Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế (VIB BANK) - Pdf 12


TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
FOREIGN
TRO DE
UNIVEREITY
KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đê
tài:
HOẠT
ĐỘNG BẢO HIỂM
TIÊN Gửi TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN QUỐC
TE (VIB
BANKỈ
Sinh
viên thực hiện
:
Nguyễn
Diệu
Hằng
Lớp : Pháp 1 - K40 •
KTNT


Tổ
chức
Bào
hiểm
tiền gửi Việt Nam 3
li
Giới
thiệu
chung
về
bảo
hiểm
tiền
gửi
(BHTG)
3
1.1 Khái niệm BHTG 3
\.2VaitròcủaBHTG 5
li/ Bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 7
2. Ì Sụ cấn thiết của hệ thống bảo hiểm tiên gửi tại Việt Nam 7
2.2 Tổ chức Bảo hiểm tiên gửi Việt Nam (BHTGVN) 12
2.2. Ì Lịch sử phát triển của Tổ chức BHTGVN 12
2.2. Ì. Ì Quá trình hình thành Tổ chức BHTGVN 12
2.2.
Ì
.2
Những
mốc
quan

hoạt
động
của
tổ
chức
BHTGVN
19
2.2.2 Chức năng vù nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ chức BHTGVN 21
2.2.3 Quy tắc hoạt dộng của Tổ chức BHTGVN 24
Chương li: Bảo
hiểm
tiền
gửi
tại
Ngân hàng Thương
mại
cổ
phán
Quốc
tế
(VIB Bank) 34
li
Giới
thiệu
VIB
Bank
34
Ì.
Ì Quá trình thành lập và phát triển
34

IV/
Thực
trạng
hoạt
động
Bảo
hiểm
tiền
gửi
tại
VIB
Bank
49
4. Ì Những nghĩa vụ khi tham gia tổ chức BHTGVN 49
4.2 Những nét chính trong hoạt động Bảo hiểm tiền gửi tại VIB
Bank 51
Chương
IU:
Một
số
giải
pháp và kiên
nghị
53
ì/
Định
hướng
phát
triển
53

KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
^/ttìá
/í/ậtt
/đĩ /lự/ùêp
nguyễn
Biêu
lịằng
LỜI
MỞ ĐẦU
Thế giới đã và đang biến đổi không ngừng với những thành tựu vượt bậc về mặt
kinh
tế-Chính
trị-xã
hội,
khoa
học
kỹ
thuật
và công
nghệ.
Cùng
với
những
tiến
bộ chung
cởa nền
kinh
tế thế
giới,

la đã đạt
được
những
tiến
bộ hết sức
đáng khích
lệ
trong
công
cuộc
xây
dựng

phát
triển
trên
mọi
phương
diện
cởa
đời sống.
Có được những thành lựu đó chúng ta không thế không nói đến những nỏ lực
trong
phái
triển
kinh
tế,
trong
việc
tập


việc
làm này
càng
quan
trọng
hơn
trong
công
cuộc
công
nghiệp
hoa -
hiện
đại
hoa đất
nước
hiện
nay.
Chúng la

thể
huy
động
vốn
từ
rất
nhiều
nguồn
khác nhau,

trương phát
huy
nội lực
nhằm
phái
triển
kinh
tế
trong
thời
đại
mới và
nhiệm
vụ này
được
giao
cho các
ngân hàng
và quỹ
tín
dụng
nhân
dân, các tổ
chức
này là nơi tập
trung
nguồn
vốn
nhàn rỗi
từ các

tiền
dù là
bằng cách
này hay
cách khác.
Họ
có thể tự
nâng
cao
năng
lực
lài
chính
và uy tín cởa
mình,
từng
bước
tạo
lòng
tin
cho
người
gửi
tiền.
Tuy
nhiên
bên
cạnh
đó
người

chi trá
I
nguyễn Điệu nàng
cũng
như bị phá
sản.
Làm được
điều
này không
những
các tổ
chức
huy
dộng
tiền
gửi

thể
phần
nào yên tâm hơn vê
những khoản
tiền
của khách hàng mà
chính
những người gửi
tiền
cũng
an tâm hơn về
khoản
tiền

