Phát triển hoạt động kinh doanh tại Công ty Chứng khoán An Bình - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành
một nước công nghiệp phát triển đòi hỏi trong nước phải có một nguồn vốn
lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Vì vậy, Việt Nam cần
phải có chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài
nước để chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thành nguồn vốn
đầu tư và thị trường chứng khoán tất yếu sẽ ra đời vì nó giữ vai trò quan trọng
đối với việc huy động vốn trung và dài hạn cho hoạt động kinh tế.
Nhận thức rõ việc xây dựng thị trường chứng khoán là một nhiệm vụ
chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng và phát
triển đất nước, trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các
điều kiện kinh tế – chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình thị
trường chứng khoán trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra đời.
Công ty chứng khoán được coi là một chủ thể tham gia vào thị trường, có
vai trò quan trọng trong việc tạo lập và ổn định thị trường. Với các hoạt động
kinh doanh chủ yếu của công ty là hoạt động môi giới, hoạt động tự doanh, hoạt
động bảo lãnh phát hành, hoạt động tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng
khoán và các hoạt động phụ trợ khác. Với sự bùng nổ của thị trường cuối năm
2006 và đầu năm 2007, TTCK được coi là nơi có nhiều cơ hội kiếm tiền cho các
nhà đầu tư và cho các công ty chứng khoán. Điều này dẫn đến một loạt công ty
chứng khoán được ra đời làm cho sự cạnh tranh giữa các công ty ngày một gay
gắt hơn và dẫn đến một xu thế tất yếu đã xảy ra ở thị trường chứng khoán của
nhiều nước đó là những công ty chứng khoán hoạt động kém hiệu quả sẽ bị loại
bỏ và nhường chỗ cho các công ty có tầm nhìn chiến lược và hoạt động một cách
hiệu quả. Vì vậy, các công ty chứng khoán phải không ngừng nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh mới có thể tồn tại và phát triển được trên thị trường có sự
1
cạnh tranh lớn. Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài: “Phát triển hoạt động kinh
doanh tại công ty chứng khoán An Bình”.

CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Khái niệm
Khi một doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng
khoán, không phải tự họ đi bán số chứng khoán mà họ định phát hành. Họ
không thể làm tốt việc đó đó bởi họ không có bộ máy chuyên môn. Cần
những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng khoán cho họ. Đó là các công ty
chứng khoán, với nghiệp chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, và bộ máy
tổ chức thích hợp, thực hiện được vai trò trung gian môi giới mua – bán, phát
hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả
người đầu tư và người phát hành.
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ có
các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông buôn bán
tấp nập trên thị trường chứng khoán, qua đó, một lượng vốn khổng lồ được
đưa vào đầu tư từ việc tập hợp những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các
nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.
1.1.2. Vai trò của công ty chứng khoán
1.1.2.1.Vai trò huy động vốn
Các công ty chứng khoán với vai trò là trung gian tài chính với vai trò
huy động vốn, làm chiếc cầu nối và đồng thời là kênh dẫn cho vốn chảy từ
một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi)
đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy động vốn). Các
công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này qua các hoạt dodọng bảo
lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.
3
1.1.2.2 Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả
Công ty chứng khoán thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị
trường OTC, có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư

chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng phù hớp với thay đổi trên thị trường và
môi trường kinh tế.
1.1.3. Mô hình công ty chứng khoán
1.1.3.1. Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tienè tệ. Mô hình
này chia thành hai loại:
- Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời.
- Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có
khả năng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán. Mặt khác,
ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh
chứng khoán.
Hạn chế của mô hình này là không phát triển được thị trường cổ phiếu vì
các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là bảo
lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đồng thời, các ngân hàng cũng rất dễ gây
lũng loạn thị trường, và các biến động trên thị trường chứng khoán, nếu có, sẽ
ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không
tách biệt giữa hai loại hình kinh doanh này.
1.1.3.2. Mô hình chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân
hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
5
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng
và tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển.
1.1.4. Tổ chức của công ty chứng khoán

