Quản lý cơ cấu hạ tầng tại các khu đô thị mới. Lấy ví dụ điển hình về khu đô thị mới Trung Yên - Pdf 12

Lời mở đầu
Thực hiện quy hoạch phát triển Thủ đô Hà Nội từ năm 1996 đến năm
2000 – 2010, trong những năm qua Nhà nước và Thành phố Hà Nội đã
quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội , hàng loạt các khu
dân cư mới đã xuất hiện. Nhiều trục đường chính của Thành phố đã được
cải tạo mở rộng như trục đường 1A, đường 6, Đại Cồ Việt… nhiều khu nhà
ở mới được hình thành như Thành Công, Kim Liên, Trung Tự, Thanh
Xuân, Giảng Võ đáp ứng một phần nhu cầu về nhà ở cho nhân dân Thủ đô.
Tuy nhiên, song song với việc đời sống kinh tế của mọi tầng lớp dân
cư được cải thiện, là nhu cầu cải thiện điều kiện ở của nhân dân thủ đô ngày
một cao, dân số của Thành phố Hà Nội tăng nhanh từ việc tăng dân số tự
nhiên cũng như do một số lớn dân cư từ các khu vực nông thôn lân cận về
Hà Nội sinh sống và tìm kiếm việc làm. Điều đó dẫn đến nhu cầu về nhà ở
tăng cao trong những năm vừa qua, đặc biệt trong 4 quận nội thành. Diện
tích đất xây dựng nhà ở trong nội thành còn lại rất ít, việc cải thiện điều
kiện ở tại chỗ (trong nội thành) không thể đáp ứng được dẫn đến việc phát
triển ồ ạt, phá vỡ quy hoạch đô thị , cơ sở hạ tầng kỹ thuật không đáp ứng
nổi nhu cầu… đã xảy ra trong một vài năm vừa qua tại Hà Nội . Để việc
xây dựng nhà ở tại Thủ đô được thực hiện một các có trật tự, đúng quy
hoạch , đảm bảo các khu dân cư mới có đủ cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật như giao
thông, cấp điện, cấp nước, hạ tầng xã hội như trường học, thương mại, vui
chơi giải trí, góp phần cải thiện một cách cơ bản điều kiện sống của nhân
dân Thủ đô, Thành phố Hà Nội đã có chủ trương nghiên cứu quy hoạch
phát triển các khu Đô thị mới như Khu xây dựng tập trung Định Công, Linh
Đàm, khu phố mới Trung Yên… theo phương châm “ lấy phát triển để cải
tạo ”.
1
Khu đô thị mới Trung Yên cũng là một định hướng của thành phố với
mục đích để giải quyết nhu cầu của người dân đô thị hiện nay. Chuyên đề
này được viết dựa trên cơ sở các số liệu về khu đô thị mới Trung Yên kết
hợp với kiến thức lý luận và các loại tài liệu tham khảo.

