Quy trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp dược phẩm - Pdf 12

GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I: QUI TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH
TRONG DOANH NGHIỆP DƯỢC PHẨM
I. Tổng quan về lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
1. Khái niệm chung về kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Kế hoạch hoá từ lâu được coi như là công cụ để thiết lập cũng như
thực hiện các quyết đọnh chiến lược. Tuy nhiên vai trò này không phải lúc
nào cũng được thừa nhận nhất quán, nó có thể là công cụ quản lý không thể
thiếu của đối tượng này, nhưng lại là thủ phạm của sự cứng nhắc đới với đối
tượng khác. Qua quá trình lịch sử phát triển của nền kinh tế Kế hoạch hoá có
nhiều nghĩa khác nhau và luôn là chủ đề quan tâm và có nhiều ý kiến trái
ngược.
Hiểu một cách tổng quát nhất thì, kế hoạch hoá là một phương thức
quản lý theo mục tiêu, nó “ Là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức
và vân dụng các quy luật xã hội và tự nhiên, đặc biệt là các quy luật kinh tế
để tổ chức quản lý các đơn vị kinh tế - kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực
hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội theo những mục tiêu thống nhất”. Theo
cách hiểu này thì, kế hoạch hoá được thể hiện ở nhiều qui mô khác nhau: của
nền kinh tế, của doanh nghiệp, của địa phương… Kế hoạch hoá hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (gọi tắt là kế hoạch hoá doanh
nghiệp) được xác định là một phương thức quản lý doanh nghiệp theo mục
tiêu, nó bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một cách có chủ định của các
nhà lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
của đơn vị mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Hay nói một cách
khác “ Kế hoạch hoá doanh nghiệp là một quy trình ra quyết định cho phép
4
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai của doanh nghiệp
và quá trình tổ chức triển khai thực hiện mong muốn đó”.
Như vậy, kế hoạch hoá trong doanh nghiệp thể hiện khả năng phán
đoán mục tiêu phát triển và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Qua đây

mặt sau:
- Tập trung sự chú ý của các hoạt động của doanh nghiệp vào các mục
tiêu. Mục tiêu cuối cùng của kế hoạch hoá là đạt được những mục tiêu mà
doanh nghiệp đề ra, cho nên chính các hoạt động của công tác kế hoạch hoá
là tập trung sự chú ý vào những mục tiêu này. Trong nền kinh tế thị trường
luôn biến động thì kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúp doanh nghiệp dự
kiến được những cơ hội, thách thức có thể xảy ra để từ đó có đưa ra quyết
định nên làm những gì, làm như thế nào, làm vào lúc nào… Mặc dù các diễn
biến của thị trường là rất khó dự đoán tuy nhiên chúng ta không thể để mặc
chúng tự diễn ra, như thế là để mặc cho doanh nghiệp mình đối đầu với
những biến động của thị trường, như thế thì rủi ro sẽ càng lớn.
- Công tác kế hoạch hoá với việc ứng phó những sự thay đổi của thị
trường. Lập kế hoạch là dự kiến những vần đề của tương lai, chính vì thế nó
ít khi chắc chắn. Ngay cả khi tương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà lãnh
đạo vẫn cần có kế hoạch để phân công, phối hợp các hoạt động của các bộ
phận trong doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu và tháo gỡ, ứng phó với
những diễn biến bất ngờ có thể xảy ra.
- Công tác kế hoạch với việc tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong
doanh nghiệp. Công tác kế hoạch hoá doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìn
nhân logic các nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá
trình tiến tới mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch vụ cuối cùng. Trên nền
tảng đó, các nhà quản lý thực hành phân công, tổ chức các hoạt động cụ thể,
6
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
chi tiết theo đúng trình tự, bảo đảm cho sản xuất sẽ không bị rối loạn và ít bị
tốn kém.
II. Qui trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
1. Nội dung và phương pháp lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp.
1.1. Nội dung của kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Trên thực tế luôn có sự sai lệch giữa dự báo và thực tế thị trường nơi mà
doanh nghiệp có mặt, vì vậy kế hoạch phải được xây dựng dựa trên năng lực
sản xuất và các phân tích, đánh giá dự báo nhu cầu của sản phẩm trên thị
trường. Kế hoạch sản xuất được điều chỉnh linh hoạt, sao cho thích ứng với
mọi biến động của môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự biến động về nhu
cầu. Kế hoạch sản xuất sẽ phải xác định được các nội dung sau đây:
- Khối lượng sản xuất cho mỗi sản phẩm.
- Các sản phẩm khác nhau được sản xuất tại mỗi đơn vị sản xuất.
- Lượng dự trữ cần thiết đối với thành phẩm và bán thành phẩm.
- Sử dụng các yếu tố sản xuất.
- Cung ứng nguyên vật liệu và bán thành phẩm.
- Các kế hoạch thuê ngoài.
Việc xác định các yếu tố này phải thoả mãn các ràng buộc chặt chẽ về
kỹ thuật, các mục tiêu của doanh nghiệp và các nguồn lực của các bộ phận
khác nhau trong doanh nghiệp, đặc biệt là các ràng buộc về mục tiêu bán
hàng, khả năng cung ứng nhân sự và các mục tiêu hiệu quả.
Cùng với quá trình sản xuất sản phẩm thì do một số lý do về kỹ thuật
như: thời hạn sản xuất của các đơn hàng, và tận dụng công suất của máy
móc thiết bị. Và lý do thời vụ của việc tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp
sẽ phải dự trữ sản phẩm. Việc dự trữ cũng mang đến nhiều phiền toái cho
8
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
doanh nghiệp. Ví dụ như: vốn lưu động của doanh nghiệp sẽ bị đọng lại
trong kho và doanh nghiệp sẽ tốn chi phí bảo quản chúng, ngoài ra có thể
phải tính đến các sản phẩm bị hỏng trong quá trình lưu kho. Cùng với dự trữ
sản phẩm thì doanh nghiệp còn tiến hành dự trữ, bảo quản nguyên vật liệu
phục vụ cho quá trình sản xuất. Mục đích của dự trữ nguyên vật liệu để đáp
ứng hai mục tiêu cơ bản, đó là đáp ứng nhu cầu đầu vào cho sản xuất với chi
phí thấp nhất.
c. Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu, máy móc.

