Đề tài thử nghiệm nuôi vỗ thành thục và kích thích sinh sản Hàu doc - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRƯƠNG QUỐC VINH THỬ NGHIỆM NUÔI VỖ THÀNH THỤC VÀ
KÍCH THÍCH SINH SẢN HÀU Crassostrea iredalei LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

THỬ NGHIỆM NUÔI VỖ THÀNH THỤC VÀ
KÍCH THÍCH SINH SẢN HÀU Crassostrea iredalei
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. NGÔ THỊ THU THẢO
ThS. HUỲNH HÀN CHÂU 2009
i
LỜI CẢM TẠ
Tuy có những khó khăn và thử thách trong suốt quá trình học tập và trong thời

38,7%. Sức sinh sản của hàu trong nuôi vỗ tương đối lớn trên 1 triệu trứng/KL
thân mềm.
Phương pháp kích thích hàu sinh sản theo cách hạ nhiệt + nước chảy đạt hiệu
quả cao nhất với tỉ lệ cá thể tham gia sinh sản là 100%. Thời gian hiệu ứng
kích thích nhanh chỉ sau một chu kỳ kích thích (2 giờ).
iii
MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v
Danh sách hình vi
Chương I: Giới thiệu 1
Chương II: Lược khảo tài liệu 3
2.1 Đặc điểm sinh học 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.3 Đặc điểm hình thái 4
2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.4.1 Giai đoạn ấu trùng 4
2.4.2 Giai đoạn trưởng thành 4
2.4.3 Phương thức bắt mồi 4
2.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.5.1 Sinh trưởng theo nhóm kích thước 5
2.5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng của hàu 6
2.6 Đặc điểm sinh sản 6
2.6.1 Đặc điểm giới tính 6
2.6.2 Kích thước sinh sản lần đầu 6
2.6.3 Phương thức sinh sản 7
2.6.4 Mùa vụ sinh sản 7

4.8 Sức sinh sản thực tế 28
Chương V. Kết luận và đề xuất 30
5.1 Kết luận 30
5.2 Đề xuất 30
Tài liệu tham khảo 31
Phụ lục 33
v
DANH SÁCH BẢNG

Bảng 3.1 Các bước xử lý mẫu 16
Bảng 3.2. Các bước nhuộm mẫu 17
Bảng 4.1 Biến động nhiệt độ trong các nghiệm thức 19
Bảng 4.2 pH trung bình trong các nghiệm thức 20
Bảng 4.3 Biến động một số yếu tố thủy hóa ở các nghiệm thức 21
Bảng 4.4 Tỷ lệ sống (%) của hàu trong các nghiệm thức 22
Bảng 4.5 Kích thước và khối lượng hàu ở các nghiệm thức thí nghiệm. 23
Bảng 4.6 Chỉ số thể trạng (CI) của hàu ở các nghiệm thức thí nghiệm trong 2
đợt nuôi vỗ 24
Bảng 4.7 Chỉ số thành thục (GI) của hàu ở các nghiệm thức thí nghiệm trong 2
đợt nuôi vỗ 26
Bảng 4.8. Các phương pháp kích thích sinh sản 27
Bảng 4.9 Tỷ lệ cá thể tham gia sinh sản 28
Bảng 4.10 Sức sinh sản thực tế tính trên khối lượng tổng cộng, thịt ở các
nghiệm thức 29 vi
DANH SÁCH HÌNH

Trang

môi trường sinh thái rừng ngập mặn đang bị tàn phá khốc liệt để nuôi tôm ở các tỉnh
phía Nam (Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh, 2005).

