lá cờ và người phụ nữ được đặt ở
vị trí trung tâm và cao nhất, hai bên là các chiến sĩ đấu tranh cho cách mạng Pháp đang
xông lên, các hình thể được sắp xếp theo hình mũi tên mà đỉnh là Nữ thần Tự do, cùng
các chi tiết hình thể diễn tả sự chuyển động đã tạo cho bức tranh một nhịp điệu mạnh
mẽ. Đối nghịch với xu thế đi lên của Nữ thần Tự do và các chiến sĩ cách mạng là hình
đã tạo nên sức nặng cho bước chân, không gian như đầy tuyết trắng tương phản mạnh
với những người lính hình đen đậm. Sông Nêva xaxa - Sự đối lập về bố cục, về tạo
hình cộng với hòa sắc đơn giản làm cho bức tranh toát lên sự kịch tính rõ rệt.
Ngoài các dạng bố cục cổ điển còn có các dạng Bố cục đối lập; đó là khuynh
hướng đối lập các yếu tố tạo hình: âm- dương; cứng- mềm; cong- thẳng; đặc- rỗng;
tĩnh- động…, bố cục đậm- nhạt- ánh sáng; thay đổi cấu trúc hình thể; thay đổi hệ
thống biểu đạt…Điều đó sẽ được ứng dụng cụ thể trong những bài tập của năm học
thứ 2 và 3.
16
5. Phương pháp xây dựng bố cục tranh
5.1. Nghiên cứu lựa chọn nội dung chủ đề, tìm ý tưởng bố cục
Nội dung phản ánh trong tranh được các nghệ sỹ tạo hình quan tâm nhiều nhất là
cái đẹp trong cuộc sống. Nó nằm trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, con
người với vũ trụ và tôn giáo, cũng như mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã
hội, trong một hoạt động để tồn tại và phát triển. Nghiên cứu, lựa chọn nội dung chủ
đề trước khi vẽ một đề tài gì trước hết ta cần có những cảm xúc, những rung động nhất
định về đề tài đó, tìm được trong nội dung đó những cái đẹp bản chất. Đề tài của tranh
thường rất nhiều và rộng. Dù trong một lĩnh vực lớn hay nhỏ mọi khía cạnh của đề tài
đều có thể khai thác được nhiều chi tiết để thể hiện nội dung chủ đề.
Chủ đề của một bức tranh tức là diễn đạt một vấn đề cụ thể nào đó, thí dụ như đề
tài về chiến tranh cách mạng có rất nhiều chủ đề nội dung phản ánh thời kỳ tiền khởi
nghĩa, thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thời kỳ kháng chiến chống xâm lược
Mỹ trong đó nói lên những hoạt động của toàn dân ta tham gia kháng chiến dành
độc lập tự do, thống nhất đất nước. Các bậc hoạ sỹ tiền bối có nhiều bức tranh với
những lựa chọn nội dung chủ đề một cách chọn lọc và sâu sắc về đề tài chiến tranh
17
cách mạng như các bức: Du kích La Hai của hoạ sỹ Nguyễn Đỗ Cung, Nghỉ chân bên
đồi của hoạ sỹ Tô Ngọc Vân, Giặc đốt làng tôi hay Kết nạp Đảng ngoài mặt trận của
hoạ sỹ Nguyễn Sáng, Gặp gỡ của hoạ sỹ Mai Văn Hiến, Trận tầm vu của hoạ sỹ
tìm, ghi chép ký hoạ để làm tài liệu xây dựng bố cục một cách chi tiết và hoàn hảo.
Các hoạ sỹ bậc thầy Việt Nam cũng vâjy, ta thấy nhiều ký hoạ đẹp và kỹ của Tô Ngọc
Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Diệp Minh Châu, Sỹ Ngọc, mà nếu không có tư
liệu thì không thể xây dựng được bố cục như vậy.
18
Ở bức tranh Tát nước đồng chiêm của hoạ sỹ Trần Văn Cẩn là một bức tranh đẹp
thành công trong công việc chọn chủ đề ở đề tài nông nghiệp. Tác giả đã diễn tả một
đoàn người đang tát nước từ dưới mương lên ruộng. Bố cục theo dạng hình tháp, cách
diễn tả các dáng người tát nước theo phối cảnh không gian xa gần tạo thành một
đường lượn mềm mại gây sự uyển chuyển trong không gian bức tranh. Từ cánh cò trên
khóm tre đến những dáng điệu con người và thế chân tay, bờ mương, hàng lúa đang thì
con gái tạo dựng nên một không khí sôi nổi, vui tươi như ngày hội trên cánh đồng.
Nhịp điệu và không gian trong tranh như điệu múa, như những bài hát dân ca quen
thuộc gần gũi với cuộc sống của những người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ đã
bao đời vui buồn với cây lúa.
