Đổi mới hoạt động kinh doanh ở Công ty cổ phần xây dựng & sản xuất vật liệu xây dựng Yên Tử - Pdf 12

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, mỗi doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế cơ sở
có t cách pháp nhân, một phân hệ kinh tế mở trong nền kinh tế quốc dân mở cửa
ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, công tác đổi
mới hoạt động kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng nhằm
định hớng các mục tiêu kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển ổn
định, đúng hớng và có hiệu quả.
Để đảm bảo cho việc sản xuất kinh doanh đạt đợc hiệu quả cao nh mong
muốn cần nắm vững và tuân thủ đúng đòi hỏi của các quy luật khách quan diễn
ra trong quá trình kinh doanh, ngời làm quản trị kinh doanh phải thực sự là
những ngời tài ba, năng động, sáng tạo thích ứng với mọi môi trờng, phải chịu
khó học hỏi tìm tòi nhằm tìm ra những quy luật và cơ chế vận dụng những quy
luật đó trong quá trình quản trị kinh doanh một cách có hiệu quả.
Với 5 năm học tập và nghiên cứu tại trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà
Nội. Để nắm vững hơn và có hệ thống về kiến thức chuyên môn em đã xin đợc
thực tập tại Công ty Cổ phần xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Yên Từ -
Ninh Bình, với đề tài là:
"Đổi mới hoạt động kinh doanh ở Công ty Cổ phần xây dựng và sản
xuất vật liệu xây dựng Yên Từ".
Mặc dù đã làm hết sức mình nhng chắc chắn rằng không tránh khỏi thiếu
sót. Vì vậy, rất mong sự thông cảm của thầy cô giáo trờng Đại học Kinh tế
Quốc dân Hà Nội và tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần xây dựng
và sản xuất vật liệu xây dựng Yên Từ.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn đợc kết cấu 3 chơng:
- Chơng I: Công ty cổ phần và sự cần thiết phải đổi hoạt động kinh doanh
của Công ty cổ phần.
1
- Chơng II: Phân tích hoạt động kinh doanh hiện nay của Công ty cổ phần
xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Yên Từ.
- Chơng III: Phơng hớng, biện pháp đổi mới hoạt động kinh doanh ở Công
ty cổ phần xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Yên Từ và một số kiến nghị

ợc chuyển nhợng nếu đợc sự đồng ý của Hội đồng quản trị.
Mỗi một Công ty chỉ đợc phép phát hành một số lợng cổ phiếu nhất định.
Lúc đầu các Công ty thờng phát hành hết số cổ phiếu đợc phát hành, nhng sau
khi hoạt động và có lợi nhuận, các Công ty thờng chuộc lại một số cổ phiếu từ
tay các cổ đông để dự trữ nhằm mục đích sử dụng sau này nh: Tăng số vốn cổ
3
phần hoặc dùng để trả lãi lợi tức cổ phiếu cho các cổ đông. Vì vậy trong các số
cổ phiếu mà Công ty phát hành phần lớn nằm trong tay các cổ đông và phần còn
lại do Công ty nắm giữ.
Vốn cổ phần đợc cơ cấu bởi hai bộ phận:
- Vốn cổ phần đợc hình thành do Công ty phát hành cổ phiếu thờng - là cổ
phiếu không thể thiếu đợc trong Công ty cổ phần. Nếu không có nó thì không
thể có một Công ty cổ phần nào tồn tại. Đặc trng của cổ phiếu thờng là chủ
nhân của nó (các cổ đông thờng) phải chịu sự mạo hiểm rất cao khi Công ty
thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. Nếu Công ty thành đạt tốt trong hoạt động
sản xuất kinh doanh thì các cổ đông thờng có lợi hơn so với cổ đông u đãi, cũng
nh các chủ nợ phần lớn lợi nhuận Công ty đang phát đạt đợc chia cho các cổ
đông thờng dới dạng lợi tức cổ phần.
- Vốn cổ phần hình thành do Công ty phát hành cổ phiếu u đãi: Theo điều
lệ công ty, cổ phiếu u đãi phải đảm bảo giải quyết các điều kiện: mức lãi lợi tức
cổ phần cố định; khả năng của Công ty chuộc lại các cổ phiếu đó; mức trả cho
các cổ phiếu u đãi trong trờng hợp Công ty bị phá sản; điều kiện để đổi cổ phiếu
lấy cổ phiếu thờng. Nh vậy cổ phiếu u đãi là cổ phiếu đợc hởng các quyền u tiên
đựơc hởng mức lãi cổ phần riêng biệt có tính cố định hàng năm bất kể Công ty
có lãi hay không, đợc u tiên phân chia tài sản còn lại của Công ty khi Công ty
bị phá sản.
Cổ phiếu u đãi gồm có cổ phiếu u đãi có lãi cổ phần gộp hay dồn lãi, cổ
phiếu u đãi không dồn lãi. Cổ phiếu u đãi chuyển đổi thuận để lấy cổ phiếu th-
ờng, đổi nghịch để lấy cổ phiếu khác u đãi hơn, cổ phiếu ui đãi có thể bồi hoàn
đợc.

đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của Công ty và biểu quyết đa số quá
bán.
- Đại hội cổ đông bất thờng. Trong trờng hợp khẩn cấp có nguy cơ đe doạ
đến sự hoạt động bình thờng của Công ty nh: Gặp khó khăn về tài chính; cần
thay đổi chiến lợc kinh doanh; hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban kiểm
soát yếu kém cần chấn chỉnh và kiện toàn... thì đại hội cổ đôngcó thể triệu tập
5
bất thờng theo yêu cầu của Chủ tịch hoặc của trên 1/2 số thành viên của Hội
đồng quản trị; hoặc theo yêu cầu của trởng ban kiểm soát hay đề nghị của số cổ
đông đại diện cho trên 50% số vốn điều lệ của Công ty. Nhiệm vụ quyền hạn
của đại hội cổ đông bất thờng giống nh nhiệm vụ
quyền hạn của đại hội cổ đông thờng kỳ, song nội dung của đại hội bất thờng có
thể tiến hành theo một số mục tiêu cần giải quyết cấp bách nhất, chẳng hạn để
sửa đổi điều lệ Công ty.
- Đại hội đồng cổ đông: Đợc triệu tập vào cuối năm tài chính hoặc bất kỳ
lúc nào mà Hội đồng quản trị hoặc kiểm soát viên thấy cần thiết để giải quyết
thuộc hoạt động kinh doanh của Công ty trong khuôn khổ điều lệ, trong đó có
các việc chủ yếu sau đây: Quyết định phơng hớng nhiệm vụ phát triển Công ty
và kế hoạch kinh doanh hàng năm; thảo luận và thông qua bảng tổng kết năm
tài chính; bầu bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị và kiểm soát viên; quyết
định số lợi nhuận trích lập các quĩ của Công ty, số lợi nhuận chia cho các cổ
đông, phân chia trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với Công ty trong kinh
doanh.
- Hội đồng quản trị là bộ máy quản lý của Công ty cổ phần. Hội đồng quản
trị bao gồm những thành viên có trình độ chuyên môn cao và quản lý giỏi, để có
khả năng hoàn thành tốt các nhiệm vụ do Đại hội đồng cổ đông giao phó. Số
thành viên của Hội đồng quản trị do đại hội cổ đông quyết định và ghi vào điều
lệ Công ty. Thông thờng ở các nớc những Công ty nhỏ, số thành viên của
Hội đồng quản trị có thể từ 3 -7 ngời; nhng Công ty trung bình có số thành viên
Hội đồng quản trị có thể từ 9 - 13 ngời; những Công ty lớn số thành viên Hội