Bảo
hiểm
tiền
gửi là một khái
niệm
còn rất mới đối với rất
nhiều
người
và đối
với
cả nền tài chính
Việt
Nam mặc dù nó đã
xuất
hiện rất
lâu trên
thế
giới,
chính vì vậy
khoa
luận
này
với
một quy mô còn nhỏ hẹp nhưng
cũng
mong
muốn được trình bày sơ qua về bảo
hiểm
tiền
gửi

gửi
tại
Việt
Nam - về
việc Việt
Nam đã xây đựng hệ
thống
bảo
hiểm
tiền
gửi
của
mình như
thế
nào và
nhận
thức
của các
tổ chức tham gia
bảo
hiểm
tiền
gửi

Việt
Nam, cớ
thể
là của ngân hàng Thương mại cổ
phần
Quốc

kiến
nghị
2
3Z/r0á
/t/ậ/t
/ti/ /tự/r/êfi
nguyễn Điệu Tịằng
CHƯƠNG
ì:
NHỮNG
VÂN ĐỂ
cơ BẢN

BẢO
HIỀM
TIÊN
GỬI
VÀ TỔ CHỨC BẢO
HIỂM
TIỀN
GỬI
VIỆT
NAM
li
Giới
thiệu
chung
về bảo
hiểm
tiền

tế thế giới
và khách
quan
đòi
hỏi
sự
ra đời
của
một
tỳ
chức
bảo
hiểm
chuyên trách về
tiền gửi.
Ngày
nay,
đã có
rất
nhiều
quốc
gia
xây
dựng
cho mình một hệ
thống
bảo
hiểm
tiền
gửi vững chắc

được rõ ràng và đầy
đủ
nhất
nội
dung

các mặt
hoạt
động của
bảo hiểm
tiền gửi:
Trong
cuốn
"Từ điển
Kinh
tế
Oxford"
xuất
bản
năm
1997
tại
NevvYork, John
Black
định
nghĩa rằng:"Bảo hiểm
tiền gửi

dịch
vụ

1
lại đưa ra
định
nghĩa:
"Bảo
hiểm
tiền
gửi
bảo
vệ
những khoản
tiền gửi
quy định
tại
các
tỳ chức
thành viên của hệ
thống
Bảo
hiểm
tiền gửi
trong
trường hợp
lỳ
chức
thành viên bị
phá
sản.
Nếu
một tỳ

ở cả
hai
định
nghĩa
chúng
ta
đểu
thấy
được trách
nhiệm
cua một tô
chức
trung
gian
-
tổ chức
bảo
hiểm
tiền
gửi đối với
những
khoán
tiền
gửi
của
khách hàng
tại
các
tổ chức
huy động

BHTG
nhưng đã nêu
rõ mục đích
của
hoạt
động Bảo
hiểm
tiên
gửi
tại
Việt
Nam như
sau:
"Hoạt
động
Bảo
hiểm
tiền
gửi
tại Việt
Nam nhằm bảo về
quyền

lợi
ích hợp pháp của
ngưằi
gửi
tiền,
góp
phần

bảo
hiểm
trách
nhiệm
dân sự
của
các
tổ
chức
huy động
tiền
gửi
đối
với
ngưằi gửi
tiền.
Trong
những
trưằng hợp như mất khả năng
thanh
toán,
phá
sản,
thì
ngưằi
bảo
hiểm
sẽ có trách
nhiệm đối với
những

không kỳ
hạn;
tiền
gửi
không kỳ
hạn,
ngoài
ra
các
loại tiền
khác như
tiền
đầu tư thì không
thuộc
phạm
vi
điều
chỉnh
của nó. Ớ
Việt
Nam
có quy định
rằng
khoản
tiền
gửi
này
phải
là đồng
Việt

