Ca dao cổ truyền người Việt với tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ - Pdf 75

Ca dao cổ truyền người Việt với tính mơ hồ đa nghĩa
trên bình diện ngôn ngữ văn học
Nguyễn Hằng PhươngTS.Khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm, ĐH Thái Nguyên 0. Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Bởi vậy, nghiên cứu
ngôn ngữ từ nhiều góc độ đang trở thành nhu cầu tất yếu hiện nay. ở nước ta, có thể
nghiên cứu những vấn đề về lý thuyết ngôn ngữ học; những vấn đề về tiếng Việt và các
ngôn ngữ khác ở Việt Nam; những vấn đề về tiếp xúc ngôn ngữ và dịch thuật; những vấn
đề về dạy học tiếng Việt, tiếng nước ngoài trong và ngoài nhà trường; những vấn đề về
ngôn ngữ tác phẩm văn chương. Trong đó, tìm hiểu ngôn ngữ với tư cách là phương tiện
biểu đạt của tác phẩm văn chương là một góc độ nghiên cứu không mấy dễ dàng nhưng
cũng đầy thi vị.

Nghiên cứu tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học ở những lời ca dao cổ
truyền là vấn đề chúng tôi đặt ra trong bài viết này. Tuy nhiên, do đặc trưng thể loại và
trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ nghiên cứu những biểu hiện tiêu biểu của tính mơ
hồ đa nghĩa trong một số lời ca dao cổ truyền. Nghiên cứu đó nhằm mục đích nhận diện
tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ cùng vai trò của nó ở những lời ca dao cổ
truyền, làm tiền đề cho sự bình giá có cơ sở và sự tiếp nhận sâu sắc tác phẩm.

1. Khái niệm ca dao cổ truyền và tính mơ hồ đa nghĩa trong văn học nghệ thuật

1.1. Khái niệm ca dao cổ truyền


của văn học nghệ thuật - càng được đặc biệt coi trọng.

"Theo W.Empơxơn, mơ hồ là một ý nghĩa không xác định, một ý định muốn biểu đạt
nhiều loại sự vật, cho phép có nhiều cách giải thích"[8.151]. Vậy, tính mơ hồ đa nghĩa
trong văn học nghệ thuật có thể hiểu là một ý nghĩa không xác định, một hình thức thẩm
mỹ muốn biểu hiện nhiều loại sự vật, cho phép nhiều cách giải thích hình tượng nghệ
thuật.

2. Ca dao cổ truyền người Việt với tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn
học

2.1. Tìm hiểu tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học trong ca dao cổ
truyền là nghiên cứu văn chương dân gian theo cách tiếp cận mới

ở Việt Nam những năm qua, nghiên cứu ca dao đặc biệt là ngôn ngữ ca dao đã có nhiều
thành tựu. Xin đơn cử vài ví dụ. Tác giả Nguyễn Xuân Kính nghiên cứu một số yếu tố cơ
bản của chỉnh thể nghệ thuật ca dao trong đó chú ý đúng mức đến đặc điểm chung của
cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ, cách dùng tên riêng chỉ địa điểm trong ca dao. Tác giả
Mai Ngọc Chừ nghiên cứu về những đặc điểm riêng biệt độc đáo của ngôn ngữ ca dao
Việt Nam từ việc phân tích "những đặc điểm thơ" được tạo nên bởi các biện pháp tu từ,
cách ngắt nhịp, lối hiệp vần đến việc xem xét sự kết hợp nhuần nhuyễn tính chất bác học
và tính chất khẩu ngữ của ngôn ngữ ca dao Việt Nam. Tác giả Phạm Thu Yến nghiên cứu
một số yếu tố tiêu biểu trong thế giới nghệ thuật ca dao và đặc biệt đã chú ý đến lối miêu
tả và biểu hiện trực tiếp trong thơ ca dân gian.vv...

Như vậy, xác định sự có mặt và vai trò, vị trí của tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn
ngữ văn học trong ca dao vẫn còn là vấn đề mới mẻ. Tuy nhiên, thành tựu nghiên cứu
trước đó của các nhà khoa học thực sự là những gợi mở cần thiết giúp chúng tôi có cơ sở
để triển khai vấn đề nghiên cứu của mình. Song, tính mơ hồ đa nghĩa trong văn học nghệ
thuật nói chung và trong ca dao nói riêng được xác định dựa trên cơ sở nào?

nằm trong phạm vi khảo sát bởi chúng tôi quan niệm do cấu tạo theo quan hệ tổ hợp, các
biện pháp tu từ vừa nêu không có hoặc có rất ít khả năng tạo ý nghĩa mơ hồ.

Thí dụ 1:
397 (b) Người khôn như miếng thịt gà
Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu
Người dại như củ bồ nâu
Đến khi khốn khó cơ cầu phải ăn.
CDTCM 272

Thí dụ 2:
307. Cây đa cũ bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng cồ
DCNTB I 188 HHĐN 216 HT 164 TCDG 61 VNP 7 214

Thí dụ 3:
65. Chờ anh cho tuổi em cao
Cho duyên em lạt, má đào em phai
HPV 117

Thí dụ 4:
684. Trúc nhớ mai, trúc buồn ngao ngán
Mai trở về, mai nhớ trúc chăng
CDTCM 52

Bằng cách diễn đạt cụ thể và giầu hình ảnh, các biện pháp tu từ trên đã gợi được sự liên
tưởng phong phú và sâu sắc. Người tiếp nhận thực sự phải lựa chọn trong số những liên
tưởng phong phú, sâu sắc ấy một cách hiểu cho mình. Mơ hồ, đa nghĩa phát sinh từ đấy.
Chẳng hạn, ở thí dụ 1, miếng thịt gà, củ bồ nâu được ví với người khôn, người dại. Vị
ngon, dở của miếng thịt gà và củ bồ nâu ra sao cũng như dư vị cuộc sống khi ở với người

10,05%.

Thí dụ:

5. Đã có một lượt thì thôi
Lượt này, lượt khác người đời khinh chê.
TCBD II 250TNPD I 111

ở lời ca dao trên, quan hệ tổ hợp giữa các từ không chặt chẽ(từ “lượt” thiếu định ngữ) gây
nên sự mơ hồ đa nghĩa.

2.2.1.3. Loại ý nghĩa mơ hồ xuất hiện khi "một từ trong một văn cảnh mà giảng hai nghĩa
đều thông"

- Đây là loại ý nghĩa mơ hồ được tạo nên khi một phương tiện ngôn ngữ (ở cấp độ từ) có
hai nghĩa trong một văn cảnh cụ thể.
3,45%. Thí dụ:≈- Trong 3.481 lời ca dao khảo sát, chỉ có 120 lời chứaphương tiện ngôn
ngữ đa nghĩa này, chiếm

805. Còn trời còn nước còn non
Còn cô bán rượu anh còn say sưa.
ANPT 6a ĐNQT 102b HHĐN 54, 164 KSK 6b...

Từ "say sưa" trong lời ca dao trên có thể hiểu theo 2 nghĩa: say sưa vì rượu và say sưa cô
bán rượu...

Như vậy, trong số 3.481 lời ca dao khảo sát có tổng cộng 1.981 lời chứa các biểu hiện
của tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học, chiếm khoảng 56,9%.

2.2.2. Qua khảo sát những biểu hiện tiêu biểu của tính mơ hồ đa nghĩa trong ca dao cổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status