với lợng vốn góp của họ và đợc gọi là lợi tức cổ phần. Mức lợi tức cổ phần phụ
thuộc trực tiếp vào trình độ và kết quả kinh doanh của Công ty. Mức lợi tức cổ
phần cao không những có lợi cho các cổ đông, mà còn ảnh hởng trực tiếp làm
tăng giá cổ phiếu của Công ty trên thị trờng chứng khoán. Thông thờng các chủ
sở hữu góp vốn cổ phần với mục đích thu lợi tức cổ phần cao hơn lãi suất trên
thị trờng vốn.
Những đặc điểm của các quan hệ trên cho thấy, nếu trong các Công ty
khác, ngời chủ sở hữu tài sản đồng thời là ngời tổ chức và quản lý hoạt động
7
của Công ty, quan hệ với bạn hàng thì Công ty cổ phần ngời sở hữu tài sản của
Công ty là"ngời sở hữu thuần tuý" "ngời chủ tiền tệ thuần tuý" việc điều khiển
và quản lý Công ty đợc thực hiện thông qua chế độ thuê Giám đốc. Chủ sở hữu
chỉ thực hiện quyền sở hữu của mình trên phơng diện thuê lợi tức cổ phần trên
cơ sở hoạt động của Công ty, tham gia Đại hội cổ đông, quyết định các vấn đề
có tính chất chiến lợc của Công ty nh thông qua điều lệ, phơng án xây dựng
Công ty, quyết toán tài chính, giải thể, bầu và ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo
của Công ty. Ngời Giám đốc của Công ty "chỉ đơn giản điều khiểu và quản lý t
bản ngời khác", anh ta chỉ là ngời làm thuê với loại lao động đặc biệt mà "giá cả
đợc qui định trên thị trờng lao động cũng nh bất cứ lao động nào khác". Nh vậy
đặc điểm nổi bật của Công ty cổ phần là quyền sở hữu đợc tách ra khỏi chức
năng của nó. Khác với các loại Công ty khác, Công ty cổ phần là Công ty có
phát hành cổ phiếu.
2. Vai trò của Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức doanh nghiệp phổ biến trong nền
kinh tế thị trờng, có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần
hoàn thiện cơ chế thị trờng, thể hiện:
Một là: Do quan hệ sở hữu trong Công ty cổ phần là thuộc về các cổ đông
nên qui mô sản xuất có khả năng mở rộng to lớn và nhanh chóng, sớm ra đời
các doanh nghiệp lớn cần một số lợng vốn lớn mà không một chủ thể riêng lẻ
nào có thể thực hiện đợc. Một khoản đầu t vốn riêng lẻ ban đầu không đủ để

thời vẫn đề cao vai trò quản lý chuyên nghiệp. Công ty cổ phần trở nên phổ
biến tới mức mọi ngời (không kể đó là nhà t bản hay ngời lao động) đều mua cổ
phiếu,chứng tỏ hình thức này có cơ chế nội tại của nó, có thể tạo điều kiện cho
các quan hệ sở hữu xâm nhập vào nhau. Đây là cơ sở để tập trung xã hội về t
liệu sản xuất và lao động. Công ty cổ phần không chỉ giúp việc chuyển hoá quĩ
tiêu dùng thành quĩ sản xuất trong phạm vi toàn xã hội, mà còn góp phần giảm
bớt lợng dự trữ tiền mặt trong xã hội, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, nâng cao
hiệu quả vận động vốn xã hội.
9
Sự tổ chức của Công ty cổ phần còn tạo điều kiện tập hợp nhiều lực lợng
xã hội vào hoạt động quản lý chung: Bằng việc mua cổ phiếu ở các Công ty cổ
phần, ngời lao động tham gia và quản lý Công ty với t cách là chủ sở hữu đích
thực.
Trong Công ty cổ phần, do chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu vốn,
nên cho phép sử dụng nhà quản lý chuyên nghiệp. Hội đồng quản trị với t cách
đại diện chủ sở hữu, có thể thuê giám đốc điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh. Giám đốc là một nghề, việc sử dụng giám đốc nh vậy là điều kiện để
phát huy tính chủ động sáng tạo của chủ quản lý - một yếu tố không thể thiếu đ-
ợc cho một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả trong kinh tế thị trờng.
Thêm vào đó, cách huy động vốn của Công ty cổ phần làm cho hoạt động
của doanh nghiệp vợt ra khỏi giới hạn cuả mình, hình thành các Công ty cổ
phần xâm nhập vào nhau, có quan hệ dọc, ngang rộng rãi, tạo ra các quan hệ
kinh tế nhiều bên, nâng cao hơn nữa trình độ xã hội hoá.
Bốn là, hoạt động của Công ty cổ phần khơi thông nguồn vốn đầu t gắn
chặt với sự vận hành của nền kinh tế thị trờng. Lợi nhuận và thua lỗ là hai vấn
đề liên quan trực tiếp đến quyết định đầu t. Nhà kinh tế học ngời Mỹ
Samuelson nói rằng:"Lợi nhuận là cái bánh mì tẩm đờng mà ngời ta dùng để
kích thích khả năng kinh doanh; thua lỗ là cái roi da mà ngời ta sẽ nhận lấy, nếu
sử dụng những phơng pháp không kinh tế, hay là sử dụng những yếu tố sản xuất
sẽ mang lại lợi nhuận nhng ngời tiêu dùng lại không muốn bỏ tiền ra mua

