Công trình về cơ sở hạ tầng tại các vùng kinh tế nghèo và công tác đầu tư pot - Pdf 20

Lời nói đầu
Đầu tư phát triển là một hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội.Nó là động lực của tăng trưởng kinh tế,phát triển kinh tế
xã hội và tạo ra các tác động có lợi cho chính trị xã hội.Một nền kinh tế sẽ không
thể tồn tại và phát triển nếu thiếu hoạt động đầu tư.Trong quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường thì nguồn vốn đầu tư lại có vai trò
quan trọng hơn bao giờ hết.Tuy nhiên trong quá trình đó thì sự cách biệt phát
triển,phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, miền ngày càng lớn.Để làm giảm bớt hố
sâu ngăn cách đó nhà nước đã có những chính sách,cơ chế nhằm tạo ra sự phát
triển kinh tế cân đối hơn giữa các vùng.Nguồn vốn đầu tư công trình hạ tầng ra đời
nằm trong chiến lược đó.
Nguồn vốn đầu tư công trình hạ tầng nói chung và nguồn vốn đầu tư xây dựng
công trình hạ tầng của các xã đặc biệt khó khăn ,các xã vùng sâu vùng xa vùng
dân tộc thiểu số là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược xoá đói
giảm nghèo của nhà nước.Đây là một nguồn vốn rất quan trọng chủ yếu là từ ngân
sách nhà nước nhằm xây dựng các công trình thiết yếu cơ bản nhằm tạo ra tiền đề
phát triển kinh tế của các xã đặc biệt khó khăn.Có thể nói nguồn vốn đầu tư thuộc
chương trình này đã đang và sẽ tạo ra những động lực to lớn cho sự phát triển kinh
tế ,sự tiến bộ trong nhận thức và sự nâng cao trình độ văn hoá ,xã hội.Quá trình
thực tập tại vụ kinh tế địa phương và lãnh thổ thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư ,nơi
tổng hợp vốn của nhà nước về kế hoạch đầu tư và trực tiếp thực hiện các chương
trình phát triển quan trọng của nhà nước đã tạo điều kiện cho em tiếp cận được nội
dung của chương trình xoá đói giảm nghèo áp dụng cho các xã đặc biệt khó khăn
,vùng sâu vùng xa vùng dân tộc thiểu số.Em thấy đây là một nội dung rất quan
trọng, nghiên cứu việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này làm em rất
tâm đắc.Chính vì thế em đã quyết định chọn đề tài”Giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư công trình hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn,miền núi vùng
dân tộc thiểu số”. Kết cấu nội dung của đề tài bao gồm:
Chương I:Khái quát chung về đâù tư,nguồn vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư công
trình hạ tầng
Chương II:Thực trạng thực hiện chương trình trong thời gian qua(1999-2004)

bán. Hai loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, mà chỉ làm tăng
tài sản tài chính của người đầu tư. Tuy nhiên, chúng đều có tác dụng thúc đẩy đầu
tư phát triển.
- Đầu tư phát triển: Là hoạt động đầu tư mà trong đó người có tiền bỏ tiền ra để
tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực
sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc
làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra
để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, mua sắm trang thiết bị, bồi
dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với
sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
Nhìn chung đề tài chủ yếu nghiên cứu về đầu tư phát triển - loại hình đầu tư
gắn trực tiếp với sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.1.2.Đầu tư phát triển và vai trò đối với nền kinh tế:
Như chúng ta đã biết, đầu tư phát triển chính là hoạt động đầu tư tài sản vật chất
và sức lao động chính vì thế nó là nhân tố quan trọng để phát triển và tăng trưởng
kinh tế. Vai trò của nó trong nền kinh tế được thể hiện ở các mặt sau :
- Thứ nhất đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tac động đến tổng cầu:
Về tổng cầu: Đầu tư là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân, thường từ 24%-28%. Khi mà tổng cung chưa thay đổi, sự tăng
lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo sản lượng cân bằng tăng theo và giá cân
bằng tăng.
Về tổng cung: Đầu tư làm tăng năng lực sản xuất làm tổng cung tăng và sản
lượng tăng, giá giảm xuống, cho phép tiêu dùng tăng. Tăng tiêu dùng lại tiếp tục
kích thích sản xuất phát triển và nó là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển
kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi
thành viên trong xã hội.
- Thứ hai đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế :
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư tới tổng cung và tổng
cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sư thay đổi của đầu tư dù tăng hay giảm đều