Vùng biển nam Trung Bộ kéo dài từ Thừa Thiên Huế đến Bình Thuận với nhiều hệ
thống sông ngòi đổ ra biển, tạo nên nhiều vùng nước cửa sông rộng lớn từ đó hình
thành các khu vực có tiềm năng phát triển nuôi trồng các đối tượng giáp xác và động
vật thân mềm, trong đó loài hàu dang được xem là đối tượng thích hợp với hệ sinh
thái nơi đây như: Đầm Lăng Cô – Huế, đầm Thị Nại, Long Sơn – Vũng Tàu (Tạp
chí thủy sản, Số10/2005). Trong tự nhiên hàu có thể tập trung thành bãi lớn như các
bãi hàu ở cửa sông Bạch Đằng, sông Chanh. Ở Việt Nam năm 1961 đã bắt đầu nuôi
hàu ở Quảng Yên bước đầu đạt được kết quả. Từ lâu nhân dân ở bãi giữa sông
Gianh (Quảng Bình ) đã biết bỏ đá nuôi hàu (Ngô Trọng Lư et al, 1999).
Hiện nay chỉ riêng vùng Long Sơn – Vũng Tàu sản lượng thu hoạch lên đến 2200-
2500 tấn/năm, tương đương 22.000.000- 25.000.000 con có thể mang lại nguồn thu
khổng lồ cho người dân nơi đây (Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh, 2005).
Cho đến nay toàn bộ những người dân nuôi hàu ở phía nam chủ yếu phụ thuộc vào
nguồn giống tự nhiên, hao hụt lớn khi khai thác, hiệu quả thấp. Mỗi năm chỉ có 2
mùa lấy giống, mùa chính từ tháng 2-3, mùa phụ từ tháng 9-10 âm lịch. Các tháng
còn lại vẫn có hàu đẻ nhưng không đáng kể làm cho người nuôi hàu không an tâm

2

trong sản xuất (Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh, 2005). Vì vậy sản xuất giống có
thể xem là giải pháp hoàn hảo để cung cấp giống một cách chủ động nhưng đòi hỏi
phải có sự kết hợp nhịp nhàng với các yếu tố sinh thái. Tuy nhiệt độ vùng Đông
Nam Á thường không phải là yếu tố kích thích sinh sản nhưng sự tăng nhiệt độ trong
khoảng thích hợp thì tuyến sinh dục sẽ chín (Trương Quốc Phú, 1999). Do đó việc
thử nghiệm nuôi vỗ thành thục hàu và cho sinh sản nhân tạo nhằm phục vụ công tác
nuôi trồng, tái tạo nguồn lợi và tạo ra sự đa dạng hóa đối tượng nuôi ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long là rất cần thiết .

2.1.2 Phân bố
2.1.2.2 Trên thế giới
Hàu phân bố rộng trên toàn thế giới, nhưng tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới. Các loài hàu hiện nay đang được nuôi và khai thác bao gồm 3 giống chính:
Ostrea, Crassostrea, Saccostrea (Trương Quốc Phú, 1999). Trong đó giống
Crassostrea được tìm thấy ở khắp Đông Nam Á, chẳng hạn loài Crassostrea
iredalei phân bố rộng ở Philippines, Crassostrea belcheri phân bố ở Bắc bờ biển
China và giống Crassostrea này không hiện diện ở vùng nhiệt đới phía Đông
Africa (Agell, 1986).
2.1.2.3 Trong nước
Trong tự nhiên, hàu sống ở vùng triều thuộc các thủy vực nước lợ mặn, nơi có
nguồn thức ăn phong phú. Ở đầm Thị Nại hàu phân bố từ đầu đầm đến cuối đầm,
nơi có độ mặn từ 10-40‰ đều có hàu phân bố. Trong đó hàu răng cưa có nhiều ở
cửa đầm 25-40‰, hàu muỗng có nhiều ở vùng giữa đầm 20-30‰
,
những loài còn
lại có mặt ở khắp đầm (Mai kim Thi, 2005). Hầu sông Crassostrea rivularis phân bố

4

gần các cửa sông: Đầm Hà, Tiên Yên, Ba Chẽ, Bạch Đằng, Cửa Cấm. Ở các vùng
bãi triều độ sâu 7-10m, nhiệt độ thích hợp 18-30
0
C, độ mặn 10-20‰ (Ngô Trọng
Lư et al ,1999).
2.3 Đặc điểm hình thái
Hàu có vỏ lớn, nặng, cá thể lớn vỏ dài trên 200mm, cao 120mm, nhưng tỷ lệ này
không ổn định, vì hình dạng vỏ thay đổi rất lớn, thường vỏ có hình bầu dục hay hình
tam giác. Hàu phân bố ở 107-124 độ kinh đông và trong phạm vi 15-40 độ, ở độ sâu
từ tuyến hạ triều đến 7m nước, độ muối từ 10-25‰ (Đoàn Lan Phương et al, 2005).