công trình giao thông vận tải, bưu điện thông tin liên lạc, dịch vụ xã
hội như: đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay,
nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống
mạng điện, đường ống dẫn xăng, dầu, khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao
3
thông vận tải, giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn
uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giải trí, rác thải môi
trường đô thị v.v…
Kết cấu hạ tầng được thể hiện trên 4 bình diện: 1/ Tiện ích công
cộng (public utilities): năng lượng (điện…) viễn thông, nước sạch
cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống, hệ thống
thu gom và xử lý chất thải trong thành phố. 2/ Công chánh (public
works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới
tiêu… 3/ Giao thông (transport): các trục và tuyến dường bộ, đường
sắt chính quy (conventionial railway) đường sắt vận chuyển nhanh
(mass rapid trasit railway) cảng cho tầu và máy bay, đường thủy… 4/
Hạ tầng xã hội (social infrastructure): trường học, bệnh viện… Đó
cũng là phạm vi xác định của khái niệm. Tương tự như vậy, thuật ngữ
“quản lý và phát triển kết cấu hạ tầng” cũng được hiểu là quản lý và
phát triển theo 4 bình diện đã nói ở trên.
Thực tế, kết cấu hạ tầng là cơ sở nền tảng đảm bảo cho sự phát
triển bền vững của một quốc gia cho nên người ta thường sử dụng
thuật ngữ “cơ sở hạ tầng đô thị” với nội dung đồng nhất khi dùng
thuật ngữ “kết cấu hạ tầng đô thị” hoặc thuật ngữ “hạ tầng đô thị”.
Tuy nhiên, ở đây cần chú ý phân biệt khái niệm thuật ngữ “cơ sở
hạ tầng” của quản lý đô thị với “cơ sở hạ tầng” dùng trong nghiên
cứu kinh tế chính trị học Mác-Lênin.
Khái niệm thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” trong nghiên cứu kinh tế
chính trị học của Mác-Lênin hay còn gọi là “cơ sở kinh tế có ý nghĩa
tập hợp các quan hệ sản xuất, tạo thành cơ cấu kinh tế của một xã

Để thấy rõ được chức năng của từng loại kết cấu hạ tầng, chúng ta sẽ
xem xét theo cách phân loại thứ nhất đã nói ở trên: Kết cấu hạ tầng
kỹ thuật; Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị; Kết cấu hạ tầng dịch
vụ xã hội đô thị.
- Công trình hạ tầng kỹ thuật là các cơ sở hạ tầng dành cho dịch vụ
công cộng như giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, rác thải,…
Các công trình này thường do các tập đoàn của Chính phủ hoặc tư
nhân, thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu công. Ví dụ về các công
trình hạ tầng kỹ thuật:
 Hệ thống điện
 Hệ thống lọc và phân phối nước ăn
 Hệ thống xử lý nước thải
 Hệ thống xử lý rác thải
 Hệ thống phân phối khí đốt
 Giao thông công cộng và hệ thống giao thông nội bộ
 Các hệ thống truyền thông, chẳng hạn truyền hình cáp
và điện thoại
 Hệ thống đường xá, bao gồm cả đường thu phí
Các công trình hạ tầng kỹ thuật cung cấp và bảo đảm năng lượng cho
thành phố; cung cấp nước sạch để phục vụ dân cư sinh hoạt; xử lý
các vấn đề về môi trường như rác thải, khí đốt và nước thải sinh hoạt;
xây dựng hệ thống giao thông nội bộ phục vụ nhu cầu đi lại, các khu
vực đỗ xe và gửi xe; là đầu mối thông tin giữa khu đô thị với bên
ngoài.
6
- Công trình hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị là các công trình được xây
dựng phục vụ các hoạt động kinh tế và đời sống xã hội nhằm mục
đích tạo động lực cho kinh tế - xã hội ổn định và phát triển. Các công
trình này được phân chia thành hai loại là công trình dành cho hạ
tầng kinh tế và công trình dành cho hạ tầng xã hội.