bộ doanh nghiệp, nhu cầu thuyên chuyển các cán bộ, nhu cầu nhân sự từ bên
ngoài, và còn căn cứ dựa trên phân tích về thị trường lao động.
e. Kế hoạch tài chính.
Tài chính là một trong những nguồn lực cực kì quan trọng của doanh
nghiệp, nó là bộ phận không thể thiếu của các hoạt động tài chính doanh
nghiệp. Quản lý tài chính doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng
trong quản lý doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập của doanh nghiệp, sự
thành bại của doanh nghiệp trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh
của mình.
Kế hoạch tài chính là một trong nhữg thành phần quan trọng của hệ
thống kế hoạch hoá doanh nghiệp. Mục đích cuối cùng của nó là xây dựng
hệ thống quản lý tài chính hiệu quả để đạt được các mục tiêu chiến lược của
doanh nghiệp. Kế hoạch tài chính cũng là phương tiện để thực hiện chính
sách tài chính của doanh nghiệp.
Kế hoạch tài chính là quá trình soạn thảo các kế hoạch và các chỉ tiêu
quan trọng nhằm đảm bảo các nguồn lực cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Sau đây là các nội dung quan trọng của kế hoạch tài chính: kế hoạch tài
chính xác định các nhu cầu sử dụng nguồn lực tài chính của doanh nghiệp,
10
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
xác định các nguồn vốn cơ bản và cơ cấu của nguồn vốn, đưa ra các quyết
định về thu hút nguồn tài chính từ bên ngoài, thiết lập cơ chế phân bổ nguồn
lực tài chính một cách hợp lý cho các nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp,
đồng thời xác định các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các tổ
chức tài chính khác.
1.2. Phương pháp lập kế hoạch kinh doanh.
Là phương pháp mà doanh nghiệp sử dụng trong phân tích thị trường,
trong tổng hợp phân tích các số liệu thu thập thông tin, số liệu. Việc sử dụng
phương pháp tính toán dự báo các con số trong bản kế hoạch có ảnh hưởng
lớn tới chất lượng của bản kế hoạch, từ đó tác động tới khả năng thực hiện