Diệu
I)ằng
-
Người
hưởng
lợi
bảo
hiểm

người
gửi tiền tại
các
tổ
chức
tham
gia
báo hiêm.
Người
hưởng
lợi
không
phải
trực
tiếp
mua bảo
hiểm,
chỉ cần họ
tham
gia gửi
tiền tại

chức
tham
gia
bảo
hiểm
tiền gửi
đó.
1.2 Vai trò của BHTG
Mặc dù
ra đời
muộn
hơn
rất
nhiều
so
với
lịch
sử phát
triển
của các Ngàn hàng
thương
mại,
nhưng
ngay
từ khi
xuất
hiện,
Bảo
hiểm
tiền gửi

của
thế
kỷ trước. Nói
chung,
hoạt
động
bảo
hiểm
tiền gửi
đóng
hai vai
trò chính sau đây:
- Bảo hiềm
tiền
gửi tạo lập
và duy
trì
niềm
tin
của công chúng vào ngành
ngàn hàng
Thông qua
việc
bảo
hiểm
có mức độ
đặi với tiền gửi
của công chúng
trong
hệ

thực
hiện
được
chức
năng
trung
gian
tài chính một cách tích
cực.

thế
khẳng
định
lại
rằng
bảo
hiểm
tiền gửi
là nhàn
tặ
cực kỳ
quan
trọng
trong
việc
duy trì
niềm
tin
của công chúng vào hệ
thặng

làm sao huy động
được
sặ
tiền
mình
mong
muặn
nhằm đạt được mục đích và kế
hoạch
riêng
nhưng không
phải
tổ
chức
nào
cũng
làm được điều đó vì nó không
xuất
phái từ
5
^/t/ĩá
/líậ/t
/tỉ/
ểtự/t/fft
ĩỉgưyẻn Điệu Tịằng
ý muốn chủ
quan
của bản thân ngân hàng mà nó còn phụ
thuộc
rát lơn vào tam

cạy đế
giao
phó
khoản
tiền
đó.
Thế nào là một cơ sở đáng
tin
cạy
cũng
là một
điều
đáng bàn cãi.
Người gửi
tiền
không
phải
lúc nào
cũng

người
biết
rõ về các tổ
chức
tài
chính,
tín
dụng,
đôi
khi

hiểm.
Chính vì vạy
vai
trò của bảo
hiểm
tiền
gửi
là không
thể
thiếu.
- Bảo hiểm
tiền
gửi
giúp
ẩn
định
của hệ
thống
tài
chính
và ổn
định tăng
trưởng kinh

Thông qua các quy định an toàn và cơ chế giám sát hoạt động ngành ngân
hàng,
bảo
hiểm
tiền
gửi

trị
một cách
hiệu
quả
những
rủi
ro
xảy đến
với
mình, không cân
nhắc
kỹ
trước
những
khoản
đầu tư mạo
hiểm
thì ngoài sự đe dọa phá
sản,
một
nguy

lớn đối với
họ là sự
trừng
phạt
của
tổ chức
bảo
hiểm

việc
đánh mất đi
niềm
tin
từ
công chúng họ còn
phải
chịu
sự đề phòng của cả hệ
thống
ngân hàng, tài
chính
-
tiền
tệ.
6
_~ĩ?/ỉtư/ ///Ợề/ /đĩ/ỉự/t/ệp
nguyễn
Diệu I)ằng
Với
nguồn lực
là quỹ bảo
hiểm
tiền
gửi
đủ khả năng can
thiệp
kịp
thời
khi

chức
ngân hàng gặp
rắc
rối.
Khi
các
tắ chức nhận
tiền
gửi
tham
gia
bảo
hiểm
lâm
phải
tình
trạng
quẫn
bách về mặt tài
chính,
mất khả
năng
chi trả
hay phá sản thì
điều
quan
trọng
và cần
thiết


xấu đến toàn hệ
thống.
Một
khi
có khó khăn xảy
ra,
nguôi rút
tiền
đồng
loạt
sẽ làm cho hệ
thống
ngân hàng
không còn khả năng
chi
trả
bởi
chúng
ta
biết
hoạt
động của ngân hàng liên
quan
đến
việc
quay
vòng
vốn,
tiền
của chúng

