Luận văn thạc sĩ " Những khuynh hướng sáng tác kịch bản cải lương Nam Bộ trước năm 1945 " doc - Pdf 12


Luận văn thạc sĩ

Những khuynh hướng sáng tác kịch
bản cải lương Nam Bộ trước năm
1945

Đào Lê Na

Mặc dù mới ra đời nhưng trước năm 1945, cải lương đã có số lượng tác
giả và tác phẩm rất lớn để phục vụ cho nhu cầu của đông đảo quần chúng cả
miền Nam lẫn miền Bắc. Vì đây là loại hình nghệ thuật mới, có sự dung hòa
giữa loại hình nghệ thuật phương Tây là kịch nói và kịch hát dân tộc nên đã
đáp ứng được nhu cầu của đại bộ phận khán giả thời bấy giờ. Để đáp ứng
được nhu cầu của quần chúng và để có những vở cải lương biểu diễn kịp thời
cho công chúng, bên cạnh việc tự sáng tác, các soạn giả đã chuyển thể những
tiểu thuyết Việt Nam và Trung Quốc rất “ăn khách” thời bấy giờ. Chính vì
vậy, có những khuynh hướng sáng tác kịch bản cải lương trước năm 1945 là:
dựa vào các tác phẩm văn học Việt Nam, dựa vào văn học các nước, dựa vào
lịch sử Việt Nam, dựa vào các loại hình nghệ thuật khác và phản ánh xã hội,
đề cao đạo lý. Trong số 137 kịch bản cải lương trước năm 1945 mà chúng tôi
sưu tầm được, chiếm tỷ lệ nhiều nhất là những vở cải lương phóng tác tiểu
thuyết Trung Quốc. Theo chúng tôi, nguyên nhân là vì trong thời kỳ đầu mới
ra đời, các soạn giả vẫn còn dè dặt trong việc tự sáng tác do lúc bấy giờ hát
bội vẫn còn một chỗ đứng nhất định, các soạn giả vẫn giữ thói quen diễn lại
“tuồng xưa tích cũ”. Mặt khác, với sự phát triển của văn học dịch, nhiều tiểu
thuyết Trung Quốc được phổ biến ở Việt Nam và được đông đảo nhân dân
yêu thích như: Tây du ký, Tam Quốc chí, Phong thần diễn nghĩa, Tái sanh
duyên, Chung Vô Diệm, Vạn Huê Lầu, Thuyết Đường, Phản Đường, Quần
anh kiệt, Tiết Đình San chinh Tây, Anh hùng náo tam môn giai…Chính vì
thế, các soạn giả cải lương đã đưa những tiểu thuyết này lên sân khấu để vừa

Các vở cải lương trước 1945 dựa vào các tác phẩm văn học Việt Nam chiếm
số lượng tương đối lớn hơn so với các vở cải lương dựa vào lịch sử Việt Nam
và dựa vào các loại hình nghệ thuật khác. Nguyên nhân là thời kỳ này, tiểu
thuyết bằng chữ quốc ngữ ở Nam bộ bắt đầu phát triển mạnh và được nhiều
người yêu thích, đặc biệt là: tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết tình cảm.
Trong số các soạn giả cải lương thời kỳ này có một bộ phận là tiểu thuyết gia
nên văn phong và cấu trúc tiểu thuyết của họ rất phù hợp cho việc chuyển
thể. Chẳng hạn như: Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử. Mặt khác, một bộ
phận soạn giả thấy được trong một số tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam thời
bấy giờ có nội dung phù hợp để chuyển thể thành kịch bản cải lương. Đó là
những tiểu thuyết có sự hấp dẫn về nhân vật, cấu trúc và ý nghĩa xã hội. Ví
dụ như: Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử, Tiểu anh hùng Võ Kiết, Châu
về hiệp phố của Phú Đức…
Khuynh hướng sáng tác dựa vào các tác phẩm văn học Việt Nam chia làm ba
loại: dựa vào truyện kể dân gian Việt Nam, dựa vào truyện Nôm Việt Nam và
dựa vào tiểu thuyết Việt Nam. Trong Văn học Nam bộ từ đầu thế kỷ đến giữa
thế kỷ XX (1900-1954) của Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp có đề cập
đến một số vở cải lương lấy đề tài từ văn học dân gian Việt Nam như: Nhân
vật đạo đồng (tức Vè con cua) của Nguyễn Văn Môn, soạn theo Truyện đời
xưa của Trương Vĩnh Ký, Ngốc tử cưỡi củi của Phạm Thị Phượng, Gánh củi
trạng nguyên của Huỳnh Thủ Trung…nhưng trong 137 kịch bản cải lương
Nam Bộ trước năm 1945 mà chúng tôi sưu tầm được không có những văn
bản nêu trên do đó chúng tôi không khảo sát.
So với các đề tài khác, những vở cải lương lấy đề tài từ cổ tích, thần thoại
thường rất ít theo chúng tôi có nguyên nhân sau: cải lương ra đời trong tình
hình đất nước đang bị giặc ngoại xâm xâm lược, phong trào yêu nước phát
triển mạnh. Bên cạnh đó, những vấn đề xã hội do Âu hóa cũng ngày càng lan
rộng. Thế nên, cải lương cũng phải phát triển theo để kịp phản ánh những vấn
đề thời đại. Chính vì vậy, các soạn giả hoặc là sáng tác những vở cải lương xã
hội, hoặc là phóng tác dựa trên những tác phẩm văn học mang chủ đề yêu

