giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng tại các khu công nghiệp trên địa bàn hà nội hiện nay - Pdf 23

Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là bài chuyân đề của bản thân, kết quả trình bày trong
chính xác là chính xác và trung thực, không sao chép của người khác. Các thông tin
trong báo cáo đều ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Ký tên
Nguyễn Mạnh Nam
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, công cuộc xây dựng và đổi mới trên đất nước ta
đang diễn ra với nhịp độ khẩn trương và nhanh chóng nhằm hoàn thành mục tiêu
đưa đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Với vai
trị vô cùng quan trọng của mình, các Khu Công Nghiệp trên địa bàn cả nước đang
từng ngày đóng góp một phần không nhỏ vào tiến trình phát triển đó. Nếu như vào
thời điểm năm 1991 bắt đầu xuất hiện quy chế về Khu Công Nghiệp, Khu Chế Xuất
mới chỉ chứng kiến sự ra đời của hai Khu Chế Xuất Tân Thuận và Linh Trung tại
thành phố Hồ Chí Minh thì đến nay năm 2010 số lượng các Khu Công Nghiệp đã
lên tới con số 255 và được phân bố rộng khắp từ bắc vào nam. Vô cùng may mắn khi
được thiên nhiên ưu đãi về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cộng với việc quy hoạch
phát triển đồng bộ, cơ sở hạ tầng đảm bảo, chính sách thu hút, mời gọi hấp dẫn, các Khu
Công Nghiệp trên địa bàn cả nước đã và đang thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư
cả trong và ngoài nước, kích thích sự phát triển, góp phần tạo nên sự thay da đổi thịt của
cả nền kinh tế kể từ sau những năm đổi mới(1986) đến nay
Hà Nội - nơi trái tim của cả nước, khu trung tâm văn hóa, chính trị, hành chính
đầu não của quốc gia. Năm 2010 vừa qua để chuẩn bị cho kỷ niệm đại lễ 1000 năm

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
•Đối tượng: Nghiên cứu ở các khu công nghiệp
•Phạm vi: Nghiên cứu tại khu vực Hà Nội ( Do điều kiện thời gian không cho
phép và quá trình thu thập số liệu thống kê chưa hoàn chỉnh sau khi Hà Nội mở
rộng, nên em xin tập trung chủ yếu việc tìm hiểu vào các khu công nghiệp trước khi
mở rộng và có sự định hướng, dự báo sự phát triển các khu công nghiệp sau khi Hà
Nội mở rộng cho tới năm 2020)
Phương pháp nghiên cứu:
•Phương pháp thu thập số liệu: các báo cáo và tài liệu tại ban phát triển sản
xuất. Viện chiến lược phát triển, thông tin trên báo
•Phương pháp thống kê, quy nạp, diễn dịch
•Phương pháp phân tích số liệu, đánh giá số liệu
•Phương pháp so sánh sự biến động của dãy số qua các năm
Chuyên đề có 3 phần chính:
Chương I : Những vấn đề lý luận về Khu Công Nghiệp và Cơ sở hạ tầng
Chương II: Thực trạng Cơ sở hạ tầng tại các Khu Công Nghiệp hiện nay
Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển Cơ sở hạ tầng phục vụ sản
xuất các Khu Công Nghiệp trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Trong khuôn khổ của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp, với hạn chế về kiến
thức cũng như hiểu biết thực tiễn, chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu sót.
Bởi vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo bộ môn
và các cơ chú, anh chị đang công tác tại Viện Chiến Lược Phát Triển thuộc Bộ Kế
Hoạch – Đầu Tư
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
2
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG
1. Khu Công Nghiệp