có hệ thống chiến lược, các chính sách, các chương trình hỗ trợ cho việc
thực hiện các mục tiêu đã đề ra có thể thành hiện thực.
2.3. Lập kế hoạch chiến lược.
Sau hai bước đã tiến hành trên, doanh nghiệp tiến hành so sánh các
mục tiêu đề ra (yếu tố mong muốn chủ quan) với kết quả nghiên cứu về môi
trường bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp (yếu tố tác động làm giới
hạn mục tiêu của doanh nghiệp). Qua sự so sánh giữa mục tiêu và các yếu tố
giới hạn chúng, chúng ta thấy được sự chênh lệch giữa chúng và bằng việc
sử dụng các phương pháp phân tích để đưa ra các phương án kế hoạch chiến
lược khác nhau. Lập kế hoạch chiến lược xác định hình ảnh của doanh
nghiệp trong tương lai trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Trong một
bản kế hoạch chiến lược xác định các mục tiêu dài hạn, chính sách thực hiện
mục tiêu đó. Trong bước quan trọng này thì nó gồm những khâu và công
việc cụ thể sau:
12
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
- Xác định các phương án kế hoạch chiến lược: Bước này xác định các
phương án kế hoạch hợp lý, và tìm ra các phương án có nhiều triển vọng
thực hiện nhất.
- Đánh giá các phương án lựa chọn: sau khi tìm được các phương án
có triển vọng nhất, chúng ta sẽ bắt đầu tiến hành đánh giá và xem xét các
điểm mạnh và yếu của từng phương án trên cơ sở định lượng của các chỉ
tiêu.
- Lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược: Trong quá trình lựa
chọn phương án cần lưu ý đến những phương án dự phòng và những phương
án phụ để dự phòng trong những trường hợp cần thiết. Đây là khâu quan
trọng quyết định tới việc cho ra đời một bản kế hoạch.
2.4. Xác định các chương trình và dự án.
Bước này thể hiện sự cụ thể của các kế hoạch thành các phân hệ nhỏ
hơn. Các chương trình thường xác định sự phát triển của một trong các mặt

hoạch cũng như chức năng kế hoạch khác, có thể sử dụng thêm các nhà
chuyên gia, các nhà tư vấn kiểm tra lại các mục tiêu, chỉ tiêu, các kế hoạch
chức năng… phân định kế hoạch theo các pha có liên quan đến tổ chức thực
hiện kế hoạch, trên cơ sở đó tiến hành các phê chuẩn cần thiết để chuẩn bị
chuyển giao nội dung kế hoạch cho các cấp thực hiện.
III. Một số đặc trưng riêng của ngành dược có ảnh hưởng tới lập kế
hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Một số tiêu chuẩn chất lượng cần đảm bảo.
Ngành sản xuất nào cũng cần đảm bảo chất lượng cho sản phẩm của
mình, với đặc thù của ngành là tạo ra các sản phẩm chữa bệnh và nâng cao
sức khoẻ cho khách hàng nên ngành dược càng đòi hỏi đảm bảo các tiêu
chuẩn chất lượng khắt khe. Đang trên con đường hội nhập với thế giới nên
14
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
các doanh nghiệp của Việt Nam cũng đã và đang cố gắng tiến hành các qui
trình đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn chung của quốc tế.
1.1. Tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất (GMP).
Bản dự thảo đầu tiên của tổ chức y tế thế giới WHO về thực hành tốt
sản xuất thuốc được xây dựng theo yêu cầu của Hội đồng y tế Thế giới lần
thứ 20 (Nghị quyết WHA 20.34) năm 1967 do một nhóm chuyên gia thực
hiện. Sau đó bản dự thảo này được trình lên Hội đồng y tế Thế giới lần thứ
21 dưới tiêu đề “ Dự thảo Quy định trong thực hành tốt trong sản xuất và
kiểm tra chất lượng thuốc và tá dược” và được thông qua. Thực hành tốt sản
xuất thuốc là một phần của đảm bảo chất lượng, giúp đảm bảo rằng các sản
phẩm được sản xuất ra một cách đồng bộ và được kiểm soát theo các tiêu
chuẩn chất lượng phù hợp với mcụ đích sử dụng của chúng cũng như theo
các giấy phép lưu hành. Các nguyên tắc trong GMP trước hết hướng tới loại
bỏ những nguy cơ dễ xảy ra trong sản xuất dược phẩm, đó là: nhiễm chéo và
lẫn lộn. Thực hiện GMP đòi hỏi:
- Tất cả các quy trình sản xuất phải được xác định rõ ràng, được rà