thay đổi cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời.
Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất
định. Nếu công ty thua lỗ và phá sản, cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đã
đầu tư vào công ty.
Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu.
Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo loại hình công
ty cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo
miễn phí.
Hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn
hai hình thức trên.
Do các ưu điểm trên, ngày nay các công ty chứng khóan chủ yếu tồn tại
dưới hình thức các công ty cổ phần, thậm chí nhiều nước (như Hàn Quốc
chẳng hạn) còn quy định công ty chứng khoán bắt buộc là công ty cổ phần.
1.1.5. Đặc trưng của công ty chứng khoán
1.1.5.1. Chuyên môn hóa và phân cấp quản lý
Các công ty chứng khoán chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ
phận, từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ.
Do chuyên môn hóa cao độ dẫn đến phân cấp quản lý và làm nảy sinh
việc có quyền tự quyết.
Một số bộ phận trong tổ chức công ty nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau
(ví dụ bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay bộ phận bảo lãnh phát hành…).
1.1.5.2. Nhân tố con người
Nói chung, trong công ty chứng khoán, quan hệ với khách hàng có tầm
quan trọng số một. Sản phẩm càng trừu tường thì nhân tố con người càng
quan trọng.
7
Khác với các công ty sản xuất, trong công ty chứng khóan, việc thăng
tiến cất nhắc lên những địa vị cao hơn là không quan trọng.
Các chức vụ quản lý hay giám đốc trong công ty còn có thể nhận được ít
thù lao hơn so với một số nhân viên cấp dưới.

và tổ thực hiện lệnh).
Khối II (back office): Thực hiện các công việc yểm trợ cho khối I. Nói
chung, bất kỳ một nghiệp vụ nào ở khối I đều cần sự trợ giúp của các phòng
ban thuộc khối II.
1.2. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1.Khái niệm
Theo luật doanh nghiệp “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.”
Vậy hoạt động kinh doanh là hoạt động nhằm thực hiện một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư nhằm mục đích sinh lợi.
1.2.2. Các hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.2.2.1. Hoạt động môi giới chứng khoán
* Khái niệm
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để nhận hoa hồng.
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong
đó một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch
thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC
mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc
giao dịch đó.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến
khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư
9
bán chứng khoán với nhà đầu tư mua chứng khoán. Và trong những trường
hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ
những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời đồng viên kịp thời cho nhà đầu
tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo.
* Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán
- Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:

- Thực hiện lệnh: Sau khi nhận lệnh giao dịch từ khách hàng và kiểm tra
lệnh thì nhân viên môi giới nhập lệnh vào hệ thống để chuyển tới đại diện sàn
giao dịch.
- Xác nhận kết quả: Sau khi lệnh đã được thực hiện thành công thì công
ty chứng khoán tiến hành gửi đến khách hàng giấy xác nhận kết quả giao dịch
về loại chứng khoán, số lượng chứng khoán và giá chứng khoán mà khách
hàng đã thực hiện mua bán theo yêu cầu.
1.2.2.2. Hoạt động tự doanh chứng khoán
* Khái niệm
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tiến hành các giao dịch mua bán
các loại chứng khoán cho chính mình.
Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán có thể được thực hiện trên
các thị trường giao dịch tập trung (trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao
dịch chứng khoán), hoặc trên thị trường OTC,…Trên thị trường giao dịch tập
trung, lệnh giao dịch của các công ty chứng khoán được đưa vào hệ thống và
thực hiên tương tự như lệnh giao dịch của các khách hàng. Trên thị trường
OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa công ty với các
đối tác hoặc thông qua một hệ thống mạng thông tin. Tại một số nước, hoạt
động tự doanh của các công ty chứng khoán còn được thực hiện thông qua
hoạt động tạo lập thị trường (ví dụ như ở Mỹ). Trong hoạt động này, công ty
11
chứng khoán đóng vai nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng nhất định
của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán với các khách hàng nhằm
hưởng phí giao dịch và chênh lệch giá.
* Mục đích của hoạt động tự doanh
Mục đích của hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán nhằm thu
lợi cho chính mình. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của
thị trường, pháp luật các nước đều yêu cầu các công ty chứng khoán khi thực
hiện nghiệp vụ tự doanh phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định về vốn và con
người. Để thực hiện hoạt động tự doanh, các công ty chứng khoán phải cố đủ

nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp rất cần thiết để làm tín hiệu hướng dẫ cho toàn
bộ thị trường. Bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các công
ty chứng khoán với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể
thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu,
bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường.
Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán còn phải tuân thủ một số quy định
khác như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư… Mục đích của các quy định
này là nhằm đảm bảo một độ an toàn nhất định cho các công ty chứng khoán
trong quá trình hoạt động, tránh những sự đổ vỡ gây thiệt hại chung cho cả thị
trường.
* Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động tự doanh
Giai đoạn 1: Xây dựng chiến lược đầu tư
Trong giai đoạn này, công ty chứng khoán phải xác định được chiến lược
trong hoạt động tự doanh của mình. Đó có thể là chiến lược đầu tư chủ động,
thụ động hoặc đầu tư vào một số ngành nghề, lĩnh vực cụ thể nào đó.
Giai đoạn 2: Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư
Sauk hi xây dựng được chiến lược đầu tư của công ty, bộ phận tự doanh
sẽ triển khai tìm kiếm các nguồn hàng hóa, cơ hội đầu tư trên thị trường theo
13
mục tiêu đã định.
Giai đoạn 3: Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư
Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có thể kết hợp với bộ phận phân
tích trong công ty tiến hành thẩm định, đánh giá chất lượng của các khoản đầu
tư. Kết quả của giai đoạn này sẽ là những kết luận cụ thể về việc công ty có
nên đầu tư hay không đầu tư và với số lượng, giá cả bao nhieue là hợp lý.
Giai đoạn 4: Thực hiện đầu tư
Sau khi đã đánh giá, phân tích các cơ hội đầu tư, bộ phận tự doanh sẽ
triển khai thực hiện các hoạt động giao dịch mua, bán chứng khoán. Cơ chế
giao dịch sẽ tuân theo các quy định của pháp luật và các chuẩn mực chung
trong ngành.