hoạt động trong Khu Công Nghiệp, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng
Khu Công Nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp.
1.2. Đặc điểm
Có thể nói hiện nay tại mỗi quốc gia đều đang nỗ lực tập trung phát triển
Khu công nghiệp của riêng mình, đặc biệt là ở những nước đang phát triển. Mặc
dù có sự khác nhau về qui mô, địa điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng,
nhưng nói chung các Khu Công Nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Khu công nghiệp là một tổ chức không gian, lãnh thổ hoạt động công nghiệp;
luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng
lưới đô thị. Trong khu công nghiệp không có dân cư sinh sống
- Khu công nghiệp có chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm mục đích thu
hút vốn đầu tư của cả trong và ngoài nước, tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Đặc biệt
là chính sách về đất đai và thuế, cho phép các doanh nghiệp có thể sử dụng những
phạm vi đất đai nhất định để thành lập các nhà máy xí nghiệp, giúp doanh nghiệp
giảm bớt chi phí kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường
- Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu được thu hút từ nước ngoài hay
các tổ chức, cá nhân trong nước. Tại Việt Nam chúng ta do nguồn vốn ngân sách
còn hạn hẹp nên việc huy động cho phát triển cơ sở hạ tầng chủ yếu được huy động
từ nước ngoài
- Sản phẩm sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp trong khu công nghiệp chủ
yếu để xuất khẩu, và phần còn lại là tiêu dung trong nước. Hiện nay để tăng thu
ngoại tệ các doanh nghiệp cần quan tâm đến việc sản xuất hàng hóa có chất lượng
cao nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và chiếm lĩnh dần thị trường
trong nước. Chủ động nắm bắt công nghệ, giảm dần sự phụ thuộc vào các thiết bị
máy móc đầu vào từ nước ngoài
- Mọi hoạt động kinh tế trong khu công nghiệp trực tiếp chịu sự chi phối của
cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Chính vì vậy, cơ chế quản lý
kinh tế trong khu công nghiệp đều lấy điều tiết của thị trường làm chính
- Khu công nghiệp là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần
và hình thức sở hữu khác nhau cùng tại song song: doanh nghiệp có vốn đầu tư

chỉ là tạm thời: khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các công trình và cho thuê
hết diện tích thì 2 tiêu thức đó không cần sử dụng nữa).
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
5
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
+ Theo quy mô, hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ. Các chỉ
tiêu phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số
vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. Các khu công nghiệp lớn được
thành lập phải cú quyết định của Thủ tướng chính phủ. Các khu công nghiệp vừa và
nhỏ thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố. Trong giai đoạn
đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ để sớm khai
thác có hiệu quả.
+ Theo trình độ kỹ thuật: có thể phân biệt
•Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.
•Các khu công nghiệp cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn
như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v làm đầu tàu cho
sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xó hội dài hạn.
+ Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm:
•Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước.
•Các khu công nghiệp hỗn hợp bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong
nước và nước ngoài.
• Các khu công nghiệp chỉ gồm các doanh nghiệp, các dự án 100% vốn đầu tư
nước ngoài.
+ Theo tính chất của thực thể kinh tế xó hội, cần phân biêt 2 loại:
•Các khu công nghiệp thuần túy chỉ xây dựng các xí nghiệp sản xuất, chế biến
sản phẩm, không có khu vực dân cư.
•Các khu công nghiệp này dần dần sẽ trở thành thị trấn, thị xó hay thành phố
vệ tinh. Đó là sự phát triển toàn diện của các khu công nghiệp.
+ Theo tính chất ngành công nghiệp: Có thể liệt kê theo các ngành cấp I, như
khu chế biến nông lâm hải sản, khu công nghiệp khai thác quặng, dầu khí, hóa dầu,

hoá đất nước đều gặp phải một bài toán nan giải là tình trạng thiếu vốn. Với quy chế
quản lý và hệ thống chính sách ưu đãi, các khu công nghiệp sẽ tạo ra một môi
trường đầu tư kinh doanh thuận lợi có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, từ đó giúp cho nước chủ nhà có thêm vồn đầu tư, tiếp cận vốn đầu tư và công
nghệ tiên tiến, học được phong cách quản lý hiện đại. Hơn nữa việc phát triển khu
công nghiệp cũng phù hợp với chiến lược của các công ty đa quốc gia trong việc mở
rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tiế kiệm chi phí, tăng thu lợi nhuận, tranh thủ
thuế quan ưu đãi từ phía nước chủ nhà, khai thác thị trường rộng lớn ở các nước
đang phát triển. Khu công nghiệp là nơi góp phần thu hút một lượng lớn FDI.
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
7
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
Chẳng hạn như Đài Loan và Malaixia, trong những điều phát triển, khu công nghiệp
đã thu hút được 60% vốn FDI. Đồng thời, các doanh nghiệp hoạt động trong khu
công nghiệp phần lớn là các đơn vị tiềm năng. Do đó hoạt động có hiệu quả góp
phần vào mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Trong đó đáng kể nhất là việc
góp phần vào việc thúc đẩy mạnh xuất khẩu hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập
khẩu. ở một số nước khu công nghiệp đã góp phần đáng kể cho việc đẩy mạnh xuất
khẩu. Ví dụ như Malaixia hiện nay giá trị xuất khẩu của các khu công nghiệp chiếm
30% trong tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế biến, ở Mehicô là 50%.
Cùng với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài , với thuận lợi về vị trí ưu đãi về
chính sách và cơ chế, khu công nghiệp, khu chế xuất còn khuyến khích thu hút các
nhà đầu tư trong nước - một nguồn vốn tiềm tàng trong dân chúng vẫn còn chưa
được khai thác và sử dụng một cách xứng đáng. Khu công nghiệp sẽ tạo môi trường
và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như sản xuất kinh doanh trong cùng một
điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Thông qua việc liên doanh, liên
kết các doanh nghiệp trong nước có điều kiện và cơ hội để tiếp thu kinh nghiệm
quản lý, trình độ điều hành sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại
của nước ngoài, bồi dưỡng nhân tài, thử các phương án cải cách để tiến dần đến
trình độ thế giới