điều
không
thể đối với
bất
cứ một ngân hàng
nào. Khi
đó, sự giúp sức của bảo
hiểm
tiền
gửi
là một cứu cánh, một
lối
thoái
mà chính bản thân các ngân hàng có
thể tự
xây
dựng
để bảo đảm cho mình.
Có thể nói
rằng những
đóng góp của bảo
hiểm
tiền
gửi cho sự ắn
định,
lành
mạnh
của ngành ngân hàng và nền tài chính là không
thể
phủ

Điệu
lịằng

tổ
chức
tín dụng dược phép
thực
hiện
một số
hoạt
động ngàn hàng
theo
quy
định của
Luật
các
tổ
chức
tín dụng có nhận
tiền gửi
của cá nhàn
phải
tham
gia
bảo
hiểm
tiền gửi bắt
buộc".
Quy định này
chứng

giúp
tạo
tâm

an
tâm,
bên vững cho người
giá
tiên,
không để
xảy ra
những cảnh hoảng loạn do việc người
gửi
tiền đóng loạt đổ

đến rút
tiền ở
các
ngàn hàng
Trước
hết
phải
nói đến
thực
tiễn
tình hình
đất
nước
ta,
chính sách


tinh
thần
của nhân dán ngày càng được
cải
thiện.
Trước đây họ chỉ
lo
ăn
từng
bữa,
nay đã có của ăn của
để,
theo
đó nhu
cầu
dự
trữ của cải
ngày càng
tăng.
Cũng vì vậy họ cần tìm
kiếm
một nguồn
giữ
tiền
ổn
định,
an toàn để
giao
phó


nước
ta
mà ở
tất
cả các nước trên
thế giới, tuy
nhiên
cũng
phải
nói
rấng
đây là mội vấn để
rất
quan
trọng
đối với
người
gửi liền

nước
ta bởi:
người
gửi tiền
nếu

cá nhân thì đa số họ đều là
người
lao
động và

vì đa số
hoạt
động
kinh
tế của
nước
ta
đều là
8
^/tĩtỉí
/tỉậ/t

tỉịf/t/êft
Rguyễn
Diệu
í}àng
của
các
doanh
nghiệp
vừa và
nhỏ,
chưa có một
tổ chức
nào
lớn
mang tính tập
đoàn và số
tiền
họ

khi
không rút được
tiền
họ đã gây sức ép
với
các cơ
quan quyền
lỹc
hữu
quan
đòi được
chi trả
số
tiền
họ đã
gửi
vào các Quỹ tín
dụng.
Tiếp theo
đó,
người
dân
Việt
Nam đã
chứng
kiến
một
cuộc
đổ vỡ dây
chuyền

gửi
vào các Quỹ tín
dụng

tất
yếu là họ
mất
dần
niềm
tin
vào các Quỹ tín
dụng
nói riêng và vào hệ
thống
ngân hàng
Việt
Nam nói
chung. Khi
đó
rất
nhiều
người
có một ước muốn
chung
là giá như
chúng
ta
có được một cơ
quan
đứng

năm
2000,
trong
loàn hệ
thống
ngân hàng có
nhiều
Tổ
chức
tín
dụng
(TCTD) đặc
biệt
là các Quỹ tín
dụng
nhân
dân (được xây
dỹng
lại
từ
năm
1993)
đã nằm
trong
tình
trạng
kiếm
soát đặc
biệt;
nhiều

kỳ lúc
nào, tạo
nên
những
bức xúc
trong
ngành ngân hàng và một số
địa
phương.
Thêm
nữa,
nói đến sỹ phát
triển
kinh tế,
chủ trương Công
nghiệp
hoá-Hiện
đại
hoa đất
nước đòi
hỏi
chúng
ta phải
có được
nguồn
vốn đầu tư
lớn,
chúng
ta
phái

nguồn
vốn
trong
nước.
Điều
này hoàn toàn

thể
làm được nếu như các
tổ
chức
và cá nhân có
tiền

thừa
có lòng
tin
vào
nơi mình
gửi
tiền,
yên tâm về
lợi
ích của mình
ngay
cả
trong
nhễng
trường hợp
xấu