Quá trình chọn lọc được thực hiện 4 lần theo phương thức trên: lần thứ 1 xảy ra trên
bề mặt mang: lần thứ 2 xảy ra trên mương vận chuyển: lần thứ 3 xảy ra trên xúc
biện: lần thứ 4 xảy ra tại mang nang chọn lọc thức ăn. Thức ăn sau khi được chọn
lọc bởi mang nang chọn lọc được đưa trở lại dạ dày đề tiêu hóa. Hạt thức ăn không
thích hợp được đẩy thẳng xuống ruột và ra ngoài qua hậu môn.
Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của hàu là thủy triều, lượng thức ăn
và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối ). Khi triều lên cường độ bắt mồi
tăng, triều xuống cường độ bắt mồi giảm.Trong môi trường có nhiều thức ăn thì
cường độ bắt mồi thấp và ít thức ăn thì cường độ bắt mồi cao. Khi các yếu tố môi
trường (nhiệt độ, nồng độ muối ) trong khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi cao
và khi các yếu tố môi trường ngoài khoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp.
2.5 Đặc điểm sinh trưởng
2.5.1 Sinh trưởng theo nhóm kích thước
Ở hàu có sự tăng trưởng theo các nhóm kích thước. Theo kết quả nghiên cứu trên
loài hàu Crassostrea belcheri ở sông Chà Và của Ngô Anh Tuấn et al (2005) thì: Tỷ
lệ H/L tỷ lệ nghịch với chiều tăng của các nhóm kích thước, thấp nhất là 69.38% ở
các nhóm kích thước lớn nhất (141-160mm) và cao nhất đạt 79.71% ở các nhóm
kích thước nhỏ nhất (60-80mm). Chiều rộng là chỉ tiêu thể hiện độ dày của cơ thể
hàu, chiều rộng càng lớn thì phần thể tích chứa phần mềm càng lớn. Tỷ lệ R/L tăng
dần theo sự lớn lên của hàu, điều đó chứng tỏ khả năng tích lũy chất trong cơ thể
hàu tăng dần theo chiều tăng của kích thước .
Sự tăng trưởng của hàu trong ao nuôi ghép với tôm sú sau 90 ngày nuôi ở mật độ
130-150con/giỏ, từ cỡ hàu giống 17,5 g/con đã đạt kích cỡ từ 50,8-52,8 g/con. Cho
thấy sự tăng trưởng của hàu trong ao nuôi ghép tương đương với sự phát triển của
tôm và hàu tại các mô hình nuôi đơn (Tạp chí thủy sản, Số 7/2007).

6

2.5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng của hàu
2.5.2.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ


2.6.3 Phương thức sinh sản
Tùy theo loài mà hình thức sinh sản khác nhau. Nhóm Crassostrea và Saccostrea
thì đẻ trứng và tinh trùng ra môi trường nước, quá trình thụ tinh và phát triển ấu
trùng diễn ra trong nước. Đối với nhóm Ostrea thì quá trình thụ tinh và phát triển ấu
trùng diễn ra bên trong xoang màng áo của cá thể mẹ đến giai đoạn diện bàn hoặc
muộn hơn mới ra khỏi cơ thể mẹ (Trương Quốc Phú, 1999). Hàu cong (huitre
creuse) thuộc loại đẻ trứng và hàu phẳng (huitre plate) thuộc loại đẻ con. Dưới mặt
trời mùa hè, con hàu cong chứa đầy giao tử phun vào nước biển. Sự kết hợp giữa
giao tử đực và cái tạo thành những trứng cực bé trôi theo dòng nước. Mỗi con hàu
mẹ sinh sản được mỗi kỳ khoảng chừng một triệu trứng ().
2.6.4 Mùa vụ sinh sản
Ở vùng nhiệt đới sau một năm hàu đã thành thục và tham gia sinh sản. Mùa vụ sinh
sản xảy ra quanh năm nhưng tập trung từ tháng 4-6. Mùa vụ sinh sản ở vùng nhiệt
đới thường ít tập trung và kéo dài hơn so với vùng ôn đới. Tác nhân chính kích thích
đến quá trình thành thục và sinh sản của hàu là nhiệt độ, nồng độ muối và thức ăn có
trong môi trường (Trương Quốc Phú, 1999).
Theo Ngô Thị Thu Thảo et al. (2002), khi nghiên cứu mùa vụ sinh sản hàu Thái
Bình Dương Crassostrea Gigas được nuôi ở Vịnh Gosung, Hàn Quốc kết luận rằng
mùa vụ sinh sản của hàu kéo dài từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 9, đỉnh cao là tháng
6 và tháng 8. Sự phát triển của tuyến sinh dục hàu phụ thuộc vào nhiệt độ và thức ăn
trong thủy vực. Tỷ lệ đực/ cái là 59,5% đực : 39,8% cái, cá thể lưỡng tính 0,6%.
Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy các loài hàu giống Crassostrea có thể chuyển
giới tính giữa các mùa sinh sản. Tỷ lệ đực: cái của hàu cửa sông (Crassostrea
rivularis) như sau:Từ tháng 7 đến tháng 11, tỷ lệ đực: cái là 21-61%: 40-68%. Đây
là thời điểm mà tỷ lệ hàu có sản phẩm sinh dục chín muồi nhất.Từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau, tỷ lệ đực: cái là 38-90%: 0-16%. Mùa vụ sinh sản của hàu vào
khoảng từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm ().
2.6.5 Sức sinh sản
Sức sinh sản của hàu rất lớn và tùy thuộc vào kích cỡ cá thể, ví dụ như: hàu bố mẹ