phí hoặc hoa hồng phải cao hơn lần phân phối sơ cấp. Đối với trái phiếu, phí
bảo lãnh hoặc hoa hồng phụ thuộc vào lãi suất trái phiếu (lãi suất trái phiếu
thấp thì phí bảo lãnh phát hành phải cao và ngược lại)
* Các phương thức bảo lãnh phát hành
Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các
phương thức sau:
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có
phân phối được hết chứng khoán hay không. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp
theo "cam kết chắc chắn", một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ
hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá
chào bán ra công chúng (POP)[1] và bán lại các chứng khoán đó ra công
chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức
bảo lãnh và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được
áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở
15
các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi
cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán cổ phiếu bổ
sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ
nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do
vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những
quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân
phối ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là
việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được
phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng. Tại các nước
đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn
thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh
thông dụng nhất.
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ

quỹ hưu trí.
- Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan
hệ với tổ chức phát hành.
- Bán rộng rãi ra công chúng.
Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền
bán chứng khoán cho tổ chức phát hành. Số tiền phải thanh toán là giá trị
chứng khoán phát hành trừ đi phí bảo hành.
1.2.2.4. Hoạt động tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
* Khái niệm
Tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt động dịch vụ các công ty chứng
khoán cung cấp cho khách hàng các thông tin đã được thu thập và phân tích
về các loại chứng khoán, về tình hình thị trường và xu hướng biến động của
thị trường chứng khoán giúp cho khách hàng quyết định thời điểm mua, bán
17
chứng khoán, loại chứng khoán mua bán và thời gian nắm giữ chứng khoán.
* Phân loại hoạt động tư vấn
- Theo hình thức hoạt động tư vấn
+ Tư vấn trực tiếp: Tức là khách hàng có thể gặp gỡ trực tiếp với nhà tư vấn
hoặc sử dụng các phương tiện truyền thông như điện thoại, fax… để hỏi ý kiến.
+ Tư vấn gián tiếp: Là cách người tư vấn xuất bản các ấn phẩm hay đưa
thông tin lên những phương tiện truyền thông như internet để bất kỳ khách
hàng nào cũng có thể tiếp cận được nếu muốn.
- Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn:
+ Tư vấn gợi ý: Ở mức độ này, người tư vấn chỉ có quyền nêu ý kiến của
mình về những diễn biến trên thị trường, gợi ý cho khách hàng về những
phương pháp, cách thức xử lý những quyền quyết định của khách hàng.
+ Tư vấn ủy quyền: Với nghiệp vụ này, nhà tư vấn và quyết định hộ
khách hàng theo mức độ ủy quyền của khách hàng.
- Theo đối tượng của hoạt động tư vấn
+ Tư vấn cho người phát hành: Hoạt động tư vấn cho người phát hành

- Lưu ký chứng khoán: là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán và các
chứng từ có giá của khách hàng, đồng thời thực hiện các quyền của khách
hàng đối với chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng
khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hình thức
giao dịch ghi sổ, khách hang phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại các
công ty chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ) hoặc
ký gửi các chứng khoán (nếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất).
Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khóan cho khách hang, công ty chứng
khoán sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và
phí chuyển nhượng chứng khoán.
Cung cấp dịch vụ lưu ký cho nhà đầu tư nhằm mục đích:
19
+ Tiết kiệm thời gian và giảm thiểu chi phí của nhà đầu tư;
+ Tránh được các rủi ro, hư hỏng, mất mát, giả mạo... khi nhà đầu tư tự
cất giữ chứng khoán tại nhà;
+ Được đảm bảo các quyền lợi của người sở hữu chứng khoán (quyền bỏ
phiếu, mua cổ phiếu, quyền cổ phiếu thưởng và cổ tức, chuyển đổi trái phiếu,
tách gộp cổ phiếu.... ).
- Hoạt động tín dụng: Là hoạt động mà công ty chứng khoán giúp
khách hàng của mình gia tăng khoản vốn đầu tư thông qua hình
thức cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay ứng trước tiền bán
chứng khoán…hay còn gọi là cho vay ký quỹ. Cho vay ký quỹ là
hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho khách hàng
của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó
làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ
một phần, số còn lại sẽ do công ty chứng khoán ứng trước tiền
thanh toán. Đến kỳ hạn thỏa thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số
chênh lệch cùng với lãi cho công ty chứng khoán. Trường hợp
khách hàng không trả được nợ, thì công ty có quyền sở hữu số
chứng khoán đã mua để thu hồi nợ.

