Phát triển các hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất của Công ty Dệt Công nghiệp Hà Nội - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại hiện nay việc phát triển nhanh chóng của các dịch vụ là
một tất yếu. Sự chuyên môn hóa sâu sắc trong phân công lao động xã hội làm
năng suất lao động tăng nhanh. Các dịch vụ ra đời phục vụ cho nhu cầu một
cách tốt hơn với chi phí rẻ hơn. Đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ
logistics đã tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh bước sang một giai đoạn
phát triển mới, giai đoạn kinh doanh đa quốc gia. Tận dụng và phát triển các
dịch vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho các doanh nghiệp mở
rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nghiên cứu hoạt động hậu cần vật tư dưới góc độ dịch vụ trong chuyên đề với
nội dung “ Phát triển các hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất
của công ty Cổ phần dệt Công nghiệp Hà Nội”, nghiên cứu nội dung của
dịch vụ hậu cần vật tư và các loại dịch vụ hậu cần vật tư, vai trò và sự tác
động của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó có
biện pháp phát triển các dịch vụ này nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần dệt Công nghiệp Hà Nội.
Cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị phòng Sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu, Phòng kế toán tài chính và sự hướng dẫn tận tình của GS.TS
Đặng Đình Đào em đã hoàn thành được chuyên đề thực tập này.
Chuyên đề thực tập nghiên cứu vấn đề “ Phát triển dịch vụ hậu cần cho
sản xuất của công ty Cổ phần dệt vải Công nghiệp Hà Nội” được phân tích
trên cơ sở lý luận chung và thực trạng phát triển hoạt động này tại Công ty
trong vòng năm năm qua. Chuyên đề bao gồm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về dịch vụ hậu cần vật tư của doanh nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương II: Phân tích thực trạng công tác dịch vụ hậu cần vật tư của
công ty Cổ phần dệt vải Công nghiệp Hà Nội. Sự tác động của công tác dịch
vụ hậu cần vật tư đến hoạt động kinh doanh của công ty
Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất

chính là ở mục đích sử dụng của chúng, hàng tiêu dùng là sản phẩm con người tạo ra
nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của con người. Tùy xem góc độ xem xét thế nào mà
Mua sắm các
yếu tố đầu
vào cần cho
sản xuất
Tổ chức hoạt
động sản
Tiêu thụ
sản phẩm
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng hóa đó là hàng tiêu dùng hay là vật tư. Vật tư kĩ thuật là một dạng biểu hiện của
tư liệu sản xuất,dùng chỉ những vật có chức năng làm tư liệu sản xuất, đang trong quá
trình vận động từ sản xuất đến tiêu dùng cho sản xuất của doanh nghiệp, chưa bước
vào tiêu dùng sản xuất trực tiếp. Tuy nhiên không phải mọi tư liệu sản xuất đều là vật
tư kĩ thuật. Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động. Các sản
phẩm của tự nhiên phải qua cải biến và tác động của con người thì mới có các đặc
thù, và các tính năng kỹ thuật, do đó nên không phải mọi đối tượng lao động đều là
sản phẩm của lao động, chỉ nguyên vật liệu mới là sản phẩm của lao động. Vật tư kĩ
thuật chỉ là một bộ phận trong tư liệu sản xuất.
Hoạt động cuối cùng trong chuỗi hoạt động của doanh nghiệp đó là hoạt động tiêu
thụ sản phẩm, đây là hoạt động vô cùng khó khăn ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp, đặc biệt trong cơ chế “một người mua, vạn người bán” như
hiện nay.
Xem xét hoạt động đầu tiên để trả lời cho câu hỏi “ Dịch vụ hậu cần vật tư cho sản
xuất là gì?” và phân biệt hoạt động hậu cần trong sản xuất và hậu cần trong tiêu thụ
sản phẩm.
Thuật ngữ “hậu cần” xuất hiện cách đây hơn hai ngàn năm, thuật ngữ này được sử
dụng đầu tiên trong quân đội, thuật ngữ được dịch ra từ tiếng Anh là logistics.
Logistics được coi là một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu, đó chính là việc vận