Thứ hai, truyện Nôm chủ yếu được viết bằng thể thơ lục bát của dân tộc nên
gần gũi với lời ca trong cải lương, dễ chuyển thể, dễ ngâm và nói lối. Thứ ba
là, cốt truyện của truyện thơ Nôm dù có tác giả như Truyện Kiều, Lục Vân
Tiên hay khuyết danh như Quan Âm Thị Kính hay Lâm tuyền kỳ ngộ thì vẫn
rất gần gũi với quần chúng, được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và được
quần chúng yêu thích, ngâm, kể. Trong khi đó, tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ
vẫn còn khá xa lạ đối với nhân dân vì nhiều người không biết đọc. Cách kể
chuyện của tiểu thuyết Việt Nam còn khá lạ so với tiểu thuyết chương hồi của
Trung Quốc nên khi lựa chọn để chuyển thể, các soạn giả cải lương cũng cân
nhắc cẩn thận. Hơn nữa, số lượng tiểu thuyết Việt Nam thời bấy giờ so với
truyện thơ Nôm Việt Nam và tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc đang được
dịch và đăng tải ồ ạt trên các tờ báo ít hơn rất nhiều.
2.1.1. Kịch bản cải lương dựa vào truyện Nôm Việt Nam:
Những truyện Nôm được các soạn giả chuyển thể thành kịch bản cải lương
trước 1945 theo chúng tôi khảo sát gồm có: Truyện Kiều của Nguyễn Du,
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Nhị độ mai (truyện Nôm khuyết
danh), Quan âm Thị Kính (khuyết danh), Lâm tuyền kỳ ngộ (khuyết danh).
Ngay từ khi mới ra đời, cải lương đã dựa vào Truyện Kiều và Lục Vân Tiên
để sáng tác. Đó là hai vở cải lương Lục Vân Tiên và Kim Vân Kiều của soạn
giả Trương Duy Toản. Sở dĩ Trương Duy Toản chọn hai vở này để viết kịch
bản cải lương theo chúng tôi có những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Lục Vân Tiên và Kim Vân Kiều là hai truyện Nôm cực kỳ nổi
tiếng của dân tộc ta. Nhân dân ta thường sử dụng hai tác phẩm này để diễn
xướng dân gian như: lẩy Kiều, tập Kiều, hát, ngâm…Vì cả hai tác phẩm đều
viết bằng thể thơ lục bát, thể thơ đặc trưng của dân tộc Việt Nam nên rất
được nhân dân ưa thích, dễ đi vào lòng người. Nếu như Truyện Kiều là tác
phẩm truyện thơ Nôm đặc sắc với thể thơ lục bát mang tính chất bác học
được nhân dân miền Bắc nói riêng và nhân dân cả nước nói chung yêu thích
thì Lục Vân Tiên lại mang thể thơ lục bát đặc trưng của nhân dân miền Nam:
giản dị, tróng sáng, dễ hiểu, được nhân dân miền Nam cực kỳ yêu thích. Do