rất
dễ xảy
ra
uy
hiếp
đến tính an toàn
của
toàn hệ
thống
kinh tế
tài chính.
Trong
các
hoạt
động của ngân hàng thì tín
dụng
là một
hoại
động
phát
triển
khá
mạnh
mẽ. Mặc dù
hoạt
động tín
dụng
đem
lại lợi
nhuận

hại
vé tài
sản, thu
nhập
làm cho các ngân
hàng
bị
thua
lỗ,
thậm
chí phá
sản.
Theo các chuyên
gia
ngân hàng của
ASEAN
thì
rủi
ro
trong
ngành ngân hàng, đặc
biệt

rủi
ro tín
dụng,

nỗi lo
thường
trực

Hệ
thống
các
giải
pháp đó được hình thành
rất
khoa
học.
Để có
thể
phòng
ngừa
hoặc
kiểm
soát
rủi
ro,
người
ta xây
dựng
một hệ
thống
chí tiêu
kinh tế,
được sử
dụng
như một
thước
đo mức độ
rủi ro,

nghiệp
vụ như một công cụ để xứ

bằng
cách trích
từ chi
phí
nghiệp
vụ để phòng
ngừa
rủi ro.
Với các
khoản
trích này được tích
lũy trong
một
thời
gian,
đã giúp ngân hàng có đủ
nguồn
lực
10
yí/ỉrưí ///rít/
tói
f tự/t/êfi
nguyễn
Diệu
ĩịàng
vật
chất

thể,
một lúc nào
đấy,

một
ngân hàng nào đó, do
điều
hành chưa
tốt
hoặc
do một lý do nào đấy nên
khả
năng
thanh
toán bị đe doa
hoặc
mất khả năng
thanh
toán,
lúc đó không
thể
tự
mình có đủ
lực
để
thực hiện chi trả
cho
ngưừi
gửi,
cần có sự hỗ

ra
đừi
sẽ hỗ
trợ
cho ngân hàng
khi
tình
huống
xấu xảy
ra.
Thêm nữa, mót thực tế đang tồn tại ở nước ta là sự yếu kém của hệ thống ngân
hàng: sự
thiếu
ổn định về
chất
lượng
kinh
doanh cũng
như tính dể bị
tổn
thương
của
hệ
thống
Ngân hàng
khi
xảy
ra
sự đổ vỡ
của

kém,
bất
cập này
tồn
tại
trong
tất
cả các
loại
hình
tổ
chức
tín
dụng,
đặc
biệt
là hệ
thống
Quỹ tín
dụng
nhãn dân và các ngân hàng thương mại cổ
phần.

một
thực tế

chính bản thân
nhiều
vị
lãnh đạo ngân hàng

quyền
lợi
của
ngưừi
dân nói
chung

quyền
lợi
của họ
trong lĩnh
vực
tiền
gửi
nói riêng là yêu cầu
đặt
ra đối với
Nhà
nước
nhưng chưa có
tổ chức
nào
chịu
trách
nhiệm
trực
tiếp
đế
tham
gia


nhà
nước

hoạt
động
kinh
doanh.
Đứng
trên giác độ bảo vệ
ngưừi
gửi
tiền,
tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi
sẽ
theo
sát dòng
tiền

ngưừi
gửi lựa
chọn
các
tổ
chức

động đến các
giai
đoạn
phát
triển
hay
suy
thoái,
nếu
việc
duy
trì
mô hình ban đầu không còn thích hợp
(phữi
sát
nhập
hay
bị mua
lại)
thậm
chí có trường hợp suy yếu đến mức
phữi
giữi
thể
hoặc
phá
sữn
thì đều có
vai
trò và trách

phù hợp
với
hoàn
cữnh
của
đất
nước và yêu cầu của sự phát
triển.