lựa chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển
và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên
vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ
giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối
cùng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
 Theo khái niệm của Liên hợp quốc được sử dụng cho khóa đào tạo quốc tế về
vận tải đa phương thức và quản lý logistics tổ chức tại Đại học Ngoại thương
Hà Nội tháng 10/2002 thì: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển
Chuyên đề tốt nghiệp
nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra các sản phẩm cho tới tay
người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng…
Qua các khái niệm trên đây, cho thấy cho dù có khác nhau về cách diễn đạt,
cách trình bày nhưng trong nội dung tất cả định nghĩa đề cho thấy điểm chung đó là
thừa nhận logistics không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là cả một quá trình quản
lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua các quá trình lưu kho,
sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng. Chính vì vậy mà logistics
luôn được viết ở dạng số nhiều.
Xem sơ đồ sau:

Logistics đến (logistics nội biên) Logistics đi (logistics ngoại biên)
Chuỗi Logistics
Xem xét chuỗi hậu cần (chuỗi logistics) của một doanh nghiệp sản xuất có thể
phân biệt rõ ràng hai hoạt động cơ bản nhất: hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư
(logistics đến) và hoạt động hậu cần tiêu thụ sản phẩm (logistics đi).
Vậy dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất hay chính là logistics đến (logistics nội biên)
đó là các hoạt động chuẩn bị cho mua sắm vật tư cho sản xuất,quản lý dòng lưu
chuyển của vật tư từ khi mua sắm đến khi lưu kho và chuẩn bị vật tư sử dụng cho sản

dịch vụ hậu cần vật tư trong từng doanh nghiệp.
 Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh. Với mức tăng chóng mặt của giá dầu thô
trên thế giới hiện nay kéo theo sự tăng giá của một loạt các mặt hàng làm kinh
tế thế giới chao đảo. Chi phí vận tải tăng, vận tải không thể là nhân tố cố định
trong phương án kinh doanh của doanh nghiệp nữa, như vậy đòi hỏi thực tế
cần có cấp quản lý cao hơn để can thiệp vào lĩnh vực liên quan đến vận tải và
cả trong lĩnh vực chính sách cũng như quá trình thực hiện.
 Thứ hai, hiệu quả sản xuất đã đạt tới đỉnh cao, do đó ngày càng khó khăn hơn
trong việc tìm kiếm các biện pháp nhằm tiết kiệm hơn nữa những chi phí từ
sản xuất. Vì vậy, muốn tối ưu hóa quá trình sản xuất vật chất các doanh nghiệp
phải tìm một giải pháp “phân phối vật chất” và “hậu cần vật tư sản xuất” .
Dịch vụ hậu cần vật tư giúp cho quá trình cung ứng vật tư có hiệu quả cao, tối
ưu hóa đầu vào và giảm chi phí tới mức tối thiểu.
 Thứ ba, sự thay đổi trong nguyên lý dự trữ hàng hóa. Trước đây người bán lẻ
giữ đến 50% hàng hóa của công ty,nửa còn lại là trong tay người bán buôn và
doanh nghiệp. Hiện nay thay đổi tỷ lệ nắm giữ hàng hóa: bán lẻ chiếm 10%
còn lại là các nhà phân phối và sản xuất giữ 90%.
 Tiếp theo là công nghệ thông tin ngày càng phát triển, cung cấp các nguồn
hàng và đơn hàng nhanh chóng, quá trình đàm phán và kí kết hợi đồng được
diễn ra trong thời gian ngắn và mang lại hiệu quả cao. Việc ứng dụng thương
Chuyên đề tốt nghiệp
mại điện tử trong hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư rõ ràng tạo ra những giá trị
mới mà trong cách truyền thống không thể có được.
 Cuối cùng là sự gia tăng sử dụng vi tính trong doanh nghiệp. Hiện nay các
doanh nghiệp chuyển sang áp dụng JIT( just in time).
Trên đây là các nguyên nhân cơ bản thúc đẩy sự ra đời và phát triển tất yếu của
dịch vụ hậu cần vật tư.Khi xã hội có sự biến đổi, muốn tối ưu quá trình sản xuất vật
chất, giờ đây không thể chỉ chú trọng vào khâu sản xuất mà cần phải quan tâm phát
triển dịch vụ hậu cần vật tư, kết hợp các yếu tố có liên quan trong hoạt động logistics
đến để tạo thành dòng chảy liên tục, rút ngắn vòng quay của vật tư, giảm tối đa chi