và sự nghiệp trong khu vực
 Hệ thống y tế: Các công ty hoặc các đơn vị cung cấp các
sản phẩm trong ngành dược, y tế; Các phòng khám tư
nhân; Hệ thống bệnh viện và trung tâm chăm sóc sức
khoẻ và các trung tâm thẩm mỹ
 Hệ thống ngân hàng: Cung cấp các dịch vụ gửi và cho
vay tiền tạo ra sự thuận tiện và an toàn, nâng cao tính
hiệu quả và tiết kiệm cho bên tham gia sử dụng dịch vụ
này
 Hệ thống bảo hiểm: Đưa ra các dịch vụ về bảo vệ cho tài
sản và tính mạng của con người, có ý nghĩa rất tích cực
 Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ
 Một số nhà thi đấu và luyện tập chính
 Sân vận động, bể bơi, các câu lạc bộ và nhà văn hoá, rạp
chiếu bóng, sân tennis,…
8
 Điểm vui chơi giải trí – du lịch: Công viên cây xanh,
công viên nước
 An ninh đô thị
 Công tác phòng cháy chữa cháy
 Trung tâm điều hành các công trình hạ tầng dịch vụ
3. Sự tác động của yếu tố kết cấu hạ tầng tới các vấn đề kinh tế - xã hội
và tầm quan trọng của việc quản lý kết cấu hạ tầng
3.1.Sự tác động của yếu tố kết cấu hạ tầng tới các vấn đề kinh tế - xã hội
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đang quá tải và đang là trở lực đối với
phát triển kinh tế và quy mô dân số. Nếu vấn đề này không tập trung
giải quyết tốt và phát triển phù hợp với quy mô và cơ cấu kinh tế thì
không thể đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững và hiệu quả
được. Thành phố không thể giải quyết bài toán phát triển một cách
riêng lẻ, đặc biệt là đối với các vấn đề như quy hoạch các khu công

Sự phát triển các ngành của kết cấu hạ tầng đô thị có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và
việc nâng cao hiệu quả của nó.
Có hai cách mà kết cấu hạ tầng đóng góp vào phát triển công nghệ
ở hầu hết tất cả các ngành kinh tế. Một là, kết cấu hạ tầng phục vụ vai
trò là nền tảng cho phát triển công nghệ và việc xây dựng nó trên
thực tế là sự đầu tư cho công nghệ và tổ chức. Hai là, quá trình phát
10
triển kết cấu hạ tầng tạo cơ hội để học tập nâng cao trình độ công
nghệ. Việc sáng tạo và phổ biến công nghệ có được thực hiện hay
không là dựa trên cơ sở sự có sẵn của kết cấu hạ tầng. Nếu không có
đủ kết cấu hạ tầng thì không thể có những ứng dụng tiếp theo để phát
triển công nghệ. Ví dụ, điện năng, mạng giao thông và kết cấu hạ
tầng truyền thông là những nhân tố cơ bản phục vụ cho nỗ lực hoàn
thiện các năng lực khoa học và công nghệ (KH&CN). Sự tiến bộ của
công nghệ thông tin và sự phổ biến nhanh chóng của nó trong những
năm gần đây có thể đã không diễn ra nếu thiếu kết cấu hạ tầng viễn
thông cơ bản, chẳng hạn như điện thoại, hệ thống cáp nối và mạng vệ
tinh. Các hệ thống thông tin điện tử dựa vào kết cấu hạ tầng viễn
thông chiếm tỷ lệ đáng kể trong sản xuất và phân phối ở các ngành
kinh tế. Nhiều doanh nghiệp công nghệ cao, chẳng hạn như ở ngành
công nghiệp bán dẫn, đòi hỏi phải có nguồn cung cấp điện tin cậy và
mạng lưới logistic (hậu cần) hiệu quả. Các mạng giao thông và
logistic hiệu quả cũng cho phép các doanh nghiệp chế tạo và dịch vụ
áp dụng những quy trình quản lý hiện đại và đổi mới tổ chức, chẳng
hạn như phương pháp JIT (Just-in-Time, tức là nền sản xuất được
cung ứng vào đúng những thời điểm cần thiết, không cần kho chứa)
để quản lý chuỗi cung ứng. Hệ thống đổi mới nhấn mạnh mối liên kết
giữa các doanh nghiệp, tổ chức giáo dục và Viện nghiên cứu và
Chính phủ. Điều này không thể thực hiện được nếu thiếu kết cấu hạ