Để có được bức tranh như vậy họa sĩ Trần Văn Cẩn phải có rất nhiều tư liệu để
sử dụng. Các dáng người tát nước, người đang cúi xuống múc nước thì động tác chân
tay, thế đứng, hướng trục từ đầu xuống chân cần tư thế như thế nào cho đúng; dáng
người đang dướn lên, tay đưa về phía trước hắt dây gầu đổ nước vào ruộng. Ở mỗi
người, các nét mặt, hình dáng, đắc điểm nhân vật cũng cần phải nghiên cứu tìm tư liệu
khác nhau.
Trong tranh Tát nước đồng chiêm ta thấy các nhân vật luôn được thể hiện khác
nhau ít nhiều tùy cùng một động tác, một tư thế. Điều đó tránh được sự nhàm chán.
Tất cả đều được tác giả tìm hiểu ghi chép có tư liệu đầy đủ để sử dụng cho việc xây
dựng bố cục tranh.
Trong tranh cũng có nhiều chi tiết, nhiều hình mảng phụ như khóm tre, con cò,
hàng lúa, chiếc gầu giai phụ họa cho nội dung tranh góp phần làm cho bố cục thêm
phong phú và sinh động.
Không nên lầm tưởng chỉ có các họa sĩ cổ điển, hàn lâm và các họa sĩ theo chủ
nghĩa hiện thực mới đi tìm tư liệu trong quá trình xây dựng bố cục tranh. Các họa sĩ
luôn phải được coi trọng để khi thể hiện bố cục, toàn bộ sự hoạt động của nhân vật và
bối cảnh không gian hòa quyện vào một tổng thể chung cùng góp phần diễn đạt chủ
đề. Có như vậy tác phẩm mới đạt được nội dung sâu sắc và gây nhiều ấn tượng thẩm
mĩ cho người xem.
5.4. Lựa chọn hình thức bố cục
Có nhiều hình thức bố cục và mảng hình khác nhau
Sau khi đã có chủ đề cụ thể theo một đề tài nào đó, có đầy đủ tư liệu, có hình
tượng nội dung để xây dựng bố cục tranh ta cần phải xác định hình thức bố cục. Cách
sắp xếp nhân vật trọng tâm đặt ở vị trí nào? Gồm mấy nhân vật tất cả? Các nhân vật
phải được sắp đặt theo mảng chính, mảng phụ làm sao để tạo nên một thể thống nhất
và hợp lí. Khi bố trí các hình mảng phải phối hợp sao cho tạo được một bố cục độc
đáo, không dễ dãi, nhàm chán mà phải có cái riêng của mình, cái riêng của chủ đề nội
dung đã chọn. Đó là một công việc rất khó và công phu.
Tuy nhiên việc lựa chon theo hình thức nào là tùy thuộc vào hình tượng và chủ
đề nội dung, tùy thuộc vào sự tìm tòi và sáng tạo của người vẽ. Ta có thể thử nghiệm
rất nhiều hình thức hoặc phối hợp với nhau để tìm lầy một hình thức tối ưu. Ví dụ bức
tranh Tát nước đồng chiêm của họa sĩ Trần Văn Cẩn. Trên cơ sở tư liệu và cảm nhận
trước vẻ đẹp thiên nhiên của cánh đồng quê hương, họa sĩ muốn diễn tả một không khí
sôi động, rộn ràng, mênh mông bát ngát, nên đã chọn hình thức theo phối cảnh phổ
thông có xa, có gần. Nhân vật chính là một nhóm người được tác giả sắp xếp bố cục
20
theo dạng hình tháp, không cứng nhắc ma uyển chuyển một cách tài tình đã tạo nên sự
hài hòa giữa các mảng màu, giữa cảnh trí và con người trong tranh.
5.5. Phác thảo bố cục mảng đen trắng, màu
Khi đã có đầy đủ các yếu tố cần thiết để xây dựng, sáng tác một bức tranh theo
chủ đề nội dung đã được xác định, ta cần dành nhiều thời gian, tình cảm và cả trí tuệ
nữa để suy nghĩ, sắp xếp, bố cục hình mảng con người và sự vật sao cho đẹp, hợp lí và
rõ ý, nêu bật được nội dung chủ đề một cách sâu sắc nhất. Đó là tìm phác thảo bố cục.
Trong quá trình tìm phác thảo bố cục ( thường vẽ trên khổ giấy nhỏ bằng 1/2 tờ giấy
A4) luôn phải tìm phác thảo theo nhiều dạng, nhiều góc độ khác nhau. Phải vẽ nhiều
sinh viên phải làm phác thảo càng nhiều càng tốt để chọn lựa
5.6. Thể hiện tranh( phóng hình, tìm hình, vẽ màu)
5.6.1. Phóng hình, tìm hình
Trong sách giáo khoa Mỹ thuật từ bậc Tiểu học và Trung học cơ sở và trong
nhiều sách tham khảo các tác giả sách Mỹ thuật đã có nhiều bài hướng dẫn về phương
pháp phóng tranh và ảnh. Thường có 3 phương pháp phóng tranh
- Phóng tranh theo cách kẻ ô vuông.