thất nếu một Công ty nào đó bị phá sản. Mặt khác, vốn tự có của các Công ty cổ
phần là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, nên nếu Công ty bị phá sản thì đây là
hình thức san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông - một cách giảm nhẹ "nỗi đau kinh tế"
cho một chủ sở hữu (nếu đó là doanh nghiệp một chủ). Vì thế, Công ty cổ phần
có vai trò tạo ra cơ chế phân bổ rủi ro - đặc thù mà các loại hình doanh nghiệp
khác không thể có đựơc.
Công ty cổ phần có khả năng tồn tại vô hạn vì vốn góp cổ phần độc lập với
các cổ đông. Ngời chủ tiền tệ bỏ tiền ra mua cổ phiếu của Công ty cổ phần nh-
ng không có quyền rút vốn, mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu. Họ có thể tự do
mua bán cổ phiếu trên thị trờng và có quyền thừa kế. Vì thế, khác với các loại
11
hình doanh nghiệp khác, vốn cổ phần đã góp tồn tại và gắn liền với quá trình
"sống" của Công ty cổ phần, mặc dù chủ sở hữu cụ thể có thay đổi. Công ty cổ
phần tồn tại liên tục không bị ảnh hởng bởi cổ đông chết hay tù tội..., thậm chí
tồn tại ngay cả trong trờng hợp nó chỉ đem lại lợi tức bằng mức lãi suất nếu gửi
tiền đó vào Ngân hàng.
Tóm lại: Công ty cổ phần là hình thức tổ chức mang tính chất xã hội hoá
cao, không những thể hiện ở phơng diện sở hữu mà còn tập trung ở việc sử dụng
vốn.
3. Các yếu tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty
Môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp những điều kiện, yếu tố
bên trong và bên ngoài có ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
3.1. Khách hàng: Là cá nhân, nhóm ngời, doanh nghiệp có nhu cầu và có
khả năng thanh toán về hàng hoá , dịch vụ của doanh nghiệp mà cha đợc đáp
ứng và mong đợc thoả mãn.
Thị trờng của doanh nghiệp là tập hợp các khách hàng rất đa dạng, khác
nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi c trú, sở thích tiêu dùng và vị trí
trong xã hội... Ngời ta có thể chia khách hàng nói chung thành những nhóm

- Các doanh nghiệp khác đa ra sản phẩm, dịch vụ cho cùng một khách hàng
ở mức giá tơng tự (đối thủ sản phẩm).
- Các doanh nghiệp cùng kinh doanh một hay một số loại sản phẩm (đối
thủ chủng loại sản phẩm).
13
- Các doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh trên một lĩnh vực nào đó.
- Các doanh nghiệp cùng cạnh tranh để kiểm lời của một nhóm khách hàng
nhất định.
3.5. Trung gian thơng mại: là cá nhân, tổ chức giúp doanh nghiệp tuyên
truyền quảng cáo, phân phối hàng hoá và bán hàng đến tay ngời tiêu dùng. Họ
là những cá nhân, tổ chức quảng cáo, tiếp thị, vận chuyển hàng hoá đến ngời
tiêu dùng, bán buôn, bán lẻ và làm đại lý bán hàng cho doanh nghiệp.
3.6. Công chúng: là bất kỳ nhóm ngời nào có một quyền lợi thực tế và hiển
nhiên hay tác động đến khả năng doanh nghiệp nhằm trở thành đối tợng của
doanh nghiệp, bao gồm công luận, chính quyền, công chúng tích cực và công
chúng nội bộ doanh nghiệp. Không ngoan nhất doanh nghiệp phải bỏ thời gian
và chi phí để hớng dẫn công chúng; thấu hiểu nhu cầu, ý kiến và liên kết họ
nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
3.7. Chính trị và luật pháp, để thành công trong kinh doanh các doanh
nghiệp phải phân tích, dự đoán về chính trị và luật pháp cùng xu hớng vận động
của nó bao gồm:
- Sự ổn định về chính trị, đờng lối ngoại giao
- Sự cân bằng các chính sách của Nhà nớc
- Vai trò và chiến lợc phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ.
- Sự điều tiết và khuynh hớng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh
tế.
- Sự phát triển quyết định bảo vệ quyền lợi của ngời tiêu dùng.
- Hệ thống luật pháp , sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành chúng.
3.8. Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế bao gồm các nhân tố tác động
đến sức mua của khách hàng và dạng tiêu dùng hàng hoá, " là máy đo nhiệt độ"