của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các
công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng,
lẫnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới và mở
cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp
của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm
bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đàu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu
quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang
phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành phần chủ
đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng
vốn khá lớn. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng
thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp
Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với
chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu
vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà
nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của
toàn xã hội.
* Nguồn vốn từ khu vực tư nhân.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ
của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo đánh giá sơ bộ, khu vực
kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà cuă được
huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư
có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ tryuền thống.
Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới
dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn

trong nguồn ODF;
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại;
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.
* Nguồn vốn ODA.
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài
cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. So với các hình thức tài
trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác. Ngoài
các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn, bao giờ trong
ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%.
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường di kèm các
điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển
giao vốn và thị trường…). Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt
thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không
việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế.
Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn
cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những
mục tiêu có tính nguyên tắc.
* Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.
Điều kiện ưu đẫi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn
ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng buộc
về chính trị, xa hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là
tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở
ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong kinh
doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị trường thế giới và xu hướng lãi
suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường được sử
dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận
của nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của nó có thể
gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng

không bao giờ tăng lên”.
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các
khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề trực tiếp liên quan đến tích luỹ, C.
Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế hai khu vực, khu vực I sản xuất
tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị của
từng khu vực đều bao gồm (c + v + m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v +
m) là phần giá trị mới tạo ra. Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng
không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v + m) của khu vực I lớn hơn
tiêu hao vật chất (c) của khu vực II. Tức là:
(v + m)I > cII
Hay nói cách khác:
(c + v + m)I > cII + cI
Điều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi
hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả hai khu vực) mà còn phải dư
thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo.
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)2
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm
sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn, nền kinh tế mới
có thể dành một phần để tái sản xuất mở rộng. Từ đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ
gia tăng.
Như vậy để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô đầu tư, một
mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng
tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác phải tăng cường sản xuất tư
liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tư liệu tiêu dùng ở cả hai khu vực.
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác, con đường
cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và
thực hành tiết kiệm cả ở trong sản xuất và tiêu dùng. Hay nói cách khác, nguồn lực
cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và
tích luỹ của nền kinh tế.

và các hộ gia đình - người có vốn dư thừa.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải
bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu
đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang cho nước khác để thực
hiện đầu tư. Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu tư,
khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường hợp này,
mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai.
CA = S – I
Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy, trong nền kinh tế mở nếu như nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội bộ nền
kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước
ngoài. Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những
nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn
nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia
đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
1.4.Đầu tư công trình hạ tầng
1.4.1.Khái niệm công trình hạ tầng
Công trình hạ tầng là các công trình được thiết kế và xây dựng tại một địa điểm
nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người như đi lại ,học hành chữa
bệnh phcj vụ sản xuất và dân sinh …
Đối với các công trình hạ tầng tthuộc các xã đặc biệt khó khăn ,vùng sâu vùng xa
và đồng bằng thiểu số …gọi chung công trình hạ tầng thuộc chương trình 135.Chủ
yếu là công trình hạ tầng có quy mô nhỏ với mức vốn đầu tư từ 1 tỷ đồng trở
xuống được thực hiện theo cơ chế đặc biệt để phù hợp với khả năng thực tế của
cán bộ và đồng bằng các dân tộc tại địa phương thuộc chương trình 135 .Đó là
những công trình hạ tầng thiết yếu phịc vụ cho sản xuất dân sinh góp phần xoá đói
giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
Vai trò của việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng
1.4.2.Đầu tư xây dựng công trình hạ tầng có những vai trò chủ yếu sau