sưu tầm được có hai vở diễn theo Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cả hai vở
này đều do nhà xuất bản Phạm Đình Khương ấn hành. Đó là vở Hoạn Thơ
tróc Kiều của Trương Quang Tiền và Kiều du thanh minh của Phạm Đình
Khương. Mặc dù cả hai tác giả đều ghi là diễn theo truyện Kim Vân Kiều
nhưng ở đây chúng tôi xin khẳng định, đó là dựa vào truyện Nôm Nguyễn Du
chứ không phải Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, tức là không chỉ
dựa vào mặt cốt truyện. Cả hai vở cải lương này đều chỉ lấy một đoạn trong
Truyện Kiều chứ không diễn lại cả truyện. Vở Hoạn Thơ tróc Kiều diễn từ
đoạn Sở Khanh gạt Kiều trốn đi cho đến đoạn sư Giác Duyên gửi Kiều đến
nhà họ Bạc. Còn vở Kiều du thanh minh diễn từ đoạn Kiều du thanh minh
cho đến lúc Kiều theo Mã Giám Sinh vào lầu xanh của mụ Tú Bà.
Sở dĩ hai vở cải lương chọn hai đoạn như trên đã nêu vì đây là hai đoạn mấu
chốt trong Truyện Kiều, làm nên cuộc đời 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều như
Nguyễn Du đã viết:
Hết nạn nọ đến nạn kia
Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.
Dù tên gọi của hai vở cải lương này khác nhau, dù hai soạn giả lựa chọn diễn
lại hai đoạn khác nhau trong Truyện Kiều nhưng cấu trúc của kịch bản về cơ
bản giống nhau. Vở Hoạn Thơ tróc Kiều bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ với Sở
Khanh và dẫn đến tai họa phải ở lầu xanh tiếp khách. Từ lầu xanh, nàng gặp
và được Thúc Sinh chuộc ra, làm lẽ Thúc Sinh. Hoạn Thơ biết chuyện, lập
mưu chia rẽ Kiều và Thúc Sinh. Kiều trốn khỏi nhà Thúc Sinh đến gặp Giác
Duyên. Tuy nhiên, vì nàng trộm chuông khánh nhà Thúc Sinh nên Giác
Duyên đã gửi nàng cho nhà họ Bạc. Vở Kiều du thanh minh thì bắt đầu bằng
cuộc gặp gỡ giữa Kiều và Kim Trọng nhưng cuối cùng hai người không đến
được với nhau. Kiều bán mình chuộc cha và trao duyên cho Thúy Vân. Vở
cải lương kết thúc ở đoạn Vương Ông tiễn Thúy Kiều về làm vợ Mã Giám
Sinh. Có thể khái quát lại sự giống nhau về mặt kết cấu của hai kịch bản này
như sau:
Kết cấu Kiều du thanh minh Hoạn Thơ tróc Kiều

Vở cải lương Kiều du thanh minh cũng có cách khai thác kịch bản tương tự.
Kịch bản này chọn khai thác bi kịch khi Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha
và trao duyên lại cho Thúy Vân. Đoạn này nằm ở màn thứ sáu.
Thúy Kiều (khóc) nói: Em ôi, mở miệng ra thì gở, để dạ vậy sao đành, cậy
cùng em chút có thương tình, ngồi cho chị lạy rồi sẽ tỏ.
CA TỨ ĐẠI OÁN
Xin cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi,
Chị sẻ bày mấy lời ruột gan
Rủi thay đứt gánh giữa đàng
Nên đã đành dứt tình chàng Kim
Tơ thừa mặc em
Chấp keo loan cho chàng
Vì đâu xui
Cuộc biển dâu đổi dời thôi rất lẹ
Nặng hiếu nhẹ tình
Nên phụ chử sơn minh
Nát ruột mà cắn răng đó em
Ngày xuân em hỡi còn xuân
Có thương tình ruột rà máu mủ
Khá thay lời nước non sanh tử
Chiếc xoa cùng tờ mây nắm giữ
Của tin khi lúc trước, ước thệ nhau cùng.
…Còn ghi lòng
Em nên vợ nên chồng
Chị như có xuống suối vàng
Ắt xót người mạng bạc chớ quên.
Có thể thấy, đoạn ca Tứ đại oán này hoàn toàn giống với đoạn trao duyên
trong Truyện Kiều:
Cậy em, em có chịu lời,

