Phát triển các dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất ở nhà máy nhôm Đông Anh - Pdf 13

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài. ........................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài. ............................................................ 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. ........................................ 2
4. Kết cấu đề tài gồm 3 chương. ................................................................. 2
CHƯƠNG I:
Tổng quan về dịch vụ logistics trong doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh ............................................................................... 3
I. Bản chất, đặc điểm của các dịch vụ logistics trong doanh nghiệp ....... 3
1. Khái niệm .............................................................................................. 3
2. Bản chất ................................................................................................ 4
3. Đặc điểm ............................................................................................... 9
II. Nội dung yêu cầu và các loại dịch vụ logistic trong doanh nghiệp
sản xuất ....................................................................................................... 11
1. Nội dung yêu cầu của dịch vụ Logistics trong doanh nghiệp sản xuât . 11
2. Các loại dịch vụ logistic trong doanh nghiệp sản xuất: ....................... 14
III. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của Logistics trong
doanh nghiệp. ............................................................................................. 16
1. Các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ Logistics. .............................................. 16
2. Phương pháp đánh giá bao gồm .......................................................... 16
3. Các bước xây dựng chỉ tiêu đánh giá. ................................................. 16
IV. Các nhân tố ảnh hư ởng đến sự phát triển của dịch vụ logistic ở các
doanh nghiệp: ............................................................................................ 19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1
CHƯƠNG II:
Thực trạng phát triển các dịch vụ Logistics ở nước ta
hiện nay( lấy nhà máy nhôm Đông Anh làm ví dụ) ............................ 23
I. Quá trình phát triển dịch vụ logistics nói chung và dịch vụ logistics ở
các doanh nghiệp nước ta hiện nay. ......................................................... 23

5. Xây dựng chiến lược kế hoạch phát triển dịch vụ logistics .................. 47
6. Giải pháp hoàn thiện chính sách xúc tiến , khuyêch trương ................ 47
7. Giải pháp chăm sóc phục vụ khách hàng và quản lý khách hàng ........ 48
8. Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị ................................ 48
9. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ............................................... 49
10. Ứng dụng công nghệ thông tin ........................................................... 49
IV. Điều kiện tiền đề để phát triển dịch vụ Logistics. ............................ 50
KẾT LUẬN ........................................................................................... 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. 52
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là từ sau khi Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc Tế WTO, nền kinh tế Việt Nam có
nhiều chuyển biến đáng kể. Các loại hình kinh doanh dịch vụ mới xuất hiện
ngày càng nhiều và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh
tế Việt Nam nói riêng và kinh tế thế giới nói chung. Trong đó kinh doanh dịch
vụ Logistics là một ví dụ điển hình. Sự liên kết về kinh tế ngày càng thể hiện
chặt chẽ, mỗi quốc gia là một mắt xích quan trọng trong hệ thống kinh tế, một
phần được thể hiện rõ trong hoạt động Logistics. Đây là lĩnh vực kinh doanh
hết sứ mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy, tham gia vào
chuỗi giá trị toàn cầu trong hệ thống chuỗi cung ứng dịch vụ Logistics, Việt
Nam còn những đóng góp rất nhỏ. Việc nghiên cứu, ứng dụng và phát triển
các hoạt động trong hệ thống cung ứng dịch vụ này là rất quan trọng không
chỉ đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics nói riêng mà của
cả nhà nước nói chung. Đây cũng chính là lý do em chọn đề tài
“Phát triển các dịch vụ hậu cần vật tư cho sản xuất ở
nhà máy nhôm Đông Anh”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.

Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như
từ “Marketing”, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả những ngôn ngữ
khác. Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ
nào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó. Nhưng rất nhiều công ty giao
nhận vận tải lại được đăng ký là ví dụ như AB Logistics như vậy vô tình công
ty này có thể đựợc hiểu là nhà cung cấp dịch vụ logistics, mà không biết
logistics là gì?
Một số định nghĩa Logistics là hậu cần, số khác lại định nghĩa là nhà
cung ứng các dịch vụ kho bãi và giao nhận hàng hoá và chúng ta thấy rằng
đây giống như là một cái áo thời trang mà công ty giao nhận vận tải hàng hoá
nào cũng muốn có để tăng thêm sức mạnh cho mình.
Vậy Logistics là gì?
Có rất nhiều về khái niệm này:
Logistics đựợc hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát sự
lưu thông và tích chữ một cách hiệu quả tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vật
liệu,thành phẩm và bán thành phẩn, dịch vụ và thông tin đi kèm từ điển khởi
đầu đến điểm kết thúc nhằm mục đích tuân theo các yêu cầu của khách hàng
Logistics có thể đựợc định nghĩa là việ quản lý dòng chu chuyển và lưu
kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và sử lý các thông tin liên
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
quan từ nơi xuất xử đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách
hàng.hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việc thu hồi và sử lý rác
thải(Nguồn: UNESCAP….)
Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu
chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hoá, dịch vụ và các thông tin liên quan
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ vì mục tiên đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
2. Bản chất
Logistics đã và đang được phát triển mạnh ở các nước có nền kinh tế
phát triển, những năm gần đây dịch vụ logistics bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam.

hoá bằng container, đóng mới các phương tiện, thiết bị có sức chở lớn, tổ
chức vận tải đa phương thức nhưng chi phí vận tải vẫn không ngừng tăng lên
do giá nhiên liệu ngày một leo thang. Điều này buộc các nhà sản xuất áp dụng
nhiều biện pháp góp phần giảm chi phí vận tải. Một trong những giải pháp đó
là tăng khả năng so dụng các thiết bị, công cụ và phương tiên vận tải bằng
cách thiết kế các sản phẩm, đóng gói bao bì hàng hoá nhằm tăng tỷ trọng chất
xếp của hàng hoá (cargo density).
Chi phí cơ hội vốn C4 là suất sinh lời tối thiểu mà công ty kiếm được
khi vốn không đầu tư cho hàng hoá tồn trữ mà cho hoạt động khác. Để đơn
giản, ta giả thiết rằng mức sinh lời tối thiểu của vốn là mức lãi suất phải trả
khi vay vốn của một tổ chức tài chính, cho nên C4 được xác định nh sau:
C4 = (qikv)t {(1 + r)t – 1} (2)
Trong đó:
- Qi: số lượng sản phẩm cho một lần gửi hàng đi
- kv: định mức vốn cho một đơn vị sản phẩm. Mức vốn này phụ thuộc
vào công nghệ sản xuất
- t = 1÷ m : số đơn vị thời gian chịu lãi suất hàng năm của hàng tồn trữ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5
(tháng hoặc năm)
- r: mức lãi suất phải trả cho vốn vay.
Qua công thức (2) ta thấy C4 phụ thuộc vào thị trường vốn (r), công
nghệ sản xuất (kv), và khối lượng vật t, sản phẩm tồn trữ. Nếu r cố định và kv
cố định thì C4 tỷ lệ thuận với qi, tức là khi qi nhỏ bao nhiêu lần thì C4 nhỏ
bấy nhiêu lần và ngược lại.
Trước đây, khi thị trờng tiêu thụ còn bị hạn chế, số lượng sản phẩm sản
xuất còn ít, mức lãi vay còn thấp, nên các nhà sản xuất ít quan tâm đến chi phí
này. Ngày nay khi thị trờng tiêu thụ được mở rộng, số lượng sản phẩm nhiều
lần, mức lãi suất vay cao thì chi phí này chiếm một phần đáng kể trong tổng
chi phí liên quan đến hàng tồn trữ. Điều này buộc các nhà sản xuất phải có