nhân dân….
1.5.Giới thiệu tổng quát chương trình 135
1.5.1.Sự cân thiết ra đời chương trình 135
Thực hiện công tác đổi mới dô Đảng cộng sản Việt Nam đè xướng và lãnh đạo
,với mục tiêu “Dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng dân chủ văn minh “,hơn 10
năm (1986_1998)chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm đổi
mới công tác quản lý nền kinh tế ,giải phóng lực lượng sản xuất ,khơi dậy và phát
huy tiềm tàng của các thành phần kinh tế ,của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội
nên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn .Kinh tế tăng trưởng khá ,đời sống nhân
dân được nâng cao ,công tác quốc phòng an ninh ,chính trị và trật tự an toàn xã hội
được đảm bảo .Tuy nhiên quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ
chế thị trường đ• tạo ra sự phân hoá giàu nghèo càng gay gắt giữa các vùng các
miền ,khu vực giữa các tầng lớp dân cư trong x• hội .Để khắc phục tình trạng này
,Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiên chiến lược phát triển ,tăng trưởng đi
đôi với xóa đói giảm nghèo ,thực hiện công bằng x• hội ;ưu tiên phát triển các
vùng động lực ,các ngành kinh tế chủ chốt ,tạo nguồn thu cho ngân sách ,có tích
luỷ để có điều kiện vật chất hỗ trợ chô vùng khó khăn .Yêu cầu của quá trình đổi
mới là phải có những chính sách hợp lý ,đáp ứng được mục tiêu phát triển của cả
nước ,đồng thời thực hiện công bằng xã hội phải có những chính sách đặc thù
,phải có nguồn lực hỗ trợ cho các địa phương nghèo cùng phát triển .Để thực hiện
chương trình nàythủ tướng chính phủ đã có quyết định phê duyệt chương trình
mục tiêu chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo.Đây là một chương
triình quan trọng của đất nước.

Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ đã được xác đình trong nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ bảy và lần thứ tám,mục tiêu đề ra là đến hết năm 2000 tỷ lệ hộ
đói nghèo bình quân trong cả nước xuống còn 10% nhưng đến năm 1998 vẫn còn
17% .Nguyên nhân chủ yếu là do công tác xoá đói giảm nghèo thực hiện còn nhiều
hạn chế,nguồn vốn xoá đói giảm nghèo còn hạn hẹp,còn quá nhiều các xã đặc biệt
khó khăn vẫn còn khá nhiều,nhiều xã quá rộng có địa hình khá phức tạp ,dân cư

tăng trưởng với công bằng xã hội, từ đó hệ thống chính sách phát triển đã được
hoạch định trên những quan điểm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công
bằng xã hội phải thể hiện ở cẩ khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu
phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát
triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Tạo điều kiện cho tất cả các vùng đều phát
triển trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng cảu mỗi vùng để hình thành một
cơ cấu kinh tế hợp lý và liên kết giữa các vùng, tạo nên sự phát triển kinh tế, xã
hội mạnh mẽ của cả nước. Kết hợp phát triển có trọng điểm với phát triển toàn
diện các vùng lãnh thổ, giảm bớt sự chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng
giữa các vùng, điều tiết một phần tích luỹ từ nền kinh tế để hỗ trợ cho vùng khó
khăn. Vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khu căn cứ cách mạng
được xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn nhất cần được hỗ trợ, nhằm tạo điều
kiện ban đầu để các vùng đó từng bước vươn lên, hoà nhập với cả nước cùng phát
triển.
- Thực hiện công bằng xã hội được thể hiện trên mọi phương diện, trong đó việc
tạo cơ hội cho mọi tầng lớp dân cư thuộc mọi dân tộc có điều kiện tham gia vào
quá trình phát triển là hết sức cần thiết, thể hiện trên các mặt: được bình đẳng
trong việc đầu tư phát triển hạ tầng, hỗ trợ sản xuất,phát triển kinh tế, văn hoá,
giải quyết vấn đề x• hội, cải thiện cuộc sống của đồng bào các dân tộc…, được
trực tiếp đóng góp công sức, vật lực của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng
thôn xóm cho xây dựng quên hương mình; được đào tạo nâng cao kiến thức sản
xuất, tổ chức cuộc sống, nâng cao năng lực mọi mặt cho cán bộ và người dân trong
vùng; giúp họ tham gia sản xuất hàng hoá để trao đổi với bên ngoài; được cung
cấp thông tin về thị trường, giá cả, định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh;
được tiếp cận với các dịch vụ xã hội khác.
Vùng ĐBKK miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số có vai trò quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân
tộc. Từ xa xưa, các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm đều lấy vùng sâu, vùng
xa làm căn cứ; trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vùng này