khách hàng về lâu dài cho doanh nghiệp. Mặt khác, người tiêu dùng với ngân sách
tiêu dùng có hạn, họ luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi ích tiêu dùng của mình.
Họ luôn đòi hỏi các sản phẩm phải thỏa mãn được một nhu cầu nào đó, yếu tố
mà họ luôn quan tâm đó là giá cả và chất lượng sản phẩm. Qua phân tích có thể thấy
rõ vai trò của dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất đối với doanh nghiệp, ngoài việc
giúp tạo dựng thương hiệu cho doanh nghiệp hoạt động dịch vụ hậu cần vật tư còn
giúp tăng độ thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của doanh nghiệp và gián tiếp thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng. Khi đóng vai trò là đối tượng lao động chủ yếu là nguyên vật
liệu, vật tư sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu, góp phần
sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh. Chi phí cho vật tư chiếm 60% đến 70% trong cơ
cấu giá thành sản phẩm, sử dụng hiệu quả vật tư và có các biện pháp thúc đẩy dịch
vụ hậu cần vật tư cho sản xuất sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả
công tác hậu cần đầu vào cho sản xuất, và từ đó góp phần nâng cao sức cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Với tư cách là tư liệu lao động, vật tư kĩ thuật với bộ phận chủ yếu là máy móc
thiết bị, thể hiện trình độ trang bị kĩ thuật cho sản xuất, thể hiện công nghệ mà doanh
nghiệp sử dụng, mức độ hiện đại và công suất của trang thiết bị. Đây là nhân tố nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm sản xuất đáp ứng nhu cầu của khách
hàng. Làm tốt công tác dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất giúp cho việc phát triển
Chuyên đề tốt nghiệp
và mở rộng hơn nữa quy mô kinh doanh và tái sản xuất mở rộng của các doanh
nghiệp.
Dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của bất kì một doanh nghiệp nào cũng
đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đây là hoạt động bổ trợ cho hoạt động hậu cần đầu
vào mang tính chất quyết định cho toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Chi phí cho mua sắm vật tư là chi phí lớn nhất trong toàn bộ giá
thành sản phẩm. Chính vì thế việc nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thông
qua hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng và thương hiệu của doanh nghiệp
phải thông qua việc phát triển và hoàn thiện các dịch vụ hậu cần của doanh nghiệp.
Hoàn thiện hay phát triển dịch vụ hậu cần vật tư hiện nay đang được các doanh

