Ca dao cổ truyền người Việt với tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học pot - Pdf 12


Ca dao cổ truyền người Việt với tính mơ hồ đa
nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học

Nguyễn Hằng Phương

TS.Khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm, ĐH Thái Nguyên 0. Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Bởi vậy, nghiên
cứu ngôn ngữ từ nhiều góc độ đang trở thành nhu cầu tất yếu hiện nay. ở nước ta,
có thể nghiên cứu những vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ học; những vấn đề về tiếng
Việt và các ngôn ngữ khác ở Việt Nam; những vấn đề về tiếp xúc ngôn ngữ và dịch
thuật; những vấn đề về dạy học tiếng Việt, tiếng nước ngoài trong và ngoài nhà
trường; những vấn đề về ngôn ngữ tác phẩm văn chương. Trong đó, tìm hiểu ngôn
ngữ với tư cách là phương tiện biểu đạt của tác phẩm văn chương là một góc độ
nghiên cứu không mấy dễ dàng nhưng cũng đầy thi vị.

Nghiên cứu tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học ở những lời ca
dao cổ truyền là vấn đề chúng tôi đặt ra trong bài viết này. Tuy nhiên, do đặc trưng
thể loại và trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ nghiên cứu những biểu hiện tiêu
biểu của tính mơ hồ đa nghĩa trong một số lời ca dao cổ truyền. Nghiên cứu đó
nhằm mục đích nhận diện tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ cùng vai
trò của nó ở những lời ca dao cổ truyền, làm tiền đề cho sự bình giá có cơ sở và sự
tiếp nhận sâu sắc tác phẩm.

tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài lời của văn của thơ). Nhà triết học Đổng Trọng Thư đời
Tây Hán đã cho rằng thơ, kinh thi không thể giải thích được rõ ràng (thi vô đạt hỗ).
Nhà thi thoại thời Minh Tạ Trăn cũng chủ trương tả cảnh, thuật sự không nên
giống như thực mà phải khác lạ khiến cho người tiếp nhận có cảm giác mơ hồ, bí
ẩn (diệu tại hàm hồ)

Tuy nhiên, ngày nay khi tính tích cực, sáng tạo của người tiếp nhận được ý thức rõ
rệt; tính bản thể của ngôn ngữ văn học được phát hiện thì mơ hồ đa nghĩa - một
thuộc tính của văn học nghệ thuật - càng được đặc biệt coi trọng.

"Theo W.Empơxơn, mơ hồ là một ý nghĩa không xác định, một ý định muốn biểu
đạt nhiều loại sự vật, cho phép có nhiều cách giải thích"[8.151]. Vậy, tính mơ hồ
đa nghĩa trong văn học nghệ thuật có thể hiểu là một ý nghĩa không xác định, một
hình thức thẩm mỹ muốn biểu hiện nhiều loại sự vật, cho phép nhiều cách giải
thích hình tượng nghệ thuật.

2. Ca dao cổ truyền người Việt với tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn
ngữ văn học

2.1. Tìm hiểu tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học trong ca
dao cổ truyền là nghiên cứu văn chương dân gian theo cách tiếp cận mới

ở Việt Nam những năm qua, nghiên cứu ca dao đặc biệt là ngôn ngữ ca dao đã có
nhiều thành tựu. Xin đơn cử vài ví dụ. Tác giả Nguyễn Xuân Kính nghiên cứu một
số yếu tố cơ bản của chỉnh thể nghệ thuật ca dao trong đó chú ý đúng mức đến đặc
điểm chung của cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ, cách dùng tên riêng chỉ địa
điểm trong ca dao. Tác giả Mai Ngọc Chừ nghiên cứu về những đặc điểm riêng
biệt độc đáo của ngôn ngữ ca dao Việt Nam từ việc phân tích "những đặc điểm
thơ" được tạo nên bởi các biện pháp tu từ, cách ngắt nhịp, lối hiệp vần đến việc
xem xét sự kết hợp nhuần nhuyễn tính chất bác học và tính chất khẩu ngữ của ngôn

2.2.1. Khảo sát 3.481 lời ca dao cổ truyền được sưu tập trong sách Kho tàng [6]
để xác định các loại ý nghĩa mơ hồ (hay nói cách khác là tìm các hình thức biểu
hiện của tính mơ hồ), chúng tôi thực hiện theo cách ngẫu nhiên đảm bảo cho sự
nghiên cứu tương đối khách quan khoa học

Đó là những lời ca dao được xếp theo trật tự chữ cái trong tập II bộ sách Kho
tàng Kết quả thu được như sau:

2.2.1.1. Loại ý nghĩa mơ hồ có được khi "nói vật này mà như nói đến vật khác, vì
giữa các sự vật ấy có nhiều điểm giống nhau".
- Để tìm loại ý nghĩa mơ hồ này, chúng tôi khảo sát những lời ca dao có sử dụng
một số biện pháp tu từ tiêu biểu cấu tạo theo quan hệ liên tưởng gồm so sánh, ẩn
dụ, hoán dụ và tượng trưng. Những biện pháp tu từ như điệp từ ngữ, chơi chữ,
đồng nghĩa kép không nằm trong phạm vi khảo sát bởi chúng tôi quan niệm do
cấu tạo theo quan hệ tổ hợp, các biện pháp tu từ vừa nêu không có hoặc có rất ít
khả năng tạo ý nghĩa mơ hồ.