các tỉnh miền núi và vùng dân tộc.
Nét nổi bật của khu vực này là kinh tế hàng hoá phát triển khá, là vùng động lực
phát triển chính của các tỉnh, huyện miền núi; GDP bình quân đầu người có địa
phương đạt cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội đã được xây dựng tương đối đồng bộ, bước đầu phục vụ tốt sản xuất, đời
sống đồng bào. Trình độ dân trí, đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng khá tiến bộ.
- Khu vực II: là khu vực đệm giữa khu vực I (đô thị…) với khu vực III (vùng sâu,
vùng xa…); có 1.737 x•, phường; 1.516.005 hộ với 7.764.202 người, chiếm tỷ lệ
44,18% dân số của các tỉnh miền núi và vùng dân tộc.
Nhìn chung kinh tế khu vực này phát triển chậm, sản phẩm hàng hoá ít; GDP bình
quân đầu người chỉ bằng 70% mức bình quân chung cả nước; sản xuất nông lâm
nghiệp còn nhiều hạn chế, một bộ phận dân cư còn phát rừng làm rẫy, khả năng tái
du canh du cư và tái trồng cây thuốc phiện còn nhiều; đời sống kinh tế tuy đã được
cải thiện nhưng thiếu bền vững. Số hộ đói nghèo chiếm tỷ lệ cao (20-50%). Cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội đã được xây dựng nhưng chưa đồng bộ hoặc còn tạm bợ,
chưa phục vụ tốt sản xuất, đời sống đồng bào. Mặt bằng dân trí còn thấp, đời sống
văn hoá -xã hội cộng đồng còn nhiều mặt hạn chế so với khu vực I.
- Khu vực III: gồm 1.557 xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng giáp biên. Vùng
căn cứ kháng chiến; có 799.034 hộ với 4.533.598 người, chiếm tỷ lệ 25,8% dân số
của các tỉnh miền núi và vùng dân tộc.
Đây là khu vực còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội rất yếu kém
(còn 672 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xa) - nhiều nơi thiếu đất canh tác
nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Sản xuất còn mang nặng tính tự
nhiên, tự cấp, tự túc, phát, đốt rừng làm rẫy, sống du canh du cư hoặc định cư
nhưng còn du canh… Số hộ đói nghèo chiếm trên 60%. GDP bình quân đầu người
chỉ bằng 31% mức bình quân chung cả nước. Trình độ dân trí rất thấp, số người
mù chữ, thất học chiếm trên 60%. Đời sống văn hoá - xã hội cộng đồng chậm cải
thiện, thiếu thông tin liên lạc, truyền thanh, truyền hình nhiều nơi chưa đến dân…
Tuy nhiên, khu vực này lại có vị trí rất quan trọng đối với quốc phòng, an ninh và
là vùng đầu nguồn của các con sông lớn nên có vai trò to lớn bảo vệ môi trường

mạnh.
* Những nhiệm vụ cơ bản về phát triển vùng ĐBKK
- Bố trí lại sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status