Theo Ngô Anh Tuấn et al., (2005) thì quá trình phát triển của Crassostrea belcheri
chia thành 5 giai đoạn sau:
Giai đoạn I: Tuyến sinh dục không màu sắc, chưa xuất hiện tế bào sinh sản. Tuyến
sinh dục gồm có các mô liên kết, các chất cần thiết cho quá trình tạo trứng và tinh
trùng. Giai đoạn này chưa phân biệt được cá thể đực và cái.
Giai đoạn II: Tuyến sinh dục có màu trắng nhạt, con cái bắt đầu xuất hiện tế bào
sinh trứng, con đực bắt đầu xuất hiện tế bào sinh tinh. Buồng trứng hàu bắt đầu xuất
hiện các túi chứa trứng và noãn nguyên bào. Các tế bào sinh tinh trong tuyến sinh
dục đực sắp xếp rời rạc. Giai đoạn này vẫn còn rất khó để phân biệt bằng mắt
thường.
Giai đoạn III: Tuyến sinh dục cái xuất hiện màu trắng sữa rõ rệt. Các tế bào sinh
trứng bắt đầu rời khỏi túi chứa trứng, song vẫn còn hình đa diện méo mó. Đang
trong thời kỳ tích lũy chất dinh dưỡng. Một số tế bào trứng khác vẫn còn dính trên
vách của túi trứng và tiếp tục phát triển .Tuyến sinh dục đực có màu trắng đục.
Tinh trùng tập trung thành đám dày đặc nhưng vẫn còn nằm trong túi tinh, chưa
thoát ra ngoài.
Giai đoạn IV: Tuyến sinh dục đực và cái nằm căn phồng đạt kích thước cực đại.
Dùng mũi dao chích nhẹ vào tuyến sinh dục, trứng và tinh dịch sẽ thoát ra ngoài. Túi
tinh chứa các bó nang và tinh trùng hoạt động tự do. Buồng trứng chứa nhiều bào
nang và nhiều trứng thành thục. Trứng hình bầu dục hoặc hình quả lê, nhân to, đạt
kích thước tối đa.
Giai đoạn V: Đây là giai đoạn hàu vừa đẻ xong, tuyến sinh dục bắt đầu co lại. Màu
sắc buống trứng nhợt nhạt, loang lổ. Quan sát kỹ buồng trứng và túi tinh ta thấy, vẫn
còn sót lại những tế bào trứng và tinh trùng kích thước nhỏ bé không đều. Diều đó
chứng tỏ hàu Crassostrea belcheri sinh sản nhiều lần trong năm.
2.7 Kỹ thuật sản xuất giống
2.7.1 Nuôi vỗ hàu bố mẹ
Nuôi vỗ tích cực hàu bố mẹ là một công đoạn cần thiết trong quy trình sản xuất
giống nhân tạo. Vì các cá thể trong tự nhiên có tuyến sinh dục phát triển không đồng
đều. Nếu đưa vào cho sinh sản ngay thì tỷ lệ các cá thể tham gia sinh sản thấp và