Thí dụ 1:
397 (b) Người khôn như miếng thịt gà
Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu
Người dại như củ bồ nâu
Đến khi khốn khó cơ cầu phải ăn.
CDTCM 272

Thí dụ 2:
307. Cây đa cũ bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng cồ
DCNTB I 188 HHĐN 216 HT 164 TCDG 61 VNP 7 214

Thí dụ 3:

khoảng 46,4%; số lời ca dao chứa biện pháp hoán dụ tu từ và tượng trưng là 144
lời, chiếm khoảng 9,53% trong tổng số lời ca dao có sử dụng các biện pháp tu từ.

2.2.1.2. Loại ý nghĩa mơ hồ có được "do quan hệ ngữ pháp không chặt chẽ và ngữ
cảnh cho phép"

- Loại ý nghĩa mơ hồ này xuất hiện khi mối quan hệ tổ hợp giữa các từ, các vế
trong câu không chặt chẽ và do sự cho phép của ngữ cảnh. Có thể xảy ra ba tình
huống: thứ nhất, quan hệ ngữ pháp không chặt chẽ đó là ý thức nghệ thuật của chủ
thể sáng tạo; thứ hai, chủ thể sáng tạo buộc phải hạn định về số lượng câu chữ do
sự chi phối của thể loại; thứ ba, có thể do cả hai "nguyên nhân" ở hai tình huống
trên. Theo sự phân tích của chúng tôi, 1 số lời ca dao có chứa loại ý nghĩa mơ hồ
này thường rơi vào tình huống thứ ba.

- Khảo sát 3.481 lời ca dao cổ truyền vừa nêu trên, chúng tôi thấy 350 lời có loại ý
nghĩa mơ hồ do quan hệ ngữ pháp không chặt chẽ và ngữ cảnh mang lại, chiếm
khoảng 10,05%.

Thí dụ:

5. Đã có một lượt thì thôi
Lượt này, lượt khác người đời khinh chê.
TCBD II 250TNPD I 111

ở lời ca dao trên, quan hệ tổ hợp giữa các từ không chặt chẽ(từ “lượt” thiếu định
ngữ) gây nên sự mơ hồ đa nghĩa.

2.2.1.3. Loại ý nghĩa mơ hồ xuất hiện khi "một từ trong một văn cảnh mà giảng hai
nghĩa đều thông"


có hình thức biểu hiện của tính mơ hồ đa nghĩa chiếm tỉ lệ không nhỏ khoảng
56,9%. Đó mới chỉ là kết quả khảo sát biểu hiện của tính mơ hồ đa nghĩa trong các
lời ca dao cổ truyền trên bình diện ngôn ngữ văn học. (Xem kết quả tổng hợp ở
cuối mục 2.2.1.3). Trong đó, biểu hiện thứ nhất của tính mơ hồ đa nghĩa chiếm
khoảng 43,4%.(Xem kết quả thống kê ở mục 2.2.1.1). Những hình thức biểu hiện
khác của tính mơ hồ đa nghĩa trong ca dao cổ truyền chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ
khoảng 10,05% và 3,45% (Xem kết quả thống kê ở mục 2.2.1.2 và 2.2.1.3).

Tìm hiểu đặc điểm của các biện pháp tu từ được dùng trong những lời ca dao khảo
sát ở mục 2.2.1.1, chúng tôi thấy đó đều là những cách diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm
có sức hấp dẫn và lôi cuốn khi trình bày [9]. Nhờ các biện pháp tu từ, sự diễn đạt
vừa mang tính cụ thể, hình ảnh do nghĩa đen gợi ra, vừa mang tính khái quát, hàm
súc do nghĩa bóng chứa đựng. Tính mơ hồ, đa nghĩa trên cơ sở đó mà phát sinh.
Bởi vậy, sự có mặt với tần số cao của các biện pháp tu từ (đặc biệt là so sánh và ẩn
dụ tu từ) trong ca dao cổ truyền là điều có thể lý giải được.