làm cho quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ hơn và sâu sắc hơn.
Dịch vụ hậu cần vật tư có vai trò to lớn trong phân phối vật chất của xã hội thông qua
quá trình mua sắm vật tư thiết bị phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp. Phát triển
dịch vụ hậu cần vật tư góp phần giảm chi phí đầu vào, giảm thiểu được những rủi ro
trong kinh doanh, và giúp doanh nghiệp làm ăn ngày càng có lãi, mở rộng quan hệ sản
xuất kinh doanh cũng như các mối quan hệ kinh tế, góp phần trong việc thúc đẩy hiệu
quả kinh doanh và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
3. Ý nghĩa nghiên cứu công tác dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của các
doanh nghiệp.
Nghiên cứu công tác dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của các doanh
nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh đều
nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, nhưng làm thế nào để đạt được thành công trong
kinh doanh thì không phải doanh nghiệp nào cũng khai thác hết được các yếu tố.
Trong thời đại hiện nay khi mà công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, việc mở
rộng qui mô sản xuất và năng suất của máy móc hầu như đã được khai thác hết.
Trong khi việc chú trọng trong khâu hậu cần gần như chưa được các doanh nghiệp
quan tâm đúng mức. Trong phương án hậu cần vật tư, phương án về vận chuyển là
một phương án cố định, việc lựa chọn bạn hàng và giao dịch có lợi nhất chưa được
Chuyên đề tốt nghiệp
xem xét. Chi phí về vật tư và kĩ thuật chiếm từ 60% đến 70% giá thành sản phẩm,
trong đó chi phí vận tải chiếm 80% chi phí mua vật tư. Điều đó đặt ra thực tế rằng cần
phải tập trung giảm chi phí trong khâu hậu cần, cụ thể trong hậu cần vật tư của doanh
nghiệp.
Công tác hậu cần vật tư có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Hoạt động hậu cần vật tư cho sản xuất cần đáp ứng được bốn yêu cầu
cho sản xuất đó là: đúng về chất lượng, đủ về số lượng, kịp thời về mặt thời gian và
đồng bộ về mặt cơ cấu. Nâng cao hiệu quả của từng công tác trong chuỗi logistics đến
nhằm tăng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng và mở rộng qui mô sản xuất.
Nghiên cứu dịch vụ hậu cần vật tư trong sản xuất của các doanh nghiệp để

quản…
1. Nội dung của dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
1.1Xác định nhu cầu vật tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
Đây là hoạt động đầu tiên trong chuỗi dịch vụ hậu cần cho sản xuất của
doanh nghiệp. Hoạt động này quyết định toàn bộ đến các hoạt động khác trong chuỗi
logistics đến của doanh nghiệp.
Xác định kế hoạch mua sắm vât tư nhằm trả lời cho ba câu hỏi: những danh
mục vật tư hàng hóa nào có nhu cầu? Số lượng nhu cầu của mỗi loại vật tư?phân phối
nhu cầu theo thời gian? Trên cơ sở kết quả của quá trình xác định nhu cầu vật tư
người ta sẽ tiến hành lập các kế hoạch và tổ chức mua sắm vật tư phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp.
1.1.1. Nhu cầu vật tư là gì và các đặc trưng cơ bản.
Nhu cầu là thuật ngữ dùng để chỉ cảm giác thiếu hụt một thứ gì đó mà con
người cảm nhận được. Nhu cầu của con người vô cùng đa dạng và phức tạp, bao gồm
nhiều thứ bậc. Chỉ khi các nhu cầu ở bậc thấp được thỏa mãn thì con người mới xuất
hiện các nhu cầu ở bậc cao hơn. Nhìn chung nhu cầu hàm chứa ba mức độ: nhu cầu tự
nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán (hay nhu cầu hiện thực).Trong
đó nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu ở mức cao nhất. Nhu cầu có khả năng
thanh toán là những mong muốn có khả năng trở thành hiện thực nếu như có sản
phẩm thỏa mãn được nhu cầu. Nhu cầu có khả năng thanh toán là nhu cầu mà các
nhà sản xuất kiếm tìm và tìm mọi cách để thỏa mãn nó. Trong doanh nghiệp nhu cầu
về vật tư kỹ thuật cho sản xuất là một nhu cầu có khả năng thanh toán và phải được
thỏa mãn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vậy nhu cầu vật tư là những nhu cầu thiết yếu về nguyên nhiên vật liệu, thiết bị
máy móc để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định. Doanh nghiệp mua
sắm vật tư chính là hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lời. Vật tư cũng là một loại
hàng hóa, do đó hoạt động mua sắm vật tư có những đặc điểm của nhu cầu hàng hóa
và dịch vụ nói chung. Tuy nhiên có thể nói vật tư kỹ thuật là một loại hàng hóa đặc
Chuyên đề tốt nghiệp
biệt, điều khác nhau cơ bản giữa vật tư và hàng hóa tiêu dùng cá nhân thông thường