liệu tái sinh và nguyên liệu không thể tái sinh đợc.
- Sự gia tăng chi phí năng lợng
- Mức tăng ô nhiễm buộc các doanh nghiệp tìm hớng thay thế để sản xuất
và đóng gói sản phẩm không tác hại đến môi trờng.
- Sự thay đổi vai trò Nhà nớc trong bảo vệ môi trờng
- Trình độ hiện tại cơ sở hạ tầng sản xuất: đờng xá giao thông, thông tin
liên lạc...
II. Nghiên cứu kết quả hoạt động của một số doanh nghiệp sau
khi đ chuyển sang hình thức cổ phần.ã
1. Kết quả bớc đầu của các doanh nghiệp đã đợc cổ phần hoá.
Trong số 38 doanh nghiệp đã cổ phần hoá, có 12 doanh nghiệp đã hoạt
động từ 1 năm trở lên theo Luật công ty. Nhng Công ty đã cổ phần hoá hoạt
động đều có lãi các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu đều đạt cao hơn trớc. Nhìn
chung:
- Vốn điều lệ (kể cả vốn của Nhà nớc): tăng bình quân 19.06%/năm.
- Doanh thu: Tăng bình quân 46%/năm
- Lợi nhuận: Tăng bình quân 44%/năm
- Các khoản nộp ngân sách: Tăng bình quân 82%/năm
- Tỷ suất lợi nhuận năm 1997 trên vốn sở hữu (gồm vốn góp ban đầu và
vốn tích luỹ) là 44%.
- Số lao động làm việc tại Công ty cổ phần tăng bình quân 30%/năm
16
- Thu nhập của ngời lao động tăng bình quân 14,3%/năm
Ngoài ra, ngời lao động có cổ phần trong Công ty còn đợc chia lợi tức trên
vốn góp cổ phần từ lợi nhuận sau thuế 22 - 24%/năm (nếu gửi tiết kiệm thì tối
đa cũng chỉ đợc 12%/năm).
Tóm lại, các doanh nghiệp đã chuyển thành Công ty cổ phần đều cho thấy
hiệu quả hoạt động kinh doanh tăng lên rõ rệt. Nhờ hiệu quả đợc nâng cao nên
tăng thêm đợc việc làm, tăng thu nhập cho cổ đông (trong đó có cổ đông Nhà n-
ớc và ngời lao động) vừa đợc hởng cổ tức ở mức cao, vừa tăng giá trị vốn góp tại