2.2.2.2. Có những trường hợp, một lời ca dao cổ truyền chứa hai, ba hình thức biểu
hiện của tính mơ hồ đa nghĩa. Tức trong một lời ca dao cổ truyền có tới hai, ba loại
ý nghĩa mơ hồ.

Thí dụ:

91 (a) Cái cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con
TCBD I 553 TNPD II 31


Dạ sao dạ nhớ người dưng vô cùng.
HHĐN 174 TCBD I 144

ở thí dụ 1, theo thống kê của tác giả Thi pháp ca dao, có đến ba cách hiểu khác
nhau về hình ảnh tôm, trai, cò. Nguyễn Đăng Châu cho rằng cò, tôm, trai là giai
cấp thống trị. Cao Huy Đỉnh thì cho rằng cò là giai cấp thống trị, còn tôm, trai là
tập thể nhân dân. Vũ Ngọc Phan lại cho rằng tôm, trai, cò đều là nhân dân lao
động. Tác giả Thi pháp ca dao lại có những phát hiện khác. Qua khảo sát một
chuỗi lời ca dao về tôm, trai, cò, tác giả kết luận: ở đây con cò không phải giai cấp
thống trị cũng không phải nhân dân lao động. Quan niệm như trên dẫn đến những
cách hiểu rất khác nhau về chủ đề, nội dung lời ca dao. Sở dĩ có hiện tượng đó bởi
tác giả dân gian đã không gọi thẳng tên sự vật hiện tượng. Họ "nói vật này mà như
nói tới vật khác " như WEmpơxơn đã từng chỉ ra.

ở thí dụ 2, tình hình có khác đôi chút. Sự mơ hồ, đa nghĩa lại tập trung vào hình
ảnh bất thường "gió mát sau lưng" và từ "người dưng" trong lời ca dao. Các tác giả
sách Kho tàng đã dẫn ra hai cách cảm thụ, phân tích lời ca dao trên. Theo Trần
Bảo Hưng, cái thần của lời ca dao là hai chữ "người dưng" và cho rằng đó là câu
hát, là mảnh tâm tình của những người làm nghề chở đò dọc trên sông. (Gió thổi
mát sau lưng là gió thuận, thuyền xuôi, người ta mới thanh thản nghĩ gần, nghĩ xa
và nhớ người yêu). Văn Tân lại cho rằng tinh thần chung của lời ca dao này liên
quan không chỉ đến người làm nghề chở đò dọc mà liên quan đến nhiều người làm
ở nhiều nghề trong cuộc đời và đang lâm vào tình huống yêu, mà lại yêu đơn
phương. Cũng có thể đưa ra một cách hiểu nữa: "gió mát sau lưng" là sự bất
thường, "dạ nhớ người dưng" lại càng phi lý. Song hai cái phi lý lại biểu đạt một
thực tế hiển nhiên, rất có lý của "những người đang lâm vào tình huống yêu"
"Người dưng" ở đây nên hiểu như tác giả Những thế giới nghệ thuật ca dao, đó là
những người "chưa đủ độ chín để thân mật, nhưng cũng không hề xa cách lạnh
lùng"" [11.55]. Vậy, nguyên nhân chính gây nên tính mơ hồ, đa nghĩa trong lời ca
dao này là sự đa nghĩa của từ (ở đây là từ xưng hô) và hình tượng văn chương

dao cổ truyền ở trên hé ra những tia hy vọng về sự trở lại của ca dao - một thể loại
tiêu biểu của sáng tác dân gian trong đời sống sinh hoạt của con người ở xã hội
hiện đại. Một khi ca dao thực sự là sáng tác văn học nghệ thuật đích thực thì không
ai phủ nhận được vai trò và vị trí của nó trong đời sống văn hoá tinh thần của
người Việt Nam nói riêng, của nhân loại nói chung.

Cuối cùng, chúng tôi xin mượn lời tác giả chuyên luận Lý luận và phê bình văn
học để kết thúc bài viết. "Tính mơ hồ, đa nghĩa là sự mê hoặc hấp dẫn của nghệ
thuật. Hoàn toàn kín mít, không nhìn thấy ý nghĩa là vô vị, mà nhìn một cái nhận ra
ngay hết mọi ý nghĩa cũng là hết vị. Tính mơ hồ đa nghĩa đảm bảo thu hút người
đọc đi vào cuộc tìm tòi bất tận về ý nghĩa, và chỉ có tác phẩm nghệ thuật đích thực,
phong phú mới giữ được sức quyến rũ lâu bền" [8.162]. Phải chăng, tính mơ hồ đa
nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học trong ca dao cổ truyền đã góp phần tích cực
tạo được sự mê hoặc, hấp dẫn và sức quyến rũ lâu bền cho bộ phận thơ dân gian
này!

Thái Nguyên tháng 3 năm 2001
N.H.P


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status