1
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GÂY
GÃY NGANG THÂN KEO LAI (ACACIA MANGIUM X ACACIA
AURICULIFORMIS) Ở TRẠM THỰC NGHIỆM HÀM YÊN,
TUYÊN QUANG
Trần Thị Quên, Ngô Thế Long
Phùng Đình Trung
Trường Đại học Hùng Vương
TÓM TẮT
Keo lai là loài cây gỗ sinh trưởng nhanh và thích hợp với nhiều vùng sinh thái nước ta.
Trong những năm gần đây, ở 1 số địa phương xảy ra hiện tượng gãy gập ngang thân ở giai
đoạn từ tuổi 4 trở đi. Bước đầu nghiên cứu một số nguyên nhân gây gãy ỏ trạm thực nghiệm
Hàm Yên cho thấy: những cây có đường kính tán (D
t
) càng lớn thì khả năng bị gãy càng lớn,
cây phân nhiều cành nhánh lớn có nguy cơ bị gãy lớn. Nhân tố đường kính ngang ngực (D
1.3
)
và chiều cao vút ngọn (H
vn
) cũng có ảnh hưởng nhất định đến khả năng gãy của Keo lai, khi
D
1.3
, H
vn
lớn thì khả năng bị gãy sẽ giảm đi. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng gãy
ngang thân của Keo lai ở khu vực nghiên cứu là do chúng sinh trưởng quá nhanh, đặc biệt là
(H
dc
), đường kính tán (D
t
)
và cả những cây đã bị mất đi phần ngọn (chỉ còn lại chỉ tiêu D
1.3
).
Số liệu: Số liệu nghiên cứu được thu thập theo 2 phương pháp:
+ Thu thập số liệu theo các ô tiêu chuẩn 1000m
2
, dung lượng là 2 ÔTC. Trên mỗi “tiến
hành đo D
1.3
, H
vn
, H
dc
, D
t
và tình hình phân cành nhánh của tất cả các cây trong”.
+ Thu thập số liệu theo thí nghiệm cặp đôi: Khi nghiên cứu 1 cây gãy thì phải nghiên
cứu đi kèm với nó 1 cây sinh trưởng bình thường (cây đi kèm). Cây đi kèm là cây cách xa cây
gãy nhất trong 6 cây gần nhất cây gãy. Dung lượng quan sát là 12 cặp, với việc xác định D
1.3
,
H
vn
, H
i
) = b
o
+ b
1
.D
1.3
+ b
2
.H
vn
+ b
3
.H
dc
+ b
4
.D
t
+ b
5
.PC
Trường hợp 2 (TH
2
): Lập hồi qui Logistic giữa biến khả năng cây bị gãy với D
1.3
,
H
vn
, D
1.3
, H
vn
, H
dc
, D
t
, D
o
t
(tỷ số giữa đường kính tán với đường kính
ngang ngực, L
o
t
(tỷ số giữa chiều dài tán lá với chiều cao vút ngọn). TH
2
: So sánh giữa nhóm cây bình thường và nhóm cây gãy trong lâm phần (bao
gồm cả những cây gãy còn nguyên và kh”ng còn đầy đủ các chỉ tiêu). Các chỉ tiêu so sánh:
D
1.3
, H
vn
, D
t
, D
o
, D
t
, PC)
Từ số liệu điều tra ngoài thực tế nhờ sự trợ giúp của máy tính với phần mềm xử lý thống
kê SPSS cho kết quả như sau:
Bảng 1. Tổng hợp các tham số trong phân tích hồi qui Logistic
Các biến
Tham số Mức ý nghĩa (Sig.) Exp(B)
TH
1
TH
2
TH
1
TH
2
TH
1
TH
2
D
1.3
-1,148 -1,048 0,001 0,000 0,317 0,351
H
vn
- -0,476 - 0,045 - 0,621
D
t
TH
1
: Logit (P
i
) = - 9,766 - 1,148.D
1.3
+ 5,774.D
t
+ 3,907.PC với R
2
= 0.734 (1)
TH
2
: Logit(P
i
) = - 2,707 - 1,048.D
1.3
- 0,476.H
vn
+ 6,371.D
t
với R
2
= 0.718 (2)
Từ các phương trình (1), (2) và bảng 1 cho thấy:`
+ Cây có D
1.3
, H
vn
và giống nhau về tình hình phân cành.
ở TH
2
: cơ hội để cây có đường kính lớn hơn 1cm (ví dụ D
1.3
= 15cm) bị gãy so với cây
khác (D
1.3
= 14cm) giảm đi exp[-1,049(15-14)] 0,351 lần (35,1%) khi chúng có cùng chiều
cao và D
t
; Còn cây có chiều cao tăng lên 1m (ví dụ H
vn
= 15m) có nguy cơ bị gãy so với cây
khác (H
vn
= 14m) giảm đi exp[-0,476(15 - 14)] 0,621 lần (62,1%) khi chúng có cùng D
1.3
và
D
t
; Và một cây có D
t
= 4m có nguy cơ bị gãy hơn so với một cây có D
t
= 3m là exp[6,372(4-
3)] 584,7 lần.
Qua đây cho thấy, đường kính tán có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng gãy gập của Keo
lai.