(NH
4
OH), serotonin (5-HT)
hoặc những chất trích từ sản phẩm sinh
dục. Việc dùng serotonin trong các trại giống gần đây cho thấy có hiệu quả cao hơn
các hóa chất khác. Những kích thích tố từ sản phẩm sinh dục không chỉ có tác dụng
đối với một loài mà còn có tác dụng với nhiều loài thân mềm khác. Cách này đã
được ứng dụng để kích thích sinh sản nhân tạo hàu trên một diện tích rộng (Trương
Quốc Phú, 1999). Còn theo Hà Đức Thắng, (2005) được trích dẫn bởi Phùng Bảy,
(2009) khi dùng tác nhân nhiệt độ kích thích và thêm một ít tinh dịch hàu cửa sông
thì tỷ lệ hàu đẻ được nâng từ 62% lên thành 72%, còn khi dùng những phương pháp
khác như phơi khô, dùng serotonin hay KNO
3
thì tỷ lệ đẻ rất thấp.
2.7.3 Tỷ lệ thành thục
Tỷ lệ thành thục của hàu C.belcheri có sự thay đổi theo nhóm kích thước, tăng dần
từ nhóm có kích thước nhỏ đến nhóm có kích thước lớn. Nhóm kích thước L<
80mm tỷ lệ thành tục thấp 23,85% và khác nhau với các nhóm kích thước lớn hơn.
Nhóm L > 80mm tỷ lệ thành thục cao 80,31%-91,12%. Nắm được tỷ lệ thành thục
sinh dục của hàu, sẽ giúp cho các nhà sản xuất giống nhân tạo chủ động trong kế

11

hoạch sản xuất, tìm ra nhóm hàu bố mẹ có sự thành thục tốt nhất, phục vụ công tác
sản xuất giống nhân tạo

(Ngô Anh Tuấn et al, 2005)
2.7.4 Ương ấu trùng
Mật độ ương: trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển của ấu trùng có thể ương
với mật độ 15-20 ấu trùng/ml nước, sau 5-7 ngày san thưa xuống còn 10-12 ấu

đóng thành giàn hình chữ nhật hay hình vuông với chiều dài mỗi giàn trung bình

12

6,5-7,5 m, giàn bé thường có kích cỡ 4-5 m và giàn lớn có chiều dài 9-10 m, chiều
cao mỗi giàn khoảng 5-6 m được chôn sâu từ 1 -2 m (vì khu vực nuôi thường có nền
đáy bùn). Mỗi giàn được đặt cách mặt nước 0,5 cm lúc triều xuống. Do đó hàu nuôi
luôn chìm sâu trong nước. Lồng nhỏ treo từ 32 - 40 trụ xi măng, lồng lớn có thể treo
khoảng 200 trụ. Sản lượng nuôi khoảng 2 - 6 tấn hàu nguyên con/giàn (Lê Minh
Viễn và Phạm Cao Vinh, 2005)
Nuôi hàu trong các lồng treo trên giàn. Cấu tạo giàn nuôi tương tự như giàn nuôi
trên các cọc đúc xi măng. Hàu giống thu từ tự nhiên cho vào các lồng lưới có đường
kính miệng lồng và đường kính đáy từ 0,4 – 0,5 m, chiều dài mỗi lồng khoảng 0,4m,
kích cỡ mắt lưới 2a = 2 cm. Mỗi một lồng nuôi thả mật độ hàu giống trung bình
khoảng 5 kg hàu, kích cỡ giống khoảng 3- 4 cm. Sau thời gian nuôi khoảng 5 tháng
đạt năng suất trung bình 15 kg hàu thương phẩm/lồng. Như vậy là bằng phương
pháp nuôi này chỉ sau 5 tháng nuôi hàu đạt sinh trưởng tăng gấp 3 lần. Phương pháp
nuôi này chủ yếu tập trung từ Thừa Thiên Huế trở vào đến TP Hồ Chí Minh, đặc
biệt các vùng nuôi thuộc đầm Lăng Cô (htpp://vietlinh.com.vn)
13

CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Trong phòng thí nghiệm: Cân điện tử, kính hiển vi, thước đo điện tử, găng tay, nhiệt
kế, thuốc và hóa chất
Dụng cụ nuôi vỗ: Bể nhựa, nước ót, nước 25‰, máy sục khí, cát, bùn, lưới mùng,

giờ (từ 7 giờ sáng – 19 giờ tối) rồi cho nước tĩnh 12 giờ (19 giờ tối – 7 giờ sáng).