quan
đó là
BHTGVN.
2.2 Tổ chức Bảo hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam
(BHTGVN)
2.2.1
Lịch
sử phát
triển
của Tổ chức
BHTGVN
2.2.1.1 Quá trình hình thành Tổ chức BHTGVN
Sự đổ vỡ của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân vào cuối những năm 80 và đầu
những
năm 90 của
thế
kỷ trước đã để

gửi
nhằm bữo vé
quyền
lợi
hợp pháp
của người
gửi
tiền,
góp
phần
duy
trì sự ổn định của các tổ
chức
tín
dụng,
đữm bữo sự phát
triển
an toàn lành
mạnh
hoạt
động ngân hàng.
Tuy nhiên, ý tưởng này ban đầu được hình thành một cách chậm chạp do những
hạn chế về
mặt
nhận (hức
nói
chung cũng
như
những
khó khăn về mặt

chính
ban
hành Quy
tắc
bữo
hiểm
trách
nhiệm
dân sự của quỹ tín
dung
nhân dân
đối
12
^/ttìá /HÓM /ái ttạ/t/êp
nguyễn Điệu
lịằng
với
các
khoản
tiên
gửi
có kỳ hạn và Bảo
Việt

tố chức
thực
hiện
nghiệp
vụ
này.

tổ chức
tín
dụng.
Sau
khi
nghiên
cứu
kinh
nghiệm quốc
tế,
những
thuận
lợi
- khó khăn của
Việt
Nam, tháng
5/1998
Thủ
tướng
Chính phủ đã có văn bản
giao
trách
nhiệm
cho Ngân hàng
Nhà nước
phối
hợp
với
các Bộ, ngành liên
quan

Ban trù bị thành
lập
Công
ty
Bảo
hiểm
tiền
gửi Việt
Nam, ban trù bị gồm
có:
Bộ
phận
thường
trực
có 3-5
người
do Vụ
trưởng-Trưởng
Ban trù bị chí đạo
điều
hành; Bộ
phận
kiêm
nhiệm
gồm: Ì lãnh
đạo cấp Vụ
thuộc
các đơn
vị:
Vụ chính sách

tướng
Chính phủ ban hành
Quyết
định số
218/1999/QĐ
-
TTg về
việc
thành
lập
Bảo
hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam.
13
ĩỉguỵẽn Điệu
lịàng
- Ngày
07/7/2000,
Bảo
hiếm
tiền
gửi
Việt
Nam
chính
thức khai
trương

trong
lo
năm
tới.
2.2.1.3 Những
nét
chính
qua 5 năm
hoạt
động
của Tổ
chức
BHTGVN
Đến nay, tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam đã
hoạt
động được
5 năm và đã

những
bước
khấi
sắc đáng khích
lệ.

của Tô
chức BHTGVN.
Nhận
thức
được
tầm
quan
trọng
của
công
tác này,
trong
giai
đoạn
đầu tổ
chức
BHTGVN
tập
trung
sức
lực

trí tuệ
cho
hoại
động
này và đã đem
lại
kết
quả.

tổ
chức
BHTGVN
đã dốc toàn
lực
lượng cho
việc
xét cấp
giấy
chứng
nhận
BHTG
cho các
tổ
chức
tín
dụng.
Những
hoạt
động
đó
bước đầu
đem
lại
lòng
tin
trong
dân
chúng
gửi

tỉnh,
thành phố
như:
Kiên
Giang,
Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình,

Tây,
Long
An,
Nam
Định

những
nơi

tổ
chức
tham
gia
BHTG
bị
giải
thể
để
chi trả
tiền
gửi
được
bảo

luật,
góp
phấn
ngăn
chặn
nạn rút tiên
õ
ạt
đo
tam
ly
noang
mang.
lo
sợ
gây
ra.

việc
cấp và thu
hồi
giấy
chứng nhận BHTG:
Việc
cấp và thu hồi
giấy
chứng nhận
BHTG đã
được
các đơn vị

hiểm
tiền
gửi
cho 1071
tổ chức
tín
dụng

tổ chức
không
phội
là tổ
chức
tín
dụng
3
được phép
thực
hiện
một số
hoạt
động ngân hàng
theo
quy định
của Luật
các
tổ chức
tín
dụng,
hoạt


ngoại
hối
của
Nhà
nước.
Tuy
nhiên,
do
trong
quá
trình
hoạt
động
một số lổ
chức tham
gia bộo
hiểm
tiền
gửi
mất khộ năng
thanh
toán và
bị