- Phóng tranh theo cách kẻ ô chữ nhật.
- Phóng tranh theo cách kẻ đường chéo.
Ngày nay máy photocopy đã có thể phóng tranh ảnh một cách cực kỳ nhanh
chóng và chính xác. Nhưng những người học vẽ và hoạ sỹ phóng tranh của mình từ
phác thảo nhỏ thành tranh khổ lớn là một quá trình tiếp tục sáng tác hoàn thiện. Cho
nên tuỳ theo mỗi người có thể thực hiện theo phương pháp nào cũng được.
Phóng tranh theo đúng hình mẫu không còn là khó khăn nhưng trong quá trình
phóng tranh còn điều chỉnh làm đẹp hơn mới là điều cần luôn luôn coi trọng.
5.6.2. Thể hiện tranh bằng bột màu
Đây là giai đoạn hào hứng và thú vị nhất của người vẽ tranh. Một khi ta đã có
đầy đủ điều kiện để thể hiện một bức tranh từng ấp ủ với bao nhiêu công việc đã được
chuẩn bị một cách chu đáo. Từ phác thảo đen trắng, đậm nhạt đến phác thảo màu, giấy
được căng trên bản vẽ và đã can lại các hình mảng đến từng chi tiết của từng bức
tranh, giá vẽ, bút màu vẽ đã sẵn sàng, ta thả mình vào công việc sáng tạo, bằng những
nét bút, mảng màu đầu tiên theo dòng cảm xúc của mình.
Khi vẽ màu, dù sao cũng phải trung thành với tinh thần của các mảng sáng tối,
đậm nhạt, sắc màu của phác thảo song cũng không cần thiết phải pha thật đúng và
chính xác với màu của phác thảo. Vì khi pha màu để làm theo bài phác thảo sự chuẩn
xác là rất khó và khi đã vẽ lên những mảng màu lớn, màu cũng sẽ khác đi so với mảng
màu nhỏ của phác thảo. Do vậy, khi vẽ màu cần phải so sánh tương quan đậm nhạt của
phác thảo cũng như tương quan về các diện, các hình, các sắc độ tương phản, tương
hỗ, các sắc nhị của màu sắc để tác phẩm dễ đạt được theo ý muốn.
Điều cần chú ý khi vẽ màu trong tranh là phải so sánh màu trong tối và ngoài
độc lập nước nhà và như ta biết không ít tác phẩm mang lại giá nghệ thuật cao. Ví như
trong “Gặp gỡ” của Mai Văn Hiến toát lên một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà đằm thắm.
23
Bức tranh kể về cuộc gặp gỡ của các nữ dân quân với các anh bộ đội cụ hồ. Trong
tranh tác giả thể hiện tình cảm xúc động của cả hai bên, họ gặp nhau tình cờ trên
đường, thăm hỏi nhau với một thái độ ân cần thân mật và gần gũi, không có khoảng
cách xa lạ mà tất cả như thân quen từ rất lâu bởi ở họ cùng chung một nỗi niềm, cùng
lo lắng cho vận mệnh chung của đất nước. Toàn bộ không gian trong bức tranh là một
mảng màu lớn với những dãy núi trùng điệp. Bằng những nét bút mềm mại tác giả tạo
ra được nhịp điệu của cuộc hành quân và không khí chan hòa ấm áp của buổi gặp gỡ.
Gặp gỡ, tranh bột màu của Mai Văn Hiến
Với đặc tính là của bột màu là tính phủ bề mặt cao, khi thể hiện người vẽ chú ý
vẽ mảng lớn, đặc biệt trong phương pháp tạo hình nên xây dựng hình thể mang tính
khái quát và khai thác triệt để sức biểu cảm của nét cùng với việc biết cách khắc phục
những nhược điểm dễ mắc phải như đã trình bày ở trên thì tranh bột màu cũng là chất
liệu hội họa đem lại những giá trị nghệ thuật cao.
CÂU HỎI CỦNG CỐ
1. Bố cục là gì, nó có tầm quan trọng như thế nào đối với một tác phẩm hội hoạ?
2. Như thế nào gọi là tương quan các yếu tố tạo hình trong hội hoạ.
3. Có bao nhiêu dạng thức bố cục chính cho một bức tranh? Những dạng thức đó
là gì?
4. Mỗi một nội dung tư tưởng nghệ thuật khác nhau có cần đến những bố cục khác
nhau không?
5. Hãy trình bầy về kỹ thuật sử lý chất liệu bột màu?
24