vương du xuân, Mẫu đơn tiên xuất thế, Điên vì tình, Giọt máu chung tình,
Phụng cầu hoàng duyên, Tứ đổ tường, Mạnh Lệ Quân giả trai, Chiêu Quân
lầm kế gian thần, Chiêu Quân giáp mặt Hán Hoàng, Hỏa thiêu Hồng Liên
tự…Do đó ông đã có thể định hình phong cách viết kịch bản cho mình và có
khả năng phóng tác vững chắc. Ngược lại, số vở cải lương mà chúng tôi sưu
tầm được của Phạm Đình Khương chỉ có duy nhất một vở Kiều du thanh
minh. Dĩ nhiên không thể khẳng định Phạm Đình Khương chỉ sáng tác duy
nhất một vở cải lương nhưng có thể khẳng định số lượng kịch bản do Phạm
Đình Khương viết ít hơn Trương Quang Tiền. Cho nên vở Kiều du thanh
minh cũng có thể xem là một sự thể nghiệm của nhà xuất bản Phạm Đình
Khương trong việc chuyển thể kịch bản cải lương từ truyện Nôm.
Không chỉ có Truyện Kiều và Lục Vân Tiên được chuyển thể thành kịch bản
cải lương mà những truyện Nôm khuyết danh như: Nhị độ mai, Quan Âm Thị
Kính hay Lâm tuyền kỳ ngộ cũng được các soạn giả để ý đến.
Nhị độ mai được soạn giả Mộng Trần chuyển thể nhưng vẫn giữ nguyên tên
gọi. Tuy nhiên, tên gọi này dùng để chỉ cho đoạn trích Hoa mai nở hai lần
trong Hồi thứ tư của Nhị độ mai chứ không phải là toàn bộ câu chuyện. Cũng
giống như hai tác giả kể trên, Mộng Trần chỉ chọn một đoạn trong Nhị độ
mai để soạn thành cải lương, đó là đoạn: Lương Ngọc giả danh Vương Hĩ
Đồng vào ở nhà Trần Đông Sơ tế mai cho đến lúc Trần Đông Sơ nhận ra
được.
Ngoài ra, Mộng Trần còn chuyển thể thêm hai đoạn thơ khác để tạo một
chuỗi liên hoàn ba vở cải lương dựa vào truyện thơ Nôm Nhị độ mai, mỗi vở
ông chọn lấy một hồi đặc sắc nhất. Đó là những vở: Hạnh Nguyên cống hồ và
Mai Trần tái ngộ. Trong khi chuyển thể, Mộng Trần bám sát cốt truyện chứ
không bám sát vào ngôn từ. Mặc dù Nhị độ mai có những câu thơ lục bát rất
hay nhưng Mộng Trần không sao chép hoàn toàn những câu lục bát đó. Ông
chỉ lấy ý và để cho nhân vật nói bằng lời của mình sao cho gần lời ăn tiếng
nói hàng ngày nhất.
Chẳng hạn, đoạn Mai Sinh thú thực đã giả dạng Vương Hĩ Đồng trong Nhị