Phong đã đạt hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn trớc khi cổ phần hoá thể hiện qua
các chỉ tiêui
- Doanh thu 62 tỉ đồng tăng 122,9%
- Lãi 6,5 tỉ đồng tăng 153%
- Nộp ngân sách 3,5 tỉ đồng tăng 118%.
Ngoài ra Nhà nớc còn thu đợc cổ tức 6 tháng đầu năm 1996 là
469.992.600 đồng.
- Lao động tăng từ 84 ngời (trong đó có 64 ngời biên chế) lên 153 ngời (90
ngời biên chế).
- Thu nhập bình quân đạt trên 1 triệu đồng/ngời/tháng, 6 tháng cuối năm
1995 cổ tức chia cho cổ đông là 3,3% cổ phần tháng. Sau 6 tháng mỗi cổ phần
tăng giá trị 8,57%.
2.2. Xí nghiệp cơ điện lạnh
Xí nghiệp cơ điện lạnh đợc thành lập và phát triển trên cơ sở xí nghiệp liên
hiệp thiết bị lạnh trực thuộc sở công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, đợc thành
lập ngày 17/5/1987. Trong tình hình đổi mới ở nớc ta, công nhận nền kinh tế thị
trờng với nhiều thành phần kinh tế, Ban giám đốc và tập thể ngời lao động tại
18
Xí nghiệp đã mạnh dạn hởng ứng đăng ký làm thí điểm cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nớc. Tuy bớc chuẩn bị cổ phần hoá của xí nghiệp cả một năm, nhng
do chuẩn bị kỹ nên các bớc tuần tự tiếp theo của việc cổ phần hoá đợc tiến
hành khá gọn nhẹ và suôn sẻ.
Đợc sự đồng ý cho phép thí điểm cổ phần hoá của Bộ Tài chính ngày
6/7/1993 chiếu theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và
đến ngày 27/8/1993, xí nghiệp đã hoàn tất việc định giá doanh nghiệp và đợc
Bộ tài chính công nhận chính thức với quyết định số 615TC/QD/CPH ngày
27/8/1993 với tổng giá trị doanh nghiệp là 16.017.913.896 đồng Việt Nam.
Ngày 6/9/1993, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định số
1327/QĐ - UBND duyệt đề án cổ phần hoàn tất và cho phép phát hành cổ phiếu
và ngày 15/9 đến ngày 10/10/1993 tất cả 160.000 cổ phiếu, với mệnh giá

- Cán bộ công nhân viên chức là 26 cổ đông với số cổ phiếu bằng 11,16%
vốn.
- Cổ đông Nhà nớc nắm giữ lợng cổ phiếu chiếm 51,36% vốn
- Bên ngoài doanh nghiệp là 55cổ đông với số cổ phiếu bằng 37,38% vốn.
Sau một năm hoạt động tổng doanh thu Công ty cổ phần đóng mới và sửa
chữa tàu thuyền Bình định năm 1996 là 4.494.000.000 đồng đến hết tháng
6/1997 con số đó đã lên đến 3 tỉ và theo dự kiến trong năm 1997 doanh thu sẽ
đạt lên đến hơn 6 tỉ và con số này theo Hội đồng quản trị công ty là chắc chắn
họ sẽ đạt đợc.
Nh vậy từ thực tế và kết quả hoạt động với doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ
phần hoá có thể rút ra nhận định bớc đầu.
Khi thực hiện cổ phần hoá, ngoài phần vốn của Nhà nớc (thờng chiếm 30%
tổng giá trị) nhờ việc bán cổ phiếu cho cán bộ, công nhân viên chức trong
doanh nghiệp (thờng từ 3 - 50%) và cho các đối tợng ngoài xã hội nên đã huy
động, thu hút đợc một số lợng vốn của xã hội vào sản xuất. Ví dụ: Công ty xe
khách Hải Phòng, trớc khi cổ phần hoá năm 1991 vốn của xí nghiệp chỉ có 486
triệu đồng, sau khi cổ phần hoá (tính đến 31/12/1996) vốn của Công ty là 2,16
20
tỉ đồng (tăng hơn 4 lần). Nh vậy, mục tiêu thu hút rộng rãi các nguồn vốn của
xã hội để phát triển sản xuất thông qua giải pháp cổ phần hoá, nhng Nhà nớc
vẫn giữ vai trò chủ đạo nhờ duy trì cổ phần chi phối giám sát các hoạt động
bằng pháp luật và nội dung các điều lệ hoạt động với qui định của Nhà nớc.
Quyền lợi của ngời lao động đồng thời là các cổ đông gắn với quyền lợi
của Công ty, ngời lao động một mặt làm việc với tinh thần trách nhiệm cao vì
quyền lợi của mình, mặt khác cũng yêu cầu Hội đồng quản trị, giám đốc điều
hành, phải chỉ đạo và lãnh đạo Công ty hoạt động có hiệu quả để lợi nhuận cao
hơn.
Bộ máy quản lý Công ty cũng đợc bố trí tinh giảm, gọn nhẹ. Trong các
doanh nghiệp đã cổ phần hoá, bộ máy quản lý bao gồm Hội đồng quản trị, Ban
giám đốc và Ban kiểm soát. Giám đốc điều hành doanh nghiệp do Hội đồng