14 Hình 3.1 Hàu nuôi vỗ Hinh 3.2 Hệ thống nuôi vỗ
- Nghiệm thức 4: Hàu đuợc bố trí trong bể PVC và cho nước chảy 6 giờ (7 giờ sáng
– 13 giờ trưa) rồi cho nước tĩnh 18 giờ (13 giờ trưa – 7 giờ sáng).
Cho ăn: Thức ăn trong quá trình nuôi vỗ là tảo Chlorella, tảo khuê (Chaetoceros) bổ
sung thêm tảo khô, men bánh mì hoặc bột đậu nành. Mật độ tảo 20000 tb/ml (50%
tảo lục + 50% tảo khuê). Lượng tảo khô và men bánh mì:(0.5g tảo+0.5g men bánh
mì)/kg hàu bố mẹ.
3.2.3 Phương pháp kích thích sinh sản
- Phương pháp 1: (Hạ nhiệt + Ammonium hydroxyde (NH
4
OH) nồng độ 1%.) Hàu
đước thấm khô bằng gạc và đặt ngửa trên khay trong tủ lạnh ở nhiệt độ 10-15
o
C
trong thời gian 120 phút, rồi đem ra ngâm hàu trong dung dịch Ammonium
hydroxyde (NH

2
-
, NO
3
-
,
pH bằng bộ test (Germany).
Định kỳ kiểm tra độ mặn 5 ngày/ lần để điều chỉnh độ mặn kịp thời.
3.2.4.2 Theo dõi tăng trọng, tỷ lệ sống của hàu
Mẫu hàu thu định kỳ để kiểm tra:
Chiều dài (L), chiều rộng (R), Chiều cao (H), lúc bắt đầu và kết thúc nuôi vỗ
Tỷ lệ sống 10 ngày/ lần.
Lúc bắt đầu thí nghiệm: Thu 20 con hàu để xác định chỉ số thể trạng CI và thực hiện
tiêu bản mô học để xác định mức độ phát triển của cơ quan sinh sản theo phương
pháp của Howard et al. (2004)
3.2.4.3 Các chỉ tiêu về sinh sản
Xác định chỉ số thể trạng lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm .

Khối lượng thịt sấy khô (65
o
C, 24h) x 1000 (mg/g)
Chỉ số thể trạng (CI) =
Khối lượng thịt trước khi sấy
Theo dõi sự phát triển của tuyến sinh dục hàu lúc bắt đầu thí nghiệm và kết thúc thí
nghiệm. Thu 20 con/ đợt, cân trong lượng tổng cộng, đập vỏ cân sau đó cân trọng
lượng thịt. Xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục (GI) theo Ngô Thị
Thu Thảo et al. (2002).
3.2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi trong quá trình kích thích
Thời gian hiệu ứng, số con tham gia sinh sản, số lượng trứng sinh sản.
3.2.5 Phương pháp phân tích mô học


17

3.2.5.4 Nhuộm và dán mẫu (Theo Howard et al., 2004)
Mẫu sau khi nhuộm theo Bảng 3.2, dán lamelle vào vùng có mẫu trên lam bằng keo
Canada balsam hoặc Entarlan, làm khô mẫu.
Bảng 3.2. Các bước nhuộm mẫu
Hóa chất Thời gian (phút)
Xylen 1 20
Xylen 2 5
Cồn 100% 5
Cồn 100% 3
Cồn 70% 3
Cồn 50% 3
Nước máy 3
Haematoxylin 2
Nước máy 5
Eosin 2
Nước máy

5
Cồn 50% 3
Cồn 70% 3
Cồn 95% 3
Cồn 100% 5
Xylen 1 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status