Sơn đông chia bước, Hầu Loan trở lòng,
Ơn Đồ Thân, nghĩa Hĩ Đồng,
Dây oan khi cởi, cửa không khi nhờ.
Bước đường xa, cái sống thừa,
Tấc riêng riêng những nào ngờ có nay !
Trong khi đó, vở cải lương Nhị độ mai viết rất rõ đoạn đối thoại giữa Túy
Hườn và Mai Lương Ngọc cũng như đoạn đối thoại giữa Mai Sinh và Trần
Công về việc giả mạo của chàng. Trong những đoạn đối thoại đó, Mai Sinh
luôn cảm thấy áy náy về tội lỗi của mình. Mai Lương Ngọc nói:
Vải che mắt thánh bấy lâu
Tội đành muôn thác, mặc dầu giết tha.
Và ở đoạn khác, chàng nhắc lại:
Cái thân lận đận lao đao
Giả Hĩ Đồng quảng bao chút phận
Miễng sống thừa dòng mai chẳng tận
Nay lộ tình lòng càng hối hận
Cam đành muôn tội dẫu giết tha dám phiền.
Như vậy, theo chúng tôi, sự khác nhau ở đây có nguyên nhân từ quan niệm
của chính tác giả. Cải lương ra đời trong thời kỳ này bên cạnh kêu gọi lòng
yêu nước còn có vai trò giáo dục, định hướng các phẩm chất đạo đức, trong
đó phẩm chất thẳng thắn, nghiêm túc nhận và sửa chữa sai lầm. Mai Sinh
phạm tội đóng giả người khác, đó chính là tội lừa dối. Tuy nhiên, bản thân
chàng đã nhận thấy sai lầm của mình và sẵn sàng nhận lấy cái chết để chuộc
tội dù cho việc giả mạo kia không phải có ý đồ xấu. Chính vì vậy, việc thẳng
thắn nhận tội của Mai Sinh được Mộng Trần khai thác triệt để định hướng
thanh niên học tập theo gương của chàng.
Bên cạnh Nhị độ mai, truyện thơ Nôm khuyết danh được lấy cảm hứng còn
có Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Lâm tuyền kỳ ngộ…Truyện
nôm Quan Âm Thị Kính được hai tác giả chuyển thể là: Nguyễn Công Mạnh
với tác phẩm cùng tên, Lê Văn Lưu với tên gọi hơi khác một chút là Thị Kính

ta, thì hãy đưa cho ta xem (lấy bức thơ dở xem chưng hững). Cái bức thơ này
nàng gởi cho ai? Tên là Võ Đông Sơ trung úy, chinh phạt giặc Hải khấu! Có
phải mi là Võ Đông Sơ làm quan trung úy chăng?
Võ Đông Sơ: Phải! Ta đây là Võ Đông Sơ chinh phạt giặc Hải khấu, hồi quốc
triều đặng thăng chức Kinh sa đô úy, nàng Bạch Thu Hà là người chung tình
của ta vì bị anh nàng là Bạch Xuân Phương ép gả cho Vương Bích nên nàng
giữ tiết bỏ nhà trốn đi mới ra thân lưu lạc.
Hoàng Nhứt Lang: Nếu vậy quan nhơn đây chính là ân nhân của tôi, vì lúc
giặc Hải khấu cướp thuyền của khách thương hồ, lúc đó tôi cũng bị tai nạn,
nhờ có quan nhơn chinh phục vẹn bước khải hoàn, anh em tôi mới thoát thân
về đây chiêu mộ anh hùng đặng chờ khi hoạt động. Vì chẳng biết nàng Bạch
Thu Hà là người chung tình của quan nhơn nên tôi phải phạm lỗi, từ đây tôi
xin tự hối ăn năn, mong đại lượng của quan nhơn dung thứ.
Có thể nói, yêu nước và thủy chung là hai đức tính truyền thống tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam nên các soạn giả khai thác đề tài này cũng là nằm trong ý
đồ tuyên truyền tinh thần yêu nước sâu rộng trong quần chúng. Mặt khác,
mối tình của Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà, tình yêu ngang trái, yêu nhau
không đến được với nhau cũng đã khiến cho người xem xúc động rất nhiều.
Chính điều này đã làm nên linh hồn của một vở cải lương.
Còn Châu về Hiệp Phố và Tiểu anh hùng Võ Kiết là hai tiểu thuyết thuộc thể
loại trinh thám, một thể loại tiểu thuyết rất thịnh hành thời bấy giờ. Mặc dù
cũng lấy đề tài về tình yêu nhưng Châu về hiệp phố có kết thúc có hậu chứ
không bi lụy như Giọt máu chung tình. Tiểu thuyết xoay quanh mối tình của
chàng trai có tên là Hoàn Ngọc Ân, chàng sinh viên trường Cao đẳng Y khoa
Hà Nội với cô gái có tên là Lệ Thủy, người Sài Gòn xinh đẹp, giàu có nhưng
hành tung rất bí ẩn. Tiểu thuyết này được kể bằng những chi tiết, tình tiết kỳ
bí cuốn hút nên rất hấp dẫn người xem. Bên cạnh đó, cách kể chuyện cũng rất
mới, nhân vật có tính cách mạnh chứ không chung chung như các tiểu thuyết
trước đây do đó nó được độc giả lẫn các nhà phê bình đánh giá cao. Chính vì
vậy, Trần Tr. Cảnh đã chuyển thể thành cải lương Nghĩa Hiệp thâu Ngọc