các trói buộc phong kiến hành chính thì đều có ý nghĩa hơn lại là một chính sách kỹ
thuật và công nghệ khả thi đủ hấp dẫn để thu hút được kỹ thuật và công nghệ mới
của nước ngoài vào sự tái thiết nền kinh tế nội địa. Bên cạnh đó các doanh nghiệp
cũng phải chú trọng vào công tác đào tạo cán bộ công nhân cho phù hợp với kỹ
thuật của máy móc cũng như phương thức kinh doanh mới. Do vậy, trình độ của
người lao động sẽ được nâng lên phù hợp với tác phong lao động công nghiệp.
Những kế quả này không chỉ mang lại cho khu công nghiệp mà nó còn tác động
mạnh đến việc thay đổi công nghệ, trang thiết bị, chất lượng sản phẩm, cơ chế hoạt
động, kiến thức và phương pháp quản lý của các doanh nghiệp bên ngoài, làm cho
các doanh nghiệp này cũng đổi mới để đạt hiệu quả kinh tế cao
- Tăng cường các mối liên kết và tác động tới bộ phận còn lại của nền kinh tế:
Một trong những mục đích thiết lập các khu công nghiệp là thúc đẩy sự phát
triển toàn diện trong vùng, thực hiện marketing trên thị trường trong nước, mở cửa
nề kinh tế trong nước cho hệ thống mậu dịch và tài chính quốc tế, phát triển hợp tác
kinh tế đối ngoại và trao đổi kỹ thuật, đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa đất nước.
Các khu công nghiệp được coi là một bộ phận gắn liền của chính sách mở cửa ra thế
giới bên ngoài, tăng cường mối liên kết trao đổi kinh tế và kỹ thuật với thế giới.
Ngoài ra việc phát triển khu công nghiệp còn tạo ra sự tác động trở lại đối với
những động thái phát triển của các ngành sản xuất trong nước thông qua việc các
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
9
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
khu kinh tế đặc biệt này sử dụng vật liệu trong nước, hoặc qua việc doanh nghiệp
trong nước lắp ráp, chế biến và dịch vụ cho các khu công nghiệp
Người ta cho rằng ảnh hưởng của các khu công nghiệp đối với phần còn lại
của nền kinh tế thong qua hiệu ứng số nhân của Keynes. Nhìn chung, ảnh hưởng
của khu công nghiệp đối với sự phát triển của nền kinh tế là rất rõ ràng. Tuy nhiên ở
mỗi nước thì mức độ ảnh hưởng đó là khác nhau. Một điều khác cũng đáng lưu ý là
dự muc tiêu của nhà nước chủ nhà như thế nào đi chăng nữa thì cũng phải đáp ứng
được ở một mức độ nhất định những yêu cầu và mục tiêu của các công ty nhà nước,