chuẩn bị các phương tiện vận tải…
1.1.2Kết cấu nhu cầu vật tư và các nhân tố hình thành nhu cầu vật tư
a. Kết cấu của nhu cầu vật tư
Kết cấu nhu cầu vật tư là thành phần của từng loại vật tư trong tổng các nhu cầu
vật tư cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết cấu của nhu
cầu vật tư ảnh hưởng đến việc lựa chọn loại phương tiện vận chuyển, điều kiện bảo
quản, và các nhân tố khác trong quá trình mua sắm vật tư cho sản xuất.
Kết cấu nhu cầu vật tư của một doanh nghiệp được khái quát trong sơ đồ sau:
Thông thường các doanh nghiệp thông qua phân tích kết cấu sản phẩm để xác
định các loại vật tư cần thiết cho sản xuất, số lượng mỗi loại vật tư, thời gian cần vật
tư để sản xuất sản phẩm theo đúng kế hoạch sản xuất
b. Các nhân tố hình thành nên nhu cầu vật tư cho sản xuất của các doanh nghiệp.
Để xác định nhu cầu vật tư cho sản xuất của một doanh nghiệp cần phải căn cứ
vào các yếu tố sau:
Tổng nhu cầu vật

Nhu cầu vật tư
cho quản lý
Nhu cầu vật tư
cho sản xuất
Nhu cầu vật tư
cho hoạt động
khác
Nhu cầu vật tư
cho PX A
Nhu cầu vật tư
cho PX B

• Nhu cầu vật tư cho sản phẩm mới (N spm).
• Nhu cầu vật tư cho sửa chữa (Nsc).
- Nhu cầu về máy móc thiết bị:
• Nhu cầu máy móc thiết bị cho lắp máy sản phẩm.
• Nhu cầu máy móc thiết bị cho mở rộng năng lực sản xuất.
• Nhu cầu máy móc thiết bị cho thay thế.
• Nhu cầu máy móc thiết bị cho xây dựng mới (mở các phân
xưởng mới, cơ sở kinh doanh mới…)
1.1.3Phương pháp xác định các loại nhu cầu vật tư cho sản xuất của các doanh
nghiệp sản xuất.
Chuyên đề tốt nghiệp
Xác định nhu cầu vật tư cho sản xuất ở các doanh nghiệp có nhiều phương pháp
khác nhau. Tùy theo điều kiện của mỗi doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp
tính cho phù hợp.
1.1.3.1Xác định nhu cầu về nguyên vật liệu.
Có 4 phương pháp để xác định nhu cầu về nguyên vật liệu cho sản xuất của
doanh nghiệp:
a. Phương pháp tính theo sản lượng sản phẩm: sử dụng trong trường hợp doanh
nghiệp xác định được số lượng cần sản xuất trong kì kế hoạch và mức tiêu dùng vật
tư cho sản xuất một đơn vị sản phẩm. Phương pháp này có 4 cách tính:
 Phương pháp tính theo mức sản phẩm: nhu cầu mua sắm vật tư cho sản
xuất được tính bằng mức tiêu dùng vật tư cho một sản phẩm nhân với số
lượng sản phẩm sản xuất. Công thức tính:
Nsxsp=

=
×
n
i
mspiQspi



×
mbq: mức tiêu dùng bình quân
mspi: mức tiêu dùng vật tư của sản phẩm i
kspi: tỷ trọng loại sản phẩm i trong tổng số.
 Phương pháp dựa vào sản phẩm tương tự( có cùng công nghệ chế tạo …):
áp dụng trong trường hợp kì kế hoạch doanh nghiệp sản xuất các loại sản
phẩm mới nhưng chưa xây dựng được mức sử dụng vật tư. Công thức tính:
Nsx= Qsp
×
mtt
×
K
Nsx: nhu cầu vật tư dùng để sản xuất sản phẩm trong kì
Qsp: số lượng sản phẩm sản xuất trong kì kế hoạch.
mtt: mức tiêu dùng vật tư của sản phẩm tương tự.
K: hệ số điều chỉnh giữa hai loại sản phẩm.
b. Phương pháp xác định nhu cầu vật tư dựa vào thời hạn sử dụng vật tư
Phương pháp này áp dụng với loại yêu cầu mà việc điều tiết nó không theo mức
tiêu dùng vật tư. Áp dụng tính toán với các loại phụ tùng , ô tô, xe máy, bóng đèn, sản
xuất các loại vật liệu điện và các loại quần áo bảo hộ lao động, giầy dép phục vụ cho
lao động.
Công thức tính:
N sx=
T
Pvt