C4 + Σ C5 thấp hơn, nhng lại phát sinh các vấn đề sau:
- Thời gian giao hàng ngắn hơn nên đòi hỏi công tác tổ chức vận tải sao
cho đảm bảo, tức là dịch vụ vận tải đa phương thức phải nâng cao. Như vậy
có nghĩa là chi phí vận tải sẽ tăng lên.
- Vì giao hàng nhiều đợt nên vấn đề kiểm soát hàng hoá, vật tư trong l-
ưu thông phải chặt chẽ hơn, đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin nhanh
chóng, chính xác. Chính vì vậy mà bất kỳ một hệ thống logistics nào cũng
phải có một hệ thống thông tin song hành để kiểm soát kịp thời dòng dịch
chuyển của hàng hoá.
Qua những phân tích ở trên, chúng ta thấy mấu chốt ở đây là khối lư-
ợng hàng cung ứng qi cần phải là bao nhiêu để làm giảm Clog = C3 + C4 +
C5. Đây chính là quan điểm xương sống của logistics hay chính là bản chất
của logistic.
Vì vậy ta có thể nói rằng nền kinh tế của Nhật Bản thành công xuất
phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó không thể thiếu đến nguyên nhân quan
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
trọng đó là quan điểm của Nhật Bản về vấn đề tồn trữ, theo các nhà kinh tế
cũng như các nhà kinh doanh Nhật Bản thì “Không có dự trữ là tốt nhất”.
Quan điểm này được hiểu theo hai nghĩa: Không có dự trữ là tốt nhất và
không vốn là tốt nhất. Hai nghĩa trên có chung một bản chất kinh tế vì tiền
vốn dới dạng hiện vật chính là vật tư, sản phẩm. Quan điểm này của Nhật Bản
được sự ủng hộ mạnh mẽ và ngày càng được các nước Châu Âu và Mỹ chấp
nhận.
Ở Việt nam hiện nay thực trang dịch vu logistic vẫn còn khá mới mẻ.
Phần lớn các dịch vụ logistic được thực hiện ở các công ty giao nhận. Cùng
với quá trình hội nhập, logistic và dịch vụ logistic đã theo chân những nhà
đầu tư nước ngoài đến Việt nam. Thời gian gần đây trong lĩnh vực này đã có
những bước phát triển đáng được ghi nhận.
Theo hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam (VIFFAS) cho đến nay ở

chất vừa và nhỏ, hoạt động chia cắt, tản mạn, manh mún.
3. Đặc điểm
Các chuyên gia nghiên cứu về dịch vụ logistics đã rút ra một số đặc
điểm cơ bản của ngành dịch vụ này như sau:
- Logistic là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên ba khía
cạnh chính đó là: logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống
+ Logistic sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống,
nó xuất phát từ bản năng sinh tồn của con ngời, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu
của con ngời: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu. Logistic sinh
tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistic nói chung.
+Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistic sinh tồn và gắn
với toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp.
Logistic hoạt động liên quan tới quá trình vận động và lu kho của nguyên liệu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
9
đầu vào vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh ngiệp, thậm nhập vào các kênh
phân phối trớc khi đến tay ngời tiêu dùng cuối cùng.
- Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động. Các
yếu tố của logistics hệ thống bao gồm các máy moc thiết bị nhà xởng,
logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ,tạo cơ sở
hình thành hệ thống logistics hoàn chỉnh.
- Logistiscs hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp : Logistics hỗ trợ
toàn bộ quá trình họat động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra
khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay ngời tiêu dùng. Một
doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất
cả các yếu tố logistics tuỳ theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. Logistics còn
hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lu trữ
nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong
doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp.
- Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vẩn tải giao