quan
Nhà
nước

thẩm quyền ra

dụng
đã
được tổ
chức
BHTGVN
cấp
giấy
chứng nhận
BHTG là 974 đơn vị,
trong
đó:
5
ngân hàng thương mại
Nhà
nước,
33 ngân hàng thương mại cổ
phần,
28
ngân hàng nước ngoài

ngân hàng liên
doanh,
5
công
ly
tài chính
và 903
quỹ
tín
dụng

giấy
Chứng
nhận
BHTG để
nâng
cao
niềm
tin
cho
người gửi
tiền.
1
Nguồn:
website
Tổ
chức
Bộo
hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam:
www.div.gov.vn
4
Theo
bài
viết
"BHTG-5 năm
xây
dựng

trong
vực
chấp
hành
các
quy
định
về
BHTG

đảm
bảo an
toàn trong hoạt
động ngàn
hàng.
Công tác
này
cũng
rất
được
chú
trọng
tại
Tổ
chức
BHTGVN và nó
ngày càng
thể
hiện
tính chuyên

tổ
chức tham gia
BHTG,
tổ
chức
hướng
dẫn,
triển
khai
thảc
hiện
trong
toàn hệ
thống.
Thông qua các
báo
biểu
của các
tổ chức tham gia
BHTG
gửi
đến,
để
khai
thác, phân
tích,
đánh giá
trẽn
các chỉ số chủ yếu như:
nguồn

trong
hoạt
động
Ngân hàng.
Mạt
khác,
Tổ
chức
BHTGVN còn xem xét so
sánh,
tiến
độ
chấn
chỉnh, khắc phục
các
sai
phạm
tồn
tại
của các đơn vị
đã
được
tổ chức cảnh
bảo
lần
trước.
Các chí
tiêu giám sát được
xây
dảng

thòi,

trọng
tâm,
trọng
điểm

đưa
ra
các
cảnh
báo cần
thiết
đối
với
tổ chức tham
gia
bảo
hiếm
tiền
gửi.
-
Hoạt
động
kiểm
tra tại chỗ
được
tiến
hành
sau khi có

cáo.
Chỉ có
tiến
hành
kiếm
tra
trảc
tiếp
mới xác định đúng
thảc
trạng
hoạt
động của
tổ
chức tham
gia
bảo
hiểm
tiền
gửi.
Tổ
chức
BHTGVN đã
phối
hợp
chặt
chẽ
với
Ngân hàng
Nhà

chỗ
đối
với
các
tổ chức tham
gia
bảo
hiểm
tiền
gửi.
Việc
kiếm
tra
các
tổ chức
tín
dặng
thực
hiện
các quy định của pháp
luật
về bảo
hiếm
tiền
gửi

quy định
an
toàn
trong

tra,
giám sát của
tổ chức
BHTGVN đã góp
phần quan
trọng
vào
việc
củng
cố
hoạt
động của các
tổ chức tham gia
BHTG,
báo
đám
sự phát
triển
an toàn lành
mạnh
hoạt
động ngân hàng.
Vé công tác thu phí BHTG, quản lý và đấu tư vốn nhàn rỗi:
Công tác
thu
phí
BHTG
đối
với
các

qua
các
tổ chức tham
gia
bảo
hiểm
tiền
gửi
nộp đầy
đủ và
đúng
thời
gian
quy
định.
Số phí
BHTGVN
thu
được
từ
các
tổ chức iham gia
bảo
hiểm
tiền
gửi
năm
sau
tăng so
với

bảo
hiểm
tiền
gửi,
hạn chế
tới
mức
thấp nhất
việc
bao cấp từ
Ngân sách
Nhà
nước.
Mặc dù là tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động không vì mặc tiêu lợi nhuận
nhưng
Tổ
chức
BHTGVN
luôn tìm

thực
hiện
các
giải
pháp
tốt
để
tăng
cường
năng

website
Tổ
chức
Bảo
hiểm
tiền
gửi
(www.div.gov.vn)
ũ
Theo
thống
kê hàng
năm
trên
website
Tổ
chức
BHTGVN
17
J
0' J