Nsx: nhu cầu vật tư cần cho sản xuất trong kì
Pvt: nhu cầu hàng hóa cần có cho sử dụng

Nt
Nvt: nhu cầu vật tư để sản xuất sản phẩm trong kì kế hoạch
K: Hệ số thu thành phẩm
Bước 3: xác định nhu cầu về từng loại vật tư hàng hóa
Nabc= Nvt
×
H
Nabc: nhu cầu về từng loại vật tư hàng hóa
Nvt: tổng nhu cầu vật tư
H: tỷ trọng của từng loại vật vật tư tham gia vào quá trình sản xuất.
1.1.1 Nhu cầu vật tư về máy móc thiết bị:
Chuyên đề tốt nghiệp
Xác định nhu cầu này, người ta căn cứ vào tình hình sử dụng thực tế của máy móc
thiết bị. Được chia thành các nhóm cơ bản sau:
+Máy móc thiết bị sử dụng mới
+Máy móc thiết bị để thay thế: thay thế máy móc thiết bị đã hết thời hạn
khấu hao, số máy móc thiết bị cần thay thế.
+ Máy móc thiết bị để tăng khả năng sản xuất của doanh nghiệp
Nhóm 1: máy móc thiết bị sử dụng mới.
Xác định nhu cầu này sử dụng công thức:
Ntb= Mtb
×
Ksp+Tck-T đk
Ntb: nhu cầu máy móc thiết bị mới
Mtb: mức thiết bị dùng cho một máy sản phẩm
Ksp: số lượng máy sản phẩm dự kiến sản xuất trong kì kế hoạch
Tck: tồn kho cuối kì về máy móc thiết bị mới
T đk: tồn kho đầu kì về máy móc thiết bị mới.
Nhóm 2: nhu cầu máy móc thiết bị thay thế
Xác định nhu cầu về nhóm máy móc thiết bị này cần phải xác định nguyên nhân

N
(năm)=
90
N
(quí)=
30
N
(tháng)
Nhu cầu vật tư cho sản phẩm dở dang được xác định theo giá trị hoặc theo hiện vật
bằng các phương pháp sau.
+Tính nhu cầu vật tư cho sản phẩm dở dang theo giá trị. Công thức tính:
Ndd=
KH
VT
KH
dd
ddđd
xN
Q
QQ
01

Q
1
dd
: giá trị sản phẩm dở dang đầu kì
Q
0
dd
: giá trị sản phẩm dở dang cuối kì

Chuyên đề tốt nghiệp
Xét về mặt bản chất kế hoạch yêu cầu vật tư phản ánh toàn bộ nhu cầu và khả
năng đảm bảo vật tư của doanh nghiệp trong một kì sản xuất. Thông thường kế hoạch
này được lập theo năm và thời điểm lập kế hoạch vào cuối kì trước. Nội dung cơ bản
của kế hoạch yêu cầu vật tư của doanh nghiệp phản ánh toàn bộ nhu cầu vật tư của
doanh nghiệp trong kì cho các mục đích tiêu dùng khác nhau của doanh nghiệp được
gọi là tổng nhu cầu tiêu dùng vật tư của doanh nghiệp.