có sự kiểm tra đối chiếu.
1.4. Nguyên tắc thực hành tốt nhà thuốc (GPP).
Theo quyết định số 11/2007/QĐ-BYT ngày 24/01/2007, đưa ra các
nguyên tắc, các tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề thuốc của các dược
sĩ tư nhân và nhân sự trên cơ sở tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên
môn. Để thực hiện được tiêu chuẩn này, các cơ sở cần đảm bảo các tiêu
chuẩn sau: Người phụ trách chuyên môn của cơ sở phải có chứng chỉ hành
nghề theo qui định; cơ sở có nhân lực đáp ứng được các yêu cầu chung; nơi
bán thuốc phải đảm bảo các tiêu chuẩn chung về diện tích, về các dụng cụ
chứa đựng sản phẩm, kho bảo quản sản phẩm; trong quá trình kinh doanh
16
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
các cơ sở phải ghi chép đầy đủ về sản phẩm đã xuất ra, số lô; các sản phẩm
phải có hướng dẫn sử dụng rõ ràng.
1.5. Nguyên tắc thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP).
Theo quyết định số 1570/200/QĐ-BYT ngày 22/05/2000, doanh
nghiệp cần đảm bảo các điều kiện chung như sau: các doanh nghiệp hoạt
động cần thực hiện theo các hướng dẫn về tổ chức nhân sự, số lượng, bằng
cấp của nhân viên, hồ sơ sức khoẻ của nhân viên...; về hệ thống chất lượng:
chính sách chất lượng, sổ tay chất lượng và nội dung của nó, đánh giá định
kì kiểm tra chất lượng; về cơ sở vậ chất: danh mục các thiết bị kiểm nghiệm,
diện tích và điều kiện của phòng kiểm nghiệm.
2. Sự phân đoạn thị trường của ngành dược.
Từ khi tổ chức lại sản xuất, Traphaco tập trung vào sản xuất các sản
phẩm đông dược, sự đúng đắn trong chính sách phát triển đã đưa Traphaco
tới những thành công. Hiện tại, trong lĩnh vực kinh doanh của mình
Traphaco đã chiếm lĩnh 70% thị phần trong nước, nó tạo nên thế mạnh cho
doanh nghiệp và với những bước tiến trên Traphaco cần có những kế hoạch
phát triển hợp lý để duy trì và ngày càng nâng cao vịe thê hơn nữa. Cùng với
kế hoạch phát triển thị phần trong nước, hiện tại Traphaco cũng đang nỗ lực

18
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
Hình 1.1. Qui trình lập kế hoạch kinh doanh
Bước đầu tiên của qui trình, các doanh nghiệp sẽ nghiên cứu về thị
trường, rồi xác định các mục tiêu cho doanh nghiệp. Từ sự so sánh mục tiêu
và đánh giá về môi trường mà các doanh nghiệp đưa ra kế hoạch chiến lược
để hiện thực hoá các mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp. Để làm được điều
này các doanh nghiệp tiến hành thực hiện các dự án, chương trình để tập
trung sự chú ý vào các nút quan trọng sao cho đạt được mục tiêu nhanh nhất,
hiệu quả nhất. Khi đã có kế hoạch chung, doanh nghiệp sẽ chuyển chúng
thành các kế hoạch tác nghiệp và giao về các phòng ban cấp dưới để tiến
hành thực hiện kế hoạch. Trong quá trình thực hiện luôn theo dõi và có
những đánh giá để có những điều chỉnh kịp thời, tránh sự chệch hướng kế
hoạch đã đề ra và để có thể giải quyết những vướng mắc.
V. Một số điều kiện đảm bảo chất lượng lập kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
1. Chất lượng nguồn lực con người cho công tác lập kế hoạch.
Kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp cũng là một sản phẩm trí sáng
tạo của con người, chính vì thế yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất
Phân
tích
môi
trường
Nhiệm
vụ và
mục
tiêu
Kế
hoạch
chiến