sản xuất
1. Nội dung yêu cầu của dịch vụ Logistics trong doanh nghiệp sản xuât
Giữa những người mua hàng và công ty Logistics sau khi đạt được thoả
thuận về dịch vụ được cung cấp, bên cung cấp dịch vụ sẽ xây dựng lên quy
trình Logistics trong đó thể hiện rõ mọi yêu cầu về dịch vụ của người mua
hàng mà theo đó công ty Logistics có bổn phận phải thực hiện đúng. Quy
trình này thường có tên là quy trình Logistics hiện hành hay quy trình khai
thác tiêu chuẩn. Quy trình Logistics bao gồm các bước sau:
Booking: Theo hợp đồng thương mại kí kết với khách hàng về đơn
hàng cụ thể, chủ hàng sẽ gửi chi tiết số đơn hàng theo mẫu booking quy định
Website: Email : Tel : 0918.775.368
11
cho công ty Logistics bao gồm số PO, số loại hàng, số chiếc, số khối….
Những chi tiết yêu cầu này thay đổi tuỳ theo khách hàng, được quy định trong
quy trình Logistics. Ngoài ra trong mẫu booking cần có những thông tin quan
trọng khác như tên người gửi hàng người nhận hàng số L/C … Sau khi nhận
booking từ chủ hàng, người phụ trách khách hàng của công ty Logistics sẽ
kiểm tra những chi tiết này trên hệ thống giữ liệu mà đã được khách hàng cập
nhật. Ngoài ra quy trình cũng quy định thời gian chủ hàng gửi booking cho
công ty Logistics, chủ hàng không được tuỳ tiện gửi booking theo tình hình
hàng hoá.
Giao hàng : Hàng sau khi được booking sẽ được xuất theo hai dạng là
hàng lẻ hoặc container. Đối với hàng lẻ, chủ hàng phảigiao hàng trước thời
gian cut-off time của công ty Logistics. Tại kho, mã số hàng hoá phảI được
quét mã vạch, việc quét mã vạch này được công ty Logistics thực hiện khi
nhận hàng và đóng hàng vao container. Dữ liệu trên sẽ được cập nhật trên hệ
thống của công ty Logistics. Một số trường hợp hàng hoá phải có thư cam kết
từ phía chủ hàng. Vd hàng nguy hiểm hàng chất lỏng… Việc thực hiện thủ tục
hải quan hàng xuất tại kho sẽ do chủ hàng thực hiện nhưng chủ yếu vẫn là
công ty Logistics làm thay cho chủ hàng, như vậy sẽ thuận tiện và nhanh

có trang bị hệ thống thông tin nội bộ.
- Về kiểm kê tồn kho: người cung cấp logistics điều hành và thường
xuyên giữ mức tồn kho hợp lý,căn cứ vào những tin báo nhận từ mọi chặng
trong chuỗi cung ứng.
- đặt hàng: người cung ứng Logistics chịu trách nhiệm đặt những
nguyên liệu và thành phần lắp ráp khi cần.
- Những dịch vụ tăng giá trị: bao gồm những dịch vụ hoàn tất sản xuất,
đóng gói, dán nhãn, lập hoá đơn, quảng cáo, tài chính, dịch vụ Logistics
Website: Email : Tel : 0918.775.368
13
ngược chiều, đối với khách hàng công nghiệp, những dịch vụ này được yêu
cầu nhiều.
2. Các loại dịch vụ logistic trong doanh nghiệp sản xuất:
- Dịch vụ giao nhận : Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận thực
chất là kinh doanh dịch vụ chuyển hàng từ người chủ hàng ( người sản xuất,
nhà buôn) đến tay người nhận hàng ( nhà phân phối, nhà sản xuất khác). Dịch
vụ này bao gồm cá dịch vụ thu gom, chia tách, giao và nhận hàng hoá.
- Dịch vụ kho bãi: Kho bãi nơi cất giữ nguyên vật liệu, bán thành
phẩm, thành phẩm, hàng hoá trong suốt quá trình lưu chuyển từ điểm đầu đến
điểm cuối của dây truyền cung ứng, đồng thời cung cấp những thông tin về
tình trạng và điều kiện lưu giữ và vị trí của các hàng hoá bị lưu kho. Hiện nay
dịch vụ kho ngoại quan đang ngày càng chứng tỏ ưu thế của mình trong giảm
chi phí, đặc biệt là rút ngắn thời gian vận chuyển hàng.
- Dịch vụ dự trữ hàng hoá: là dịch vụ quan trọng để đảm bảo hàng hoá
luôn săn sàng phục vụ yêu cầu của người tiêu dùng một cách hợp lý. Có ba
hình thức dự trữ là dự trữ các yếu tố đầu vào để sản xuất sản phẩm, dự trữ sản
phẩm và dự trữ nguồn tài chính cần thiết để có sản phẩm. Hoạt động dự trữ
hàng hoá cần được tiến hành ở 3 cấp độ dự trữ Nhà nước, Doanh nghiệp và
người tiêu dùng.
- Dịch vụ cấp tin: cùng với sự phát triển mạnh mẽ của SX và CNTT,

tồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó.Hoạt động
cho thuê và thuê mua cotainer.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
15
III. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của Logistics trong
doanh nghiệp.
1. Các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ Logistics.
- Chất lượng của dịch vu. Gồm có :
Đặc tính của dịch vụ, thiết kế tuổi thọ, khả năng sửa chữa bảo dưỡng, độ tin
cậy.
- Năng lực của nhà cung cấp gồm có năng lực sản xuất, năng lực kỹ
thuật quản lý, điều kiện sản xuất, quan hệ với công nhân.
- Tình hình của nhà cung cấp như: giá cả, tình hình tài chính
- Các đặc tính kỳ vọng của sản phẩm.
- Uy tín của nhà cung cấp gồm có dao hàng đúng thời hạn, lịch sử của
nhà cung cấp và chế độ bảo hành.
2. Phương pháp đánh giá bao gồm
- Sơ loại dựa trên những tiêu chuẩn dễ nhận biết.
- Xác định trọng số cho từng chỉ tiêu.
- Cụ thể hóa từng chỉ tiêu và xác định trọng số cho các chỉ tiêu con
- Xác định thang điểm cho mỗi chỉ tiêu con
- Cho điểm từng chỉ tiêu cho từng nhà cung câp
- Tính điểm tổng cộng và lựa chọn.
3. Các bước xây dựng chỉ tiêu đánh giá.
Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá.
Thông thường để đánh giá dịch vụ Logistics, người ta căn cứ vào các
chỉ tiêu sau đây:
- Chất lượng.
- Năng lực của nhà cung cấp.
- Tình hình tài chính của nhà cung cấp.

cũng không cần phải như nhau.
Việc đánh giá học lực của học sinh trong các trường phổ thông người ta
sử dụng thang điểm 10, điểm lẻ là ½. Nhưng khi chấm điểm thi học sinh giỏi
cấp tỉnh hay cấp quốc gia phải sử dụng tới thang điểm 20, điểm lẻ có khi
xuống tới ¼, vì lúc này người ta yêu cầu độ chính xác phải lớn hơn thì mới có
thể đánh giá được chính xác. Và ở kỳ thi quốc tế người ta phải sử dụng thang
điểm lên tới 40. Vì vậy nếu trong hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả
dịch vụ Logistics, nếu chỉ tiêu nào càng quan trọng thì thang điểm cho nó
càng phải lớn.
Bước 5: Sơ loại dựa trên các tiêu chuẩn dễ nhận biết.
Sau khi đã xây dựng xong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá, người ta tiến
hành đánh giá dịch vụ Logistics. Tuy nhiên có thể sẽ xuất hiện một vài dịch
vụ Logistics có chất lượng yếu kém, "phạm quy" ngay từ đầu, và việc phát
hiện ra các dịch vụ “phạm quy” đó là hết sức dễ dàng. Vì vậy trước khi tiến
hành đánh giá người ta thường thực hiện qua bước sơ loại. Trong việc tuyển
dụng nhân viên ở các doanh nghiệp, bước này chính là bước kiểm tra và loại
ứng cử viên trên hồ sơ.
Bước 6: Cho điểm đánh giá về mức độ hiệu quả các dịch vụ Logistics
của các nhà cung cấp theo từng chỉ tiêu.
Sau khi đã thực hiện qua bước sơ loại, tất cả các nhà cung cấp đã qua
được vòng 1 sẽ được đánh giá và chấm điểm dựa trên các chỉ tiêu, các thang
điểm mà người đánh giá đã xây dựng được ở các bước trước. Trong quá trình
đánh giá, một số các chỉ tiêu định lượng có thể được đánh giá một cách khá
chính xác, ngược lại một số các chỉ tiêu có tính định tính thì lại phụ thuộc
nhiều vào chủ quan của người đánh giá.
Bước 7: Tính điểm tổng cộng và lựa chọn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
18
Đây là bước cuối cùng trong việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp.
Người ta tính điểm tổng cộng bằng cách lấy điểm của từng chỉ tiêu

