Dịch vụ hàng hải của công ty cổ phần đại lý hàng hải Việt Nam (VOSA) Thực trạng và giải pháp phát triển - Pdf 12


TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ Đối NGOẠI
KHOA
LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐẾ TẢI:
DỊCH VỤ HÀNG HẢI CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẠI LÝ HÀNG HẢI VIỆT NAM (VOSA):
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THI/ VIỄN

i'UÒ'.G
OA'
HÓC
NGOAI
IHUŨNŨ
LV 0'i.m
Hớ và tên sinh viên: Tạ Hải Hà
Lóp: Nga- F- Kinh tế đối ngoại
Khoa: 41
GV hướng dẫn: TS Trịnh Thị Thu Hương
Hà Nội, tháng
lũ năm
2006
MỤC LỤC
LỜI

Quá trình hình thành các
dịch
vụ hàng hải trên thế
giới
9
2.
Thực
trạng thị trường
dịch
vụ hàng hải thế
giới
10
3. Xu thế phát
triển
của
dịch
vụ hàng hải thế
giới
hiện nay
15
IU
Tổng
quan
về
dịch
vụ hàng hải Việt Nam
19
1.

lược

vụ hàng hải

nước
ta
hiện nay
26
CHƯƠNG
2:
TÌNH HÌNH KINH DOANH ĐÍCH
vụ
HÀNG HẢI CỦA
VOSA
32
ì Giới
thiệu
về Công
ty cổ
phần
đại

hàng hải VOSA
32
1.
Tên gội, biểu trưng và địa chỉ của Công ty
32
2. Vài nét về quá trình hình thành và phát
triển
của Công ty
33
3. Mô hình tổ

1.
Kết quả kinh
doanh
44
2.
Tinh
hình
tài
chính của Công
ty trong
5 năm
2001-2005
56
in
Đánh giá tình hình
kinh
doanh
dịch
vụ
hàng hải của
VOSA
Group
trong
5 năm
2001-2005
60
1.
Các yếu
tố
ảnh

HÀNG
HẢI ở VOSA 69
ì
Định hướng phát
triển
dịch vụ hàng
hải
69
1.
Định
hướng
của Nhà nước về phát
triển
dịch
vụ hàng
hải
69
2.
Định
hướng
phát
triển
của Công
ty trong
giai
đoạn
2005-2010
71
li
Một

2. Giải
pháp về giá cả
84
3. Giải
pháp về tài chính
85
4.
Giải
pháp về đẩu tư
86
5.
Giải
pháp về
tổ
chức
87
6.
Giải
pháp về
Marketing
87
7. Giải
pháp về con
ngưi
88
KẾT
LUẬN
91
TÀI
LIỆU

km
đường
bờ
biển
chạy
dọc
từ
Bắc vào Nam, có vị
trí
thuận
lẵi
nằm trên
tuyến
đường
hàng
hải
quốc
tế nối
liền
Ân Độ Dương
với
Thái Bình Dương và
những
ưu
thế
sẵn có khác đê phát
triển
vận
tải
biên, ngành hàng

hội
của
đất nước.
Dịch
vụ hàng
hải tuy
chỉ là một
lĩnh
vực nhỏ
trong
ngành hàng
hải
của
một quốc gia song
thiếu
các
dịch
vụ hỗ
trẵ
này, ngành vận
tải
biên của
quốc
gia
đó
cũng
không
thể
phát
triển

số
ít
các
doanh
nghiệp
đầu
tiên,
có quy mô
lớn
hoạt
động trên
thị
trường
dịch
vụ hàng
hải
nước
ta,
trải
qua gần 50 năm
với
không ít
những
thăng
trầm,
Đại
lý hàng
hải
Việt
Nam không chỉ đứng

ngày,
Việt
Nam ngày càng
hội
nhập
sâu hơn vào nền
kinh tế thế
giới,
đạc
biệt
chúng ta đã chính
thức
tham gia
vào "sân
chơi"
WTO, cơ
hội
cho các
doanh
nghiệp
Việt
Nam nói
chung cũng
như các
doanh
nghiệp
dịch
vụ hàng
hải Việt
Nam nói riêng mở

về các
dịch
vụ hàng
hải
của mình
trong
những
năm qua,
Ì
tổng kết thực
tiễn
để có
những
bước đi cần
thiết
cho sự phát
triển
trong
tương
lai.
2.
Mục
đích
của đề
tài
Thông qua
việc tổng
kết
các vấn
đề lý

hải
Việt
Nam,
trên

sở các phân
tích,
đánh giá
đó nêu
ra một số
biện
pháp
nhằm thúc đẩy
mạnh
mẽ
hơn sự phát
triển
cốa Công
ty trong
thời
gian
tới.
3.
Phạm
vi
nghiên
cứu của
đề
tài
Khóa