cầu cống, sân bay, bến cảng…Hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật nguyên nhiên liệu
phụ trợ sản xuất và đời sống, mạng lưới vận tải và phân phối năng lượng ( kể cả các
trạm biến áp trung chuyển hạ thế, các thiết bị an toàn và bảo vệ) hệ thống thiết bị
công trình và phương tiện thông tin lien lạc, bưu điện, lưu trữ và xử lý thông tin, hệ
thống thủy lợi, thủy nông phục vụ cho việc giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái
của đất nước và môi trường sống của con người, hệ thống này bao gồm các công
trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất rừng, biển và các tài nguyên
khác, hệ thống cung cấp và xử lý nước sinh hoạt, hệ thống xử lý rác thải…
- Cở sở hạ tầng kinh tế xã hội: gồm toàn bộ các công trình như nhà xưởng, kho
bãi, khách sạn, khu thương mại ( siêu thị, chợ…) trụ sở làm việc của các cơ quan
hành chính, kinh tế và các tổ chức xã hội…
- Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội: Đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ cho các hoạt động văn hóa xã hội, bảo đảm cho việc thỏa mãn và nâng cao
trình độ lao động của xã hội. Hệ thống này bao gồm: các cơ sở thiết bị và công trình
phục vụ cho giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai
công nghệ, các cơ sở y tế, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm xã hội, nghỉ ngơi…và các
công trình phục vụ hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao.
Tóm lại, cơ sở hạ tầng là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có
liên quan dựng để phục vụ các nhu cầu kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư. Trong
nhiều trường hợp, người ta còn dựng cả thuật ngữ kết cấu hạ tầng là cơ sở đảm bảo
sự phát triển bền vững của cả một quốc gia nên người ta dựng thuật ngữ “cơ sở hạ
tầng” với nội dung đồng nhất khi dựng thuật ngữ “ kết cấu hạ tầng”
2.3. Vai trò của việc xây dựng cơ sở hạ tầng với sự phát triển kinh tế
Ở bất kỳ quốc gia nào, việc phát triển cơ sở hạ tầng luôn được coi là một
trong những điều kiện tiên quyết phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội.
Trình độ tiên tiến của cơ sở hạ tầng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ
phát triển của một quốc gia. Do vậy ở mọi quốc gia, chính phủ đều có chính sách ưu
tiên cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và ban hành quy hoạch phát triển cơ sở hạ
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
11

nó còn tác động đến quá trình hợp tác quốc tế. Chẳng hạn, vai trò của hệ thống giao
thông vận tải là duy trì sự thông thương hàng hóa giữa các quốc gia này với các
quốc gia khác, còn hạ tầng viễn thông thì kết nối, đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc
kịp thời giữa các quốc gia, góp phần phục vụ cho nền kinh tế đối ngoại.
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
12
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
Cơ sở hạ tầng còn đóng góp quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã
hội. Như trên đã phân tích, cơ sở hạ tầng có vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy
sự phát triển kinh tế. Khi cơ sở hạ tầng được đảm bảo, giao thông thuận tiện, thông
tin liên lạc cập nhật, người dân có điều kiện nắm bắt kịp thời những thông tin kinh
tế, học hỏi những phương pháp làm việc khoa học, tiến hành sản xuất kinh doanh
một cách hợp lý, tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập của người dân. Từ sự phát triển
kinh tế, các hoạt động văn hóa xã hội, chăm sóc y tế…của người dân sẽ ngày càng
được quan tâm. Lúc đó, chính các bộ phận của cơ sở hạ tầng như hệ thống trường
học, bệnh viện, các trung tâm vui chơi giải trí…là những yếu tố góp phần đánh giá
chất lượng cuộc sống người dân.
Cơ sở hạ tầng nhìn chung là một loại hàng hóa công cộng được sử dụng chung
và có tính thích ứng trong thời gian dài, không những đáp ứng cho nhu cầu hiện tại
mà cả trong tương lai. Do vậy, tác động của nó không chỉ là nhất thời mà có tính lâu
dài. Vì thế việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng không phải chỉ ngày một ngày hai mà cần
có kế hoạch và phải được quan tâm trong mọi thời kỳ
2.4. Những tiêu chí xác định chất lượng cơ sở hạ tầng
- Xét về độ bền chắc của cơ sở hạ tầng: Do cơ sở hạ tầng có giá trị lớn, tuổi
thọ cao so với những loại sản phẩm khác mà tính bền chắc phải được coi là tiêu
chuẩn hàng đầu để đánh giá chất lượng của cơ sở hạ tầng, nó được thể hiện qua:
+ Tuổi thọ của cơ sở hạ tầng
+ Khả năng chịu động đất bao nhiêu độ Gicte
+ Khả năng chịu bão cấp mấy
+ Cường độ chịu nén, chịu uốn của các kết cấu chính