Cho thỏa tấm lòng mẹ cha nơi âm cung.
Quả thật, việc nàng khiến cho hai anh em họ Đặng phải tự sát không phải chủ
ý của nàng mà là do lời nguyền của người mẹ trước đây. Ngày xưa, mẹ nàng
yêu Đặng Nghiêm Huấn nhưng bị phụ bạc đành phải sang Hồng Kông lấy
một người chồng ngoại quốc. Tuy nhiên, lúc lâm chung, mối hận tình xưa bà
cũng chưa quên nên để lại lời nguyền là cô con gái yêu quý Lệ Thủy sẽ khiến
hai chàng trai nhà họ Đặng tự vẫn vì tình. Lời tâm sự của nàng cho thấy tấm
lòng của người con gái hiếu thảo nhưng cũng thấy ẩn chứa đằng sau đó sự
khát khao một tình yêu thực sự. Nguyên nhân nàng bày tỏ tâm sự trong đoạn
đầu tiên của vở cải lương này là vì nàng cảm thấy khó xử trước bức thư đòi
trả ngọc hoàn của Ngọc Ẩn ký tên Nghĩa Hiệp:
Lệ Thủy: Chẳng giấu chi liệc vị, số là: em mới tiếp bức thư nhàn, dưới trang
ký tên Nghĩa Hiệp rõ ràng, khiến em phải hườn lại ngọc điệp cho chàng. Như
ngọc điệp ấy chư quý huynh đã chẳng biết rằng họ Đặng: Lúc sanh tiền vì
tình luyến ái, tặng cho em gọi là kỷ niệm, nay người quá vản em vì chữ thủy
chung, phải gìn chút dấu tích xưa, Dẫu mà giá đáng mấy tơ hào, em đâu nỡ
đem lòng phụ bạc, huống chi là, vàng thiên kim khó sành, ai đi dại gì mà trả
lại cho ai.
Vì không biết người ký tên Nghĩa Hiệp đó là ai nên nàng hết sức phân vân,
thắc mắc. Sau khi gặp rồi có cuộc đấu với Nghĩa Hiệp, người nhà nàng bị
thương nên nàng nhờ Ngọc Ẩn cứu giúp, từ đó tâm trạng nàng lại tiếp tục
thay đổi. Nàng nghĩ đến Nghĩa Hiệp và trong lòng thực sự cảm thấy thán
phục: À, còn người Nghĩa Hiệp nào đây: Mãnh thần lực chi nhường bá vương
nước Sở, tài hùng anh nào sức thiên tử nhà Đường: vừa ra tay mấy cậu thảy
té nhào, mới bước chơn hoàn ngọc thảy đâu mất, vậy mới đáng gọi là Nghĩa
Hiệp! Thiếp thầm nghĩ nếu thật chẳng trộm đạo thừa gió bẻ măng, thì ắt là:
anh hùng vĩ đại đua sức. Rồi tâm trạng nàng lại tiếp tục rối bời khi Nghĩa
Hiệp nhờ Năm Mạnh đến trả ngọc hoàn cho mình: Chừ ta có nên trả lại cho
ông Đặng Nghiêm Huấn không? Thôi đành trả phức cho rồi, chớ để nó càng
lắm đều khổ não…!Phải, ta nên trả…mà không! Ta vì tâm sự…như không trả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status