4.1. Nguyên tắc thực hiện quản lý
12
- Phân cấp để quản lý
Kết cấu hạ tầng đô thị thực chất là một loại hàng hoá công cộng
có tầm quan trọng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc trưng của loại
hình này là khó thu được tiền hoặc lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn
dài nên rủi ro lớn (như tiền mặt mất giá, chính sách thay đổi, thiên
tai, địch hoạ, công nghệ lạc hậu…) và thường do Nhà nước đảm
nhận.
Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và điều chỉnh để đảm bảo cung
cấp các dịch vụ kết cấu hạ tầng, đảm bảo nhu cầu cuộc sống của nhân
dân, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và làm dịch vụ của các
doanh nghiệp, đảm bảo cho dịch vụ đó có được một cách kịp thời, đủ
số lượng và chất lượng cần thiết với giá cả thích hợp. Đây là vai trò
của Nhà nước tác động trực tiếp vào khâu quản lý để điều tiết nền
kinh tế trong sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên, Chính phủ cũng có khả năng hạn chế trong quản lý và
nguồn tài chính phát triển kết cấu hạ tầng đô thị. Do đó Chính phủ
cũng tạo điều kiện và mở rộng chức trách cho khu vực kinh tế tư
nhân và cộng đồng tham gia thực hiện các quyền dân chủ quản lý,
thực hiện nghĩa vụ đóng góp và thu hút mọi nguồn vốn, tăng thêm
hiệu quả quản lý và phát triển kết cấu hạ tầng đô thị của quốc gia.
Phân cấp quản lý là sự phân định và xếp hạng các đô thị theo quy mô,
vị trí hay tầm quan trọng của từng đô thị trong phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, của vùng hay địa phương để từ đó xác định các
chính sách quản lý, đầu tư thích hợp. Ở nước ta, trên cơ sở phân loại,
đô thị được phân cấp quản lý hành chính Nhà nước như sau:
 Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý.
 Đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do Tỉnh quản lý.
13

vụ xã hội liên quan đến điện nước sinh hoạt, xử lý rác thải… tốt và có
chất lượng cao. Tất cả những điều đó đòi hỏi sự quản lý và phát triển
kết cấu hạ tầng đô thị phải theo kịp với tốc độ phát triển đô thị, tốc độ
tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với phát triển
hạ tầng và hạ tầng là tác nhân chính của sự tắc nghẽn phát triển kinh
tế - xã hội. Và giải quyết vấn đề đô thị hoá hàm nghĩa giải quyết kết
cấu hạ tầng đô thị.
Kết cấu hạ tầng đô thị không chỉ phụ thuộc vào trình độ quy mô
phát triển sản xuất, dịch vụ, mật độ dân cư, mà còn phụ thuộc vào các
phương tiện đi lại, các thiết bị sinh hoạt của dân cư. Đây là nguyên
tắc hệ thống để làm sao các đặ trưng và mục tiêu của hệ thống kết
cấu hạ tầng đô thị được thực hiện một cách tốt đẹp.
4.2. Nội dung công tác quản lý kết cấu hạ tầng đô thị
• Các công trình giao thông đô thị:
Chủ yếu bao gồm mạng lưới đường phố, cầu, hầm, quảng trường,
bến bãi, sông ngòi và các công trình kỹ thuật đàu mối giao thông: Sân
bay, nhà ga, bến xe, cảng. Hệ thống đường giao thông được phân loại
theo chất lượng mặt đường: Bê tông, nhựa, đá, cấp phối, đất… đồng
thời được tổng hợp theo địa bàn phường, quận.
Đường đô thị được sử dụng và khai thác vào các mục đích sau
đây:
+ Lòng đường dành cho xe cơ giới và xe thô sơ
+ Vỉa hè dành cho người đi bộ và để bố trí các công trình cơ sở
hạ tầng kỹ thuật như: chiếu sáng, cung cấp năng lượng, cấp thoát
15
nước, thông tin liên lạc, vệ sinh đô thị, các trạm đỗ xe, các thiết bị an
toàn giao thông; để trồng cây xanh công cộng, cây bóng mát hoặc cây
xanh cách ly; để sử dụng tạm thời trong các trường hợp khi được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép như: Quầy sách báo, buồng
điện thoại công cộng; các dịch vụ công cộng; tập kết, trung chuyển