+ Giá trị 1 m2 xây dựng
+ Giá trị 1 m2 diện tích sử dụng
- Tiêu chuẩn mỹ quan của cơ sở hạ tầng: là phản ánh cái đẹp, mặt thẩm mỹ
của cơ sở hạ tầng thông qua hình thức bên ngoài và sự phù hợp với cảnh quan xung
quanh thông qua các chỉ tiêu:
+ Hình thức, dáng dấp cơ sở hạ tầng: Hình khối hay mái cong, mái nhọn…
+ Kiếu cách mặt đứng ( mặt tiền) qua cách trang trí họa tiết, các hoa văn
+ Màu sắc của cơ sở hạ tầng được trang trí: mầu sơn, hoa văn…
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
14
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
+ Sự phù hợp với các quần thể kiến trúc xung quanh về mặt không gian và
kiểu dáng, về chiều cao, mức độ bề thế
+ Bảo vệ môi trường sinh thái
+ Tính chất hiện đại
+ Tính chất dân tộc
+ Tính nghệ thuật và văn hóa
Tất cả các chỉ tiêu này đều phản ánh chất lượng cơ sở hạ tầng, tùy từng loại
mà mức độ quan trọng của các chỉ tiêu có khác nhau, hoặc tùy theo điều kiện kinh
tế xã hội, tùy theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà các chỉ tiêu này cũng
được đánh giá khác nhau, chính vì vậy chúng ta mới khẳng định rằng chất lượng là
một phạm trù động
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cơ sở hạ tầng
- Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý của vùng
Các công trình phải được xây dựng ở vị trí thuận lợi, có khí hậu ổn định, không
quá khắc nghiệt sẽ giúp cho tuổi thọ của cơ sở vật chất được lâu hơn, quá trình sản
xuất, thông thương hàng hóa dễ dàng hơn. Yếu tố vị trí địa lý có thể được coi là một
trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành bại của một số doanh nghiệp, giúp tăng
cường khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp đối với các đối thủ của mình, giúp
giảm bớt chi phí sản xuất và lưu thông hàng hóa đem về nhiều lợi nhuận hơn

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1. Khái quát chung về Hà Nội
1.1 Vị trí địa lý:
Hà Nội, trước đây được gọi là Thăng Long – “mảnh đất rồng bay”, nằm ở
trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, thuộc Châu thổ sông Hồng là nơi hội tụ các điều kiện
thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hoá, thương mại, giao dịch quốc tế và du lịch.
Với hệ thống mạng lưới giao thông đồng bộ, bao gồm đường bộ, đường sông,
đường sắt, và đường hàng không, đã khiến Hà Nội trở thành một địa điểm thuận lợi
để phát triển các ngành công nghiệp. Các tập đoàn lớn như Canon, Yamaha, Motor
và hàng trăm các nhà sản xuất hàng đầu thế giới đã thành lập nhà máy tại đây. Qua
hàng nghìn năm phát triển, Hà Nội luôn là trung tâm văn hoá lớn có sức hấp dẫn
của cả nước nói riêng và trên thế giới nói chung.
Bên cạnh đó, Hà Nội còn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học
lớn, đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam. Phần lớn các chuyên gia đầu
ngành đang công tác, nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở thủ đô. Mảnh đất này tự
hào là cái nôi rèn luyện và tạo dựng các thế hệ trí thức của thời đại mới.
Hà Nội có vị trí địa lý chính trị quan trọng, có ưu thế đặc biệt so với cả nước,
là Thủ đô của nước Cộng hồ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nghị quyết 15 NQ/TW
của Bộ chính trị đã xác định Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành
chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch
quốc tế. Hệ thống giao thông nối liền Hà Nội với các tỉnh thành trong cả nước và
tạo điều kiện thuận lợi để Hà Nội tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa
học và kỹ thuật của thế giới, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế,
khu vực và cùng hội nhập vào quá trình phát triển hàng của khu vực
Hiện tại, ranh giới thủ đô đã được mở rộng bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên
và dân số tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã Đông Xuân, Tiến
Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Chính vì vậy
tổng diện tích lên tới 3.324,92 km². Giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở

lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Sự chuyển cơ cấu công
nghiệp đã phát huy và khai thác tốt những lợi thế sẵn có về năng lực, nguồn nguyên
liệu trong nước. Nhiều cơ sở sản xuất đã mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị công
nghệ, mở rộng sản xuất nên đã tạo nên sản phẩm mới cho xã hội , nhiều sản phẩm
có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm ngoại. Nhiều sản phẩm được
xuất khẩu trên thị trường thế giới.
Năm 2007, GDP của thành phố tăng khoảng 12,1%, tổng giá trị xuất khẩu đạt
trên 4 tỷ USD, tổng thu ngân sách khoảng 45.709 tỷ đồng. GDP bình quân đầu người
của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu.
Cơ cấu kinh tế Hà nội 2001-2010
Đơn vị: %
Năm
Các ngành kinh tế
2000 2001 2005 2010
- Công nghiệp 38,0 38,7 41,5 42
- Dịch vụ 58,2 57,6 55,5 56
- Nông nghiệp 3,8 3,7 3,0 2,0
(Nguồn: www.hanoi.gov.v
Nhìn chung cơ cấu kinh tế của thủ đô đang có sự chuyển dịch đúng hướng, tỷ
trọng ngành công nghiệp và dịch vu đang gia tăng, còn ngành nông nghiệp thì
ngược lại, có xu hướng giảm tỷ trọng rõ rệt. Năm 2009 giá trị sản xuất công nghiệp
trên địa bàn tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: kinh tế nhà nước tăng
6,1% (kinh tế Nhà nước Trung ương tăng 5,5%; kinh tế Nhà nước địa phương tăng
8,1%); kinh tế ngồi Nhà nước tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng
8,0%. Tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị sản xuất công nghiệp 5 năm đầu
(2001-2005) là 14,5 - 15,5%; 5 năm sau (2006 - 2010) là 9,5 - 10%. Sự giảm sút
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
19
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
này là do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Trong 10 năm

chế thị trường. Trong những năm qua vị trí vai trò của công nghiệp đối với nền kinh
tế Thủ đô còn chưa tương xứng, chỉ số tăng tỷ trọng công nghiệp trong GDP qua
các năm còn nhỏ. Hệ số giữa nhịp độ tăng giá trị công nghiệp và nhịp độ tăng
trưởng GDP còn thấp nếu cứ giữ hệ số tương quan này thì nền kinh tế của thành phố
không thể có nhịp độ tăng cao. Trước thực trạng đã nêu, để đẩy mạnh phát triển sản
xuất công nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp là yêu cầu cấp thiết
đối với thành phố trong những năm tới. Do vậy chúng ta cần có những giải pháp sát
thực mạnh mẽ, kiên quyết, hợp quy luật làm kim chỉ nam cho hành động để phát
triển sản phẩm công nghiệp trong thời gia
2. tới
Thực trạng chất lượng cơ sở hạ tầng tại cá
KCN
Xem xét thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn Hà Nội ta cần phải
tìm hiểu cả hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào của các khu công nghiệp. Hai
khái niệm này có mối liên hệ chặt chẽ, móc xích với nhau, quan trọng như hai cánh
tay trái, phải trên cơ thể mỗi một con
ười.
2.1 Thực trạng cơ sở hạ tầng ngoài
àng rào
2.1.1 Cơ sở hạ tầng
ỹ thuật
2.1.1.1 Giao thôn
 vận tải
Hệ thống giao thông
ường bộ
Trong thời gian qua, hạ tầng cơ sở của Thủ đô Hà Nội đã được đầu tư phát
triển và đạt được một số kết quả góp phần tích cực trong việc đáp ứng các nhu cầu
phát triển của nền kinh tế và phục vụ nhu cầu của người dân. Nhiều công trình hạ
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
21

Hà Nội có 172.444 ôtô các loại, 1.678.504 xe máy, hàng triệu xe đạp Ngoài ra,
trong quá trình xây dựng các công trình giao thông vẫn phải đáp ứng nhu cầu đi lại,
sinh hoạt của người dân nên thường gây ùn tắc. Trong 10 năm gần đây mới chỉ làm
thêm 60km đường, trong đó 25km đường nội thành. Thành phố có trên 580 nút giao
thông, nhưng mới có trên 100 nút được lắp đèn tín hiệu Số lượng xe gắn máy mỗi
năm tăng 12-20%, nhiều người không có giấy phép lái xe, hoặc có giấy phép nhưng
không nắm vững luật giao thông, có khi vận hành xe chưa thành thạo vẫn tham
 ia giao thông.
Hệ thống gia
thông đường sắt
Hà Nội là đầu mối giao thông đường sắt của các tuyến đường sắt đi Hải
Phòng, Thái Nguyên, Đồng Đăng, Lào Cai và tuyến Thống Nhất, với chiều dài
SV: Nguyễn Mạnh Nam Lớp: Kinh tế phát triển 49A
23

Trích đoạn phóng mặt bằng nhanh gọn, ít lãng phí Giai đoạn 2006-2010 Giai đoạn 2011 1.Xây dựng mạng lướ Nối, Đông Anh) và tăng công suất trạm Thường Tín
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status