tiềm lực của doanh nghiệp Nhà nớc; tình trạng mất và thất thoát lớn về vốn diễn
ra hết sức nghiêm trọng, việc quản lý đối với doanh nghiệp Nhà nớc còn quá
yếu kém, đặc biệt nghiêm trọng là tình hình buông lỏng quản lý tài chính làm
Nhà nớc mất vai trò thực sự là ngời chủ sở hữu; tình trạng phân hoá, chênh lệch
trong thu nhập ngày càng tăng.
2. Xuất phát từ vai trò Công ty cổ phần.
- Do quan hệ sở hữu trong Công ty cổ phần là thuộc về các cổ đông nên qui
mô sản xuất có khả năng mở rộng to lớn và nhanh chóng, sớm ra đời các doanh
nghiệp lớn cần một lợng vốn lớn mà không một chủ thể riêng lẻ nào có thể thực
hiện đợc. Một khoản đầu t vốn riêng lẻ ban đầu không đủ để xây dựng một
doanh nghiệp lớn trong một thời gian ngắn.
- Để có nhiều lợi nhuận (mà thực thể của nó đối với những ngời có vốn là
lợi tức), ngời chủ tiền tệ hớng đầu t của mình vào các doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả, từ bỏ các doanh nghiệp kém cỏi, không có hoặc có ít lợi nhuận. Do
mục đích của các chủ góp vốn cổ phần muốn thu đợc lợi tức cổ phần cao hơn
mức lãi suất trên thị trờng vốn, nên họ chỉ có thể mua cổ phiếu ở các Công ty có
tơng lai phát đạt.
22
- Để có sự chuyển dịch và lu thông nguồn vốn xã hội qua các Công ty cổ
phần, cần phải ra đời và phát triển thị trờng chứng khoán. Thiếu thị trờng chứng
khoán không có nền kinh tế thị trờng phát triển, song sự ra đời của thị trờng
chứng khoán không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời mà là kết quả
của sự phát triển chung về kinh tế xã hội, trong đó sự ra đời và phát triển, hoạt
động một cách hoàn hảo của các Công ty cổ phần giữ vai trò quyết định.
- Ngời mua cổ phiếu không chỉ mong đợi thu đợc một khoản lợi tức bằng
mức gửi vào ngân hàng mà còn hy vọng vào tơng lai Công ty cổ phần làm ăn
phát đạt sẽ đa lại thu nhập cao hơn. Ngời mua cổ phiếu là ngời tìm kiếm tơng
lai của Công ty cổ phần, mức lợi tức cổ phần phụ thuộc trực tiếp vào trình độ và
kết quả kinh doanh của Công ty. Mức lợi tức cổ phần cao không những có lợi
cho các cổ đông, mà còn ảnh hởng trực tiếp làm tăng giá cổ phiếu của Công ty

trớc những khó khăn gay gắt bắt nguồn từ trình độ phát triển kinh tế của cả nớc
còn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, kinh tế hàng hoá ít phát triển, ch-
a có tích luỹ nội bộ nền kinh tế, nền kinh tế còn bị lệ thuộc nặng nề vào bên
ngoài. Mặt khác, chiến tranh kéo dài đã để lại những hậu quả kinh tế nặng nề
làm cho đất nớc phát triển chậm lại nhiều năm gây ra nhiều hậu quả kinh tế - xã
hội mà nhiều năm mới hàn gắn đợc . Trớc tình hình đó, Đảng và Nhà nớc đã đề
ra nhiều chủ trơng, biện pháp để khôi phục và phát triển kinh tế, đa đất nớc tiến
lên .
Trên cơ sở đó xí nghiệp gạch ngói Yên Từ ra đời và nó trực thuộc sự quản
lý của huyện Yên Mô. Để khắc phục hậu quả sau chiến tranh thì cơ chế kế
hoạch hoá tập trung phát huy đựơc tác dụng vì vậy nhiệm vụ của xí nghiệp lúc
này là cung cấp sản phẩm gạch, ngói cho địa phơng, kế hoạch sản xuất và tiêu
thụ do cấp trên giao chỉ tiêu.
25

Trích đoạn Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Yên từ và đặc điểm hoạt động 325.000 Nhìn vào bảng ta thấy doanh thu quý I năm 99 tăng so với quý IV năm Đánh giá chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng Yên Từ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status