nhiệm vụ riêng.
Cấp 1 là hệ thống kênh, rạch, sông hồ giữ vai trò tiếp nhận, điều
tiết, trao đổi, là trục chính tiêu nước thải của đô thị.
Cấp 2 là các cống trục chính, tiếp nhận nước mặt từ các khu vực
dân cư trực tiếp đổ vào tuyến cấp 1.
Cấp 3 là các cống thoát nước từ các khu vực có vai trò tiếp nhận
nước mặt của khu vực sản xuất, dịch vụ, dân cư và trực tiếp đổ vào
tuyến cấp 2.
Cấp 4 là các cống thoát nước từ các khu vực tiểu khu, trực tiếp
nhận nước mặt từ các cơ sở kinh tế, các hộ gia đình và đổ trực tiếp
vào cống cấp 3.
Các công trình thoát nước bao gồm cống rãnh, cửa xả, kênh
mương, ao, hồ, sông, đê, đập, trạm bơm và trạm xử lý nước thải. Việc
quản lý và khai thác và sử dụng các công trình thoát nước sẽ được Ủy
ban nhân dân thành phố giao cho chính quyền đô thị hoặc các cơ
quan trực tiếp quản lý thoát nước tại khu đô thị mới Trung Yên thực
hiện. Khi đầu nối các công trình thoát nước cục bộ của đô thị nối vào
hệ thống thoát nước chung của thành phố phải được sự đồng ý của cơ
quan quản lý cấp trên. Đồng thời, nước xả vào mạng lưới thoát nước
chung của thành phố phải đảm bảo các yêu cầu vệ sinh môi trường.
17
• Các công trình cung cấp điện chiếu sáng cho đô thị :
Khái niệm “Công trình chiếu sáng đô thị” trong khoản 5, Điều 4
của Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ
được hiểu là các hạng mục chiếu sáng cho các công trình như: Điểm
đỗ giao thông công cộng ngoài trời, đường, cầu, đường và hầm dành
cho người đi bộ; bên ngoài các khu trường học,bệnh viện, trung tâm
thương mại, hội chợ triển lãm và các trụ sở; công viên, vườn hoa; các
công trình kiến trúc - tượng đài - đài phun nước; các công trình thể
dục thể thao ngoài trời.

sở hữu, do tổ chức, cá nhân quản lý hoặc được giao
quản lý.
 Việc trồng cây xanh đô thị phải thực hiện theo quy
hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch chuyên ngành
cây xanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
 Việc lựa chọn chủng loại và trồng cây xanh phải
mang bản sắc địa phương, phù hợp với điều kiện khí
hậu và thổ nhưỡng, đồng thời đảm bảo đáp ứng các
yêu cầu về sử dụng, mỹ quan, an toàn giao thông và
vệ sinh môi trường đô thị; hạn chế làm hư hỏng các
công trình cơ sở hạ tầng trên mặt đất, dưới mặt đất
cũng như trên không.
 Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý, bảo vệ,
chăm sóc cây xanh trước mặt nhà, trong khuôn viên;
đồng thời thông báo kịp thời cho các cơ quan chức
19
năng quản lý để giải quyết khi phát hiện cây nguy
hiểm và các hành vi gây ảnh hưởng đến sự phát triển
của cây xanh đô thị.
• Rác thải và hệ thống thu gom, xử lý rác thải trong đô thị:
Rác thải và đô thị là hai vấn đề luôn tồn tại song hành với nhau.
Việc xử lý tốt chất thải có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ và
tạo cảnh quan môi trường cũng như điều kiện sinh hoạt và làm việc
cho người dân trong đô thị. Nếu một ngày các bộ phận thu gom rác
thải không làm việc thì sẽ có hàng ngàn tấn rác thải mặc sức bốc lên
mùi hôi thối, gây ô nhiểm môi trường. Việc thu gom và xử lý rác thải
là nhiệm vụ không thể thiếu của cơ quan quản lý đô thị.
Rác thải là vấn đề tất yếu cần phải giải quyết của bất kỳ đô thị
nào. Với sự phát triển không ngừng của các ngành kinh tế và đời
sống người dân, số lượng và chủng loại rác thải đang tăng lên nhanh