So sánh sinh trưởng giữa nhóm cây bình thường và nhóm cây gãy trong lâm phần
TH
2
D
1.3
101,0 314,0 -0,398 -0,557 0,691 0,578
H
vn
91,0 305,5 -0,817 -0,710 0,414 0,478
H
dc
39,5 - -2,973 - 0,003 -
D
t
24,0 153,5 -3,623 -3,438 0,000 0,001
D
o
t
18,5 55,0 -3,852 -5,205 0,000 0,000
L
o
t
26,0 - -3,537 - 0,000 -
(ghi chú i - chỉ các nhân tố kh”ng tham gia tính toán)
Nhóm cây 1
17 30 16,65 28,32 283,00 849,50
Nhóm cây 2
13 23 14,00 25,28 182,00 581,50
H
dc
Nhóm cây 1
17 - 19,68
-
334,50 -
Nhóm cây 2
13 - 10,04
-
130,50 -
D
t
Nhóm cây 1
17 30 10,41 20,62 177,00 618,50
Nhóm cây 2
13 23 22,15 35,33 288,00 812,50
D
o
t
Nhóm cây 1
17 30 10,09 17,33 171,50 520,00
Nhóm cây 2
13 23 22,58 39,61 293,50 911,00
L
dc
, D
o
t
và L
o
t
của hai nhóm cây này có sự khác biệt
nhau rõ rệt. Căn cứ vào số hạng trung bình (bảng 3) cho biết: các chỉ tiêu D
t
, D
o
t
và L
o
t
của
nhóm cây 2 là lớn hơn so với nhóm cây 1; còn đối với H
dc
thì nhóm cây 2 lại nhỏ hơn nhóm
cây 1.
Kết quả so sánh cặp đôi về một số chỉ tiêu giữa nhóm cây gãy ngang thân với nhóm cây
kèm trong thí nghiệm cặp đôi
Ưu điểm của so sánh cặp đôi là đảm bảo sự thuần nhất giữa 2 đối tượng nghiên cứu về các
yếu tố như: mật độ, đất đai, địa hình trừ các chỉ tiêu về sinh trưởng có thể là khác nhau .
Bảng 4. Kết quả tính toán giá trị trung bình của các đại lượng so sánh
Cặp
so
sánh
1 2 3 4 5 6 7
a
(k)
(m
2
)
D
o
t(g)
D
o
t(k)
L
o
t(g)
L
o
t(k)
TB 12,47 13,60 16,02 16,07 6,15 9,13 3,59 3,03 5,54 6,21 0,29 0,22
0,61
0,434
5
- D
o
t(k)
0,072364 5,292 11 0,000
7 L
o
t(g)
- L
o
t(k)
0,175049 3,060 11 0,011
Qua bảng 4 và 5 cho thấy:
+ Giữa D
1.3
, H
vn
, D
t
của những cây bị gãy ngang thân so với những cây đi kèm là khác
nhau kh”ng rõ do mức ý nghĩa (Sig.T) > 0,05.
+ Còn sinh trưởng H
dc
, tỷ số giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực (D
o
t
), tỷ số
giữa chiều dài tán lá và chiều cao vút ngọn (L
o
t
) của 2 nhóm cây này là có sự khác nhau rõ rệt
1.3
+ - -
H
vn
- - -
H
dc
- + +
D
t
+ + +
PC + 0 0
D
o
t
0 + +
L
o
t
0 + +
TH
2
TH
2
t
) là nhân tố ảnh hưởng rõ nét nhất đến khả năng gãy ngang thân của Keo lai. Cây có D
t
càng lớn thì khả năng bị gãy càng lớn.
+ Các nhân tố D
o
t
và L
o
t
(các tỷ số có liên quan đến D
t
, D
1.3
và H
vn
) cũng góp mặt từ 2
- 3 lần có liên hệ đến khả năng đổ gãy trong 4 phương pháp tính toán. Kết quả nghiên cứu
khoảng ước lượng cho 2 nhân tố này cho thấy: khi tỷ số giữa đường kính tán và đường kính
ngang ngực (D
o
t
= D
t
/D
1.3
) n”m trong khoảng từ 0,27 á 0,32 và tỷ số giữa chiều dài tán lá và
chiều cao vút ngọn (L
o
Để khắc phục hiện tương trên, người làm rừng cần chú ý chặt tỉa những cây có tán
phát triển mất cân đối, cũng như chặt bỏ những phân cành sớm nh”m làm cho cây phát triển
bền vững trong một quần thể có mật độ thích hợp .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Đình Khả, 1999. Nghiên cứu giống Keo lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm
ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội.
Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Trọng Bình, 2005. Khai thác và sử dụng SPSS để xử lý số liệu
nghiên cứu trong lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội.
Nguyễn Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh, Ngô Kim Khôi. 2006. Phân tích thống kê trong lâm
nghiệp, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội.
Nguyễn Hải Tuất, 2007. Sinh thái học định lượng, tài liệu tham khảo cho sinh viên và
học viên cao học, trường Đại học Lâm nghiệp (Lưu hành nội bộ).
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh, 2005. Điều tra đánh giá rừng trồng
nguyên liệu giấy tại các lâm trường vùng trung tâm Bắc Bộ giai đoạn 2000-2004, Phú Thọ.
Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao, 1997. Điều tra rừng, Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, Hà
Nội.
THE INITIAL RESEARCH ON REASONS FOR THE BROKEN
STEM PHENOMENON OF HYBRID ACACIA TREES AT HAM
YEN STATION, TUYEN QUANG PROVINCE
Tran Thi Quyen, Ngo The Long, Phung Dinh Trung
Hung Vuong University
SUMMARY
Hybrid acacia is a fast growing tree and suits the many ecological conditions of Viet
Nam. In recent years, there is a phenomenon of broken stems of hybrid acacia trees starting
with 4 year old trees and continuing through maturity. The initial research on the reasons for
this phenomenon of broken tree stems at Ham Yen station shows the following: The wider