người có ý nghĩa quyết định sự đảm bảo cho chất lượng bản kế hoạch.
2. Sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng.
Mối quan hệ giữa các phòng ban có ảnh hưởng không nhỏ tới các công tác
diễn ra trong doanh nghiệp. Việc thu thập được các thông tin từ các phòng
ban trong doanh nghiệp cho sự đánh giá chính xác về nội lực của doanh
nghiệp. Nó quyết định tới việc đưa ra các mục tiêu và thực hiện các mục tiêu
đó của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quyết
định bởi các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp có trôi chảy hay không?
Chỉ cần vướng mắc ở đâu đó sẽ có ảnh hưởng tới các hoạt động khác của
doanh nghiệp, qua đó tác động tới hoạt động tổng thể của cả doanh nghiệp.
Chính các hoạt động hỗ trợ lẫn nhau của các phòng ban sẽ tạo nên sức mạnh
tinh thần trong hiện thực hoá các mục tiêu của doanh nghiệp. Mặt khác, sự
hiểu biết về nội bộ doanh nghiệp sẽ cho biết rằng các mục tiêu của doanh
nghiệp đã đề ra có khả thi hay không?
3. Đảm bảo về tài chính.
Mọi hoạt động trong doanh nghiệp đều cần có ngân sách để thực hiện,
ngân sách như là dòng máu giúp các bộ phận của doanh nghiệp có thể được
20
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
tiến hành. Đồng thời nó còn có ý nghĩa liên lạc giữa các hoạt động đó do tất
cả chịu sự chi phối của giới hạn ngân sách của doanh nghiệp.
Sự đảm bảo về tài chính giúp cho các hoạt động của công tác kế
hoạch có thể được tiến hành, qua sự tác động tới các hoạt động như thu thập
thông tin, tổng hợp số liệu, nghiên cứu thị trường… nó sẽ ảnh hưởng tới chất
lượng của bản kế hoạch, các mục tiêu của kế hoạch doanh nghiệp. Chính sự
ảnh hưởng này sẽ quyết định tới khả năng thực hiện các mục tiêu mà kế
hoạch đã đề ra.
4. Thông tin và các điều kiện vật chất đi kèm.
Các hoạt động thu thập thông tin đóng vai trò là các hoạt động tạo
nguồn cho công tác kế hoạch. Khi có được thông tin đầy đủ về các yếu tố

Chức năng: sản xuất và mua bán dược phẩm, vật tư, thiết bị y tế.
- Ngày 27/09/1999: Cổ phần hoá thành Công ty cổ phần dược và thiết
bị vật tư y tế GTVT.
Chức năng:
Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu: Dược phẩm, mỹ phẩm, nguyên
liệu hoá dược, vật tư và thiết bị y tế, thực phẩm chức năng, rượu, bia, nước
giải khát.
Thu mua, nuôi trồng, chế biến dược liệu.
22
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
Tư vấn sản xuất, dịch vụ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ
trong lĩnh vực y, dược.
- Ngày 05/07/2001: Đổi tên thành Công ty cổ phần Traphaco.
Chức năng:
Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu: dược phâmt, mỹ phẩm, nguyên
liệu hoá dược, vật tư và thiết bị y tế, thực phẩm chức năng, rượu, bia, nước
giải khát.
Thu mua, nuôi trồng, chế biến dược liệu.
Tư vấn sản xuất, dịch vụ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ
trong lĩnh vực y dược.
2. Tổng quan về tổ chức của công ty Traphaco.
Trong lịch sử phát triển của mình, tên gọi và tổ chức của Traphaco đã
có nhiều thay đổi. Từ khi chuyển sang là một doanh nghiệp cổ phần hoá, cơ
cấu tổ chức của Traphaco ngày càng được hoàn thiện và chặt chẽ.
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức của công ty Traphaco.
23
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
Dựa vào sơ đồ trên chúng ta có thể nhận thấy rằng tổ chức của
Traphaco là khá chặt chẽ và hợp lý, các phòng ban trong công ty có mối liên
hệ với nhau khá tốt để chỉ đạo sản xuất và thực hiện các kế hoạch. Dưới sự