ij
N
=

Nsxsp
+

Ndd
+

Ndt
+

Nnckh
+

Ntdmmtb

ij
N
: tổng nhu cầu vật tư (i) phục vụ cho mục đích j

kế hoạch
Xác định
nhu cầu vật

Xác định
nguồn vật
tư nội bộ
Xác định
lượng vật
tư cần mua
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương thức đảm bảo vật tư cho sản xuất của doanh nghiệp chính là việc huy
động các nguồn vật tư khác nhau mà doanh nghiệp có thể sử dụng, để đảm bảo đủ số
lượng, chất lượng, cơ cấu vật tư trên cơ sở kế hoạch yêu cầu vật tư. Các phương thức
đảm bảo vật tư cho sản xuất của doanh nghiệp bao gồm bốn phương thức sau.
a.Nguồn hàng tồn kho đầu kì
Lượng vật tư tồn kho đầu kì có ảnh hưởng lớn đến việc mua sắm vật tư kỹ thuật
của doanh nghiệp. Do vậy việc xác định chính xác khối lượng vật tư tồn kho đầu kì là
rất quan trọng. Việc xác định lượng vật tư tồn đầu kì được tiến hành vào đầu kì kế
hoạch theo phương pháp ước tính do thời điểm xây dựng kế hoạch vào lúc năm báo
cáo chưa kết thúc.
O đk= O tt+ Nh-X
O đk: tồn kho ước tính đầu kì kế hoạch
Ott: tồn kho thực tế tại thời điểm lập kế hoạch
Nh: lượng hàng ước nhập vào kể từ thời điểm lập kế hoạch đến hết năm báo cáo
X: lượng hàng xuất cho tiêu dùng cùng kì(=nhu cầu vật tư sẽ tiêu dùng)
Xác định tồn kho thực tế dựa vào kế toán kho vật tư (thông qua thẻ kho) hoặc tiến
hành kiểm tra cân, đong, đo, đếm trực tiếp tại kho để xác định.
b.Nguồn động viên tiềm lực nội bộ của doanh nghiệp
Đây là nguồn mà doanh nghiệp tự đảm nhận được, các nguồn này bao gồm:

c. Nguồn tiết kiệm trong tiêu dùng, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thông qua các biện pháp kỹ thuật sản xuất , tổ chức quản lý và yếu tố con người.
Doanh nghiệp cần phải xác định mức tiêu dùng vật tư kĩ thuật khoa học, hợp lý. Xác
định mức tiêu hao năng lượng và công suất của máy móc trong quá trình sản xuất sản
phẩm. Quản lý nghiêm việc thực hiện mức và không ngừng cải tiến mức tiêu dùng.
d.Nguồn mua trên thị trường
Nguồn mua trên thị trường là nguồn không thể thiếu đối với bất cứ một doanh
nghiệp nào. Đây là nguồn quan trọng trong việc đảm bảo vật tư sản xuất cho doanh
nghiệp. Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau phân loại nguồn hàng khác nhau. Việc
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiên cứu các nguồn hàng này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn
đối tác kinh doanh.
-Phân loại theo khối lượng vật tư mua được: theo cách phân loại này nguồn vật tư
được chia thành:
+ Nguồn vật tư chính: là nguồn hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối lượng
vật tư mà doanh nghiệp mua sắm phục vụ cho sản xuất.
+ Nguồn vật tư phụ mới: đây là nguồn hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số vật tư
cần mua được coi là nguồn bổ sung, không thường xuyên, không ảnh hưởng nhiều
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Nguồn hàng trôi nổi: đây là nguồn hàng mà doanh nghiệp có thể mua được do các
doanh nghiệp không tiêu dùng đến, hoặc do các doanh nghiệp khác bán ra. Đối với
loại hàng này khi mua cần phải xem xét thật kỹ chất lượng , giá cả, nguồn gốc xuất
xứ của vật tư để lựa chọn mua vật tư đúng chất lượng và đảm bảo.
-Theo nơi sản xuất của hàng hóa chia thành
+ Nguồn vật tư sản xuất trong nước: nguồn vật tư sản xuất trong nước bao gồm
mọi loại vật tư do các doanh nghiệp sản xuất đặt trên lãnh thổ Việt Nam sản xuất ra.
Có thể chia nguồn hàng sản xuất trong nước theo ngành sản xuất như: nguồn vât tư
do các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sản xuất, công nghiệp trung ương, các
công ty liên doanh hoặc các công ty cổ phần sản xuất… Thông thường nguồn hàng
trong nước khi mua có nhiều lợi thế hơn như giá cả rẻ hơn, điều kiện vận chuyển, kí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status