chuyển hàng hoá (XNK) đề được tăng cả về số lượng và chất lượng.Vì vậy,
các chính sách phát triển dịch vụ Logistics luôn phảI phù hợp và nhằm phục
vụ cho chính sách phát triển kinh tế của đất nước và dựa trên các chỉ tiêu về
phát triển KTXH, chính sách phát triển XNK, chính sách lưu thông hàng hoá
trong nước mới thực sự là nhân tố phục vụ, thúc đẩy, kiểm soát và hỗ trợ cho
dòng chảy của hàng hoá ở cả trong và ngoài nước.
- Cơ sở hạ tầng: Bao gồm hệ thống đường sá, bến bãI, sân bay. Bến
cảng,mạng trực viễn thông, hệ thống cấp điện nước…phục vụ cho việc lưu
chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Đây là yếu tố không thể
thiếu được trong quá trình lưu chuyển hàng hoá.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung ứng và kinh doanh
dịch vụ Logistics : Dòng lưu chuyển hàng hoá có phạm vi toàn cầu, sản xuất
trong một nước nhưng có thể phục vụ người tiêu dùng trên toàn thế giới, đòi
hỏi dịch vụ Logistics cũng phải được mở rộng và khả năng và phạm vi phục
vụ.Hiện nay, vận tải đa phương thức cùng với sự đa dạng hoá các hình thức
giao nhận hiện đại( giao hàng bằng container, giao nhận tại nhà ), việc sử
dụng các phương tiện xếp dỡ, kiểm đếm và các thông tin hiện đại khác đã làm
cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics ngày càng phát triển và
hoạt động có hiểu quả. Vì vậy, các doanh nghiệp phảI không ngừng mở rộng
quy mô, công nghệ hiện đại và phảI có chiến lược kinh doanh rõ ràng mới
thắng thế trong cạnh tranh.
- Khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật :
Do sản xuất xã hội không ngừng phát triển, khối lượng hàng hoá ngày
càng lớn với loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng, các doanh nghiệp cần phảI
Website: Email : Tel : 0918.775.368
20
có một hệ thống theo dõi hàng hoá hiện đại và phảI được tổ chức một cách
khoa học. Mặt khác, quy mô kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn để
có thể đảm nhận tất cả các khâu trong kinh doanh dịch vụ Logistics. Vì
vậy,các doanh nghiệp đó phảI đầu tư vào các trang thiết bị hiện đại như các

về logistics.kiến thức mà những nhân viên làm việc tại doanh nghiệp logistics
hiện nay có đựợc là từ nước ngoài, một phần nhỏ từ các đại học chuyên ngành
trong nước với kiến thức thiếu cập nhật.
- Các doanh nghiệp logistics hoạt động rời rạc, thiếu hợp tác hỗ trợ lẫn
nhau, thâm chí cạnh tranh thiếu lành mạnh.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status