ỉ.
J£££~'
l
/l/ậtt
/ói
/tự/t/sp
nguyễn
Điệu

vốn
qua
thanh
lý các tô
chức
tham
gia
BHTG
bị
giải
thể,
phá
sản.
Khi
tổ chức tham gia
bảo
hiểm
tiền
gửi
bị mất khả năng
thanh
toán và bị

quan
Nhà nước

thẩm quyền

văn bản chấm dứt
hoạt

giữ
ổn định các
tổ chức
tín
dụng
tại
Viữt
Nam, không để đổ vỡ
ngoài tầm
kiểm
soát.
Tổ
chức
BHTGVN
đã
thực
hiữn chi trả
tiền
được bảo
hiểm
cho
1475
người
gửi
tiền tại
33
QTDND
cơ sở
với
số

tiền
trải
rộng
trên địa bàn
nhiều
tỉnh
và liên
tục trong
5 năm qua đã
thực
sự đi vào
tiềm
thức
của
người dân,
góp
phần củng
cố lòng
tin
của
người
dân
đối với
hoạt
động
ngân
hàng,
đặc
biữt


của
người
dân
đối
với
chủ
trương,
chính sách củ
Đảng
và Nhà
nước,
thực
sự đã
góp
phần
thực
hiữn
thành công
chỉ
thị
56/CT-TW
của Bộ chính
trị
về
củng
cố,
hoàn
thiữn
và phát
triển

bài
viết
"BHTGVN-những
thành công

thách
thức"
của
Phó
Tổng
giám
đốc
BHTGVN
trẽn
website
tỏ
chức
RHTGVN
18
nguyễn Điệu I}àng
QTDND và góp
phần
quan
trọng
đế
giữ
vững
an
ninh,
chính

bị
giải
thế.
thông qua
đó
cũng
đã
thu hồi
được
tổng
số
tiền
là 15,1
tỷ
đổng,
đạt
30%
tổng
số
phải thu.
Tổng số
chi
thanh
toán cho các chủ nợ và
chi
phí
thanh
lý là 11.7
tỷ
đồng,

. Kết
quả này
trong
thời
gian
qua là chưa
cao.
- Công tác hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham gia BHTG cũng được tích cực
nghiên
cứu,
xây
dựng
đề án để sớm
triển
khai;
các
hoạt
động
nội
bộ
như công
tác kế toán-tài chính,
xây
dựng

bản,
công
nghệ
thông
tin,

của Bảo
hiểm
tiền
gửi
Việt
Nam.
- Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về Bào hiểm
tiền
gửi.
-
Nghị định
số
109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005
của
Chính
phủ về
việc
sửa đổi,
bổ
sung
một số
điều của Nghị định
số
89/I999/NĐ-CP ngày
01/9/1999
của
Chính phủ về Bảo
hiểm
tiền
gửi.

nguyễn Điệu I}àng
-Quyết
định
số
75/2000/QĐ-TTg ngày
28/6/2000
của
Thú tương
Uiinn
pnu ve
việc ban
hành
Điều
lệ tổ
chức

hoạt
động
của
Bảo
hiểm
tiền
gửi Việt
Nam.
- Quyết định số 145/2000/QĐ-TTg ngày 19/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về việc
ban hành Quy
chế
quản
lý tài chính

-
Thông
tư số
03/2000/QĐ-NHNN5 ngày
16/3/2000
của
Thống
đốc Ngàn hàng
Nhà nước
hướng
dẫn
thi
hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày
01/9/1999
của
Chính phủ
về
Bảo
hiểm
tiền
gửi.
-
Quyết
định số 1077/2001/QĐ-NHNN ngày
27/8/2001
của
Thống
đốc Ngân
hàng Nhà nước về
việc

hiểm
tiền
gửi Việt
Nam:
-
Quyết
định số 172/2001/QĐ-BHTG ngày
24/8/200!
của
Tổng
Giám đốc Bảo
hiểm
tiền
gửi Việt
Nam
về việc
ban hành Quy
chế
làm
việc của
Tổng
giám đốc
Bảo
hiểm
tiền
gửi Việt
Nam.
-Quyết
định số 01/2000/QĐ-HĐQT
của hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status