cấp, khu đất nằm vào 3 vùng địa chất với 3 phân vùng, như sau:
 Vùng I.2 phân vùng I-2b và vùng I.3 phân vùng I-3a
được đánh giá là thuận lợi cho xây dựng cao tầng, có thể
xây dựng nhà và các công trình kiên cố không hạn chế
tầng cao, công trình có tải trọng bình thường, cao dưới 5
tầng có thể sử dụng móng băng, công trình có tải trọng
lớn, chiều cao lớn hơn 5 tầng có thể dung móng cọc bê
tông cốt thép.
 Vùng II.2 là vùng có điều kiện địa chất thuận lợi có mức
độ cho xây dựng, các công trình có tải trọng nhỏ, chiều
cao 3 – 4 tầng có thể dùng móng băng.
Điều kiện địa chất thuỷ văn, nước ngầm xuất hiện ở độ sâu 1,5m
đến 3m (vùng II.2) và 3 – 5m (vùng I.2).
Về điều kiện tự nhiên của vùng:
 Nhiệt độ trung bình là 23,5
o
C
 Mưa: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (nhiều nhất từ
tháng 7 đến tháng 9), lượng mưa trung bình hàng năm là
1670 mm/năm
 Gió: mùa hè gió đông nam là chủ đạo, mùa đông gió
đông bắc là chủ đạo
 Độ ẩm: cao nhất vào tháng 1 (98%)
 Nắng: số giờ nắng trung bình là 1640 giờ/năm
 Bão: xuất hiện nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8, cấp
gió từ 8 – 10, có khi lên đến cấp 12
22
1.2. Quy hoạch và cơ cấu sử dụng đất
- Nhà ở
Trong tổng diện tích của toàn bộ dự án, Ban quản lý dự án phải dành

thông nội thị, vỉa hè, đường tiểu khu, bãi đỗ xe và xử lý kỹ thuật
nhằm phục vụ nhu cầu đi lại và các hoạt động của đô thị.
- Công trình công cộng thành phố, cơ quan
Các cơ quan của chính quyền thành phố, cơ quan của các đơn vị thực
hiện dự án được xây dựng với tỉ lệ diện tích 5,94% trên toàn bộ diện
tích đất chạy dọc theo sông Tô Lịch (Diện tích là 2,2 ha). Các công
trình công cộng chiếm 2,86% diện tích đất xây dựng của dự án. Tổng
diện tích để xây dựng các công trình công cộng thành phố cơ quan là
7,8%.
BẢNG TỔNG HỢP TỈ LỆ SỬ DỤNG ĐẤT
Loại đất Tỉ lệ sử dụng đất
Nhà ở 47.13%
Công trình hạ tầng xã hội 8.93%
Công trình công cộng thành phố, cơ quan 7.8%
Giao thông 31.39%
Khu vui chơi, công viên cây xanh 3.75%
Diện tích khác 1%
Tổng 100%
(Nguồn: Dự án khả thi “Khu phố mới Trung Yên, Từ Liêm, Hà Nội” – Công
ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - Sở Xây Dựng Hà Nội)
24
( Biểu đồ tỉ lệ sử dụng đất)
1.3. Mục tiêu của công tác quản lý kết cấu hạ tầng khu đô thị mới Trung
Yên
- Đảm bảo tính thống nhất của không gian đô thị.
- Tạo ra sự thuận tiện cho người dân sống trong khu vực đô thị về làm
việc, dịch vụ, giải trí,…
- Tối đa hóa sự an toàn về tài sản vật chất và tinh thần cho con người,
trước nhất là giữ gìn an toàn các công trình hạ tầng xã hội, hạ tầng
công cộng, sau là đến các hộ dân cư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status