lãnh đạo của cấp trên các phòng ban luôn giữ mối quan hệ với nhau chặt chẽ
để theo dõi những diễn biến thường xuyên trong công ty, từ đó có những chỉ
đạo kịp thời tránh được những sự cố. Chính cơ cấu tổ chức hợp lý trên là
một yếu tố mang lại thành công cho Traphaco trong những năm vừa qua.
3. Kết quả kinh doanh của Traphaco trong những năm vừa qua.
3.1. Thành tựu đã đạt được của Traphaco trong thời gian qua.
Trong vài năm vừa qua Traphaco luôn giữ được tốc độ tăng trưởng rất
cao, luôn từ 25 – 35%, chính điều này đã giúp doanh nghiệp nâng cao năng
lực của mình, giúp cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên.
Bảng 2.2. Doanh thu của Traphaco trong những năm qua
Năm 2004 2005 2006 2007
Doanh thu 242 303 409 532
Nguồn: Phòng Kế hoạch Đơn vị: tỷ đồng
Chúng ta nhận thấy rằng công ty đã có những thành công xuất sắc
trong kinh doanh với doanh thu tăng liên tục với tốc độ rất cao trong những
năm vừa qua. Thành tựu này có được là do nỗ lực rất lớn của tất cả tập thể
doanh nghiệp. Theo đánh giá của Bộ Y Tế thì Traphaco là một trong những
doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng các sản phẩm mới được tung ra nhiều
nhất, ước tính hàng năm trung bình Traphaco cho ra mắt 20 sản phẩm mới,
đến nay công ty đã được cấp phép cho 231 sản phẩm.
Trong những năm vừa qua, công ty cũng liên tục nhận dược sự khen
ngợi và các danh hiệu cao quí từ Nhà Nước và công chúng:
- Năm 2002 được tặng “ Huân chương lao động hạng ba” của Chủ tịch
nước CHXHCN Việt Nam.
- Năm 2005 đạt danh hiệu “ Doanh nghiệp vì sự tiến bộ của phụ nữ” -
giải thưởng Kovalevskaia cho tập thể khoa học nữ Traphaco.
25
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
- Từ năm 1998 – 2007, 10 năm liền đạt danh hiệu “ Hàng Việt Nam
chất lượng cao” do người tiêu dùng bình chọn.

trên thế mạnh của mình. Traphaco xác định không dồn lực vào lĩnh vực tây
dược, không phải điểm mạnh của doanh nghiệp.
Quá trình phân tích môi trường của Traphaco có điểm tốt là đã xác
định hướng phát triển dựa vào xu hướng phát triển chung của thị trường,
công ty luôn cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng thay đổi
theo xu hướng chung là chăm sóc cho sức hàng ngày theo cách giản đơn với
các sản phẩm dễ sử dụng.
Việc tiến hành phân tích các điều kiện của nội bộ doanh nghiệp sẽ
giúp doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về khả năng của mình, giúp cho các
mục tiêu xác định có cơ sở để thực hiện hơn.
Tuy nhiên trong quá trình quan trọng này Traphaco và cũng như hầu
hết các doanh nghiệp khác, chưa dự đoán được qui mô và triển vọng của thị
trường. Điều này là nguy hiểm khi mà sản xuất của doanh nghiệp lại chỉ dựa
trên phát triển của những năm trước, nếu như có những biến động trong thị
trường thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thực hiện các kế hoạch của
mình.
2. Xác định các mục tiêu.
Trong bước này doanh nghiệp cần định ra các điểm đến mà mình
mong muốn đến trong tương lai, Traphaco mới xác định các mục tiêu ở dạng
định tính như là:
Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam về Sản xuất - Phân phối - Kinh
doanh dược phẩm cho đến năm 2012.
Mục tiêu cụ thể:
27
GVHD: Ths. Vũ Cương Bản thảo chuyên đề thực tập
1. Đảm bảo tốc độ tăng trưởng doanh thu từ 30-35%/năm. Đạt hiệu
quả tối đa về kinh tế và xã hội.
2. Hợp tác quốc tế xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp đạt
tiêu chuẩn GDP, tăng cường xuất nhập khẩu.
3. Thành lập trung tâm nghiên cứu hướng tới liên doanh thành lập các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status