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nó là khoản chênh lệch bằng tiền giữa doanh thu và chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để đạt được khoản thu đó.
Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
một doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị
trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không, điều quyết định là
doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không. Vì thế, lợi nhuận được coi là
đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng
hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
21
Lợi nhuận sau thế là chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu
nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế là phần mà công ty nhận được sau khi
trừ đi các khoản chi phí và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được
hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo được lợi nhuận hay
không. Lợi nhuận sau thuế phản ánh được tình hình hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty và sự phát triển của hoạt động kinh doanh của công ty.
1.3.2.2. Những chỉ tiêu đánh giá từng hoạt động kinh doanh
* Chỉ tiêu đánh giá hoạt động môi giới
Đánh giá sự phát triển của hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
được thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau, tùy thuộc vào từng đối tượng và đóc
độ đánh giá khác nhau mà có những tiêu chí khác nhau. Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài tác giả xin đề cập đến một số chỉ tiêu đánh giá sự phát
triển của hoạt động môi giới đứn trên góc độ của công ty chứng khoán. Bao
gồm các chỉ tiêu sau đây:
- Số lượng tài khoản được mở và tỷ trọng của nó chiếm trong toàn bộ số
lượng tài khoản được mở của thị trường. Số lượng tài khoản được mở tại các
công ty chứng khoán phản ánh mức độ thành công của nhân viên môi giớ

hoạt động tư vấn được thông qua các chỉ tiêu:
- Số lượng các doanh nghiệp mà công ty tư vấn tài chính để đánh giá
được tình hình hoạt động tư vấn của doanh nghiệp.
- Doanh thu và lợi nhuận của hoạt động tư vấn để đánh giá được mức độ
hiệu quả cũng như kết quả từ hoạt động tư vấn của công ty đem lại.
* Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hoạt động tự doanh
Để đánh giá sự phát triển hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
thì chỉ tiêu quan trọng nhất là doanh thu cũng như lợi nhuận từ hoạt động tự
doanh mang lại cho công ty. Bên cạnh đó thì công ty chứng khoán cũng cần
23
quan tâm đến việc góp phần điều tiết và ổn định thị trường.
* Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hoạt động bảo lãnh phát hành
- Số lượng các doanh nghiệp công ty thực hiện bảo lãnh phát hành: số
lượng doanh nghiệp hay số lượng khách hàng đánh giá được sự phát triển của
của hoạt động bảo lãnh của công ty về quy mô và giúp công ty chiếm được thị
phần trong hoạt động bảo lãnh phát hành.
- Giá trị bảo lãnh là giá trị của các hợp đồng bảo lãnh là số tiền mà các tổ
chức phát hành dự kiến sẽ huy động thông qua hình thức phát hành.
- Doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động bảo lãnh: Việc bảo lãnh sẽ đem lại
cho công ty một khoản tiền phí dịch vụ và tạo nên nguồn thu, lợi nhuận cho
công ty.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.4.1. Nhân tố khách quan
1.4.1.1. Ảnh hưởng của sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân tạo điều kiện thuận lợi
cho thị trường chứng khoán phát triển và tạo môi trường tốt cho các công ty
chứng khoán hoạt động. Khi nền kinh tế phát triển không ổn định, tốc độ lạm
phát cao sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường chứng khoán nói
chung và ảnh hưởng đến sự phát triển của các công ty chứng khoán nói riêng.

1.4.1.2. Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Các hoạt động của công ty chứng khoán phát triển luôn gắn liền với sự
phát triển của thị trường chứng khoán. Với một thị trường chứng khoán chưa
phát triển, số lượng hàng hóa ít, tính thanh khoản của hàng hóa không cao thì
chưa thể hiện được vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán là tích tụ,
25

Trích đoạn Phân tích chung Hoạt động môi giới chứng khoán Hoạt động tự doanh Hoạt động bảo lãnh phát hành ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status