CP
do Chính phố ban hành ngày
19/03/2001)

đi sâu nghiên cứu
thực trạng
ở Công
ty
Cổ
phần Đại
lý hàng
hải Việt
Nam.
4.
Phương pháp nghiên
cứu
Khóa
luận
sử
dụng
phương pháp thông

kết
hợp
với
phương pháp
so
sánh,
phương pháp phân
tích,

Ì:
Tổng
quan
về
dịch
vụ hàng
hải
• Chương
2:
Tinh
hình
kinh
doanh dịch
vụ hàng
hải
cốa
VOSA
• Chương 3: Các
giải
pháp và
kiến
nghị
thúc đẩy phát
triển
dịch
vụ hàng
hải

VOSA
2

ngày nay, nền
kinh
tế
không chỉ đơn
thuần
với
các sản
phẩm
vật chất
cụ
thể,
mà bên
cạnh
đó còn
tổn
tại
các sản phẩm
dịch vụ.
Tổng
thu
nhập quốc
dân của một
quốc gia cũng
như
doanh
thu của một
doanh
nghiệp
không
thể

vởc
kinh
doanh

hiệu
quả cao và
trở
thành xu
thế
thời đại.
Vậy
dịch
vụ là gì ?
Theo
nghĩa
rộng,
dịch
vụ được
coi
là một ngành
kinh
tế thứ ba.
Theo
cách
hiểu
này thì các
hoạt
động
kinh
tê nằm ngoài

dịch
vụ bao trùm lên
tất
cả các
lĩnh
vởc
với
trình
độ
cao,
chi phối rất lớn
đến
từng
quốc
gia,
khu vởc nói riêng và toàn
thế
giới
nói
chung.
Dịch vụ không chỉ bao gồm
những
lĩnh
vởc
truyền
thống
như vận
tải,
du
lịch,

cũng

thể
nói, dịch
vụ là
kết
quả
mang
lại
nhờ các
hoạt
động tương tác
giữa
người
cung
cấp và khách hàng,
3
cũng
như nhờ các
hoạt
động
của
người cung
cấp đê đáp ứng nhu cầu của
người
tiêu dùng
[10].
Như
vậy có
thể

đời sống
sinh
hoạt
của con
người.
Khi
chưa phát
triển,
dịch
vụ chí
được
coi

hoạt
động
bổ
trợ
cho thương
mại.
Ví dụ như
việc
các nhà
sản
xuất
đưa
ra
các
dịch
vụ sau bán
hàng nhằm

cách
bổ
trợ
cho
thương
mại nọa mà nó
trở
thành đối
tượng
của
thương
mại, từ
đó
hình thành khái niêm thương
mại
dịch
vụ.
Mặc dù cho đến nay
chưa
có một
khái
niệm
chính
thức
về
thương
mại
dịch
vụ,
tuy

nhuận
[14].
Với
cách
hiểu
này có
thể
thấy
thương mại
dịch
vụ
cùng
với
thương
mại
hàng
hoa là
hai
bộ phận
cấu
thành
nên
thương
mại
quốc
tế.

trong
xu
thế

tăng
trung
bình
6%/năm của
thương
mại
hàng
hoa và
khoảng
60% giá
trị
đầu tư
trực
tiếp
nước ngoài
hiện
nay
thuộc
về
lĩnh
vực
dịch
vụ
[14].
1.2
Khái niợm
dịch
vụ hàng
hải
Cho

khác
nhau
về
khái
niệm
này.
Nếu
hiểu
theo
nghĩa
rộng,
dịch
vụ
hàng
hải bao gồm
toàn
bộ các
hoạt
động hàng
hải.
Các
hoạt
động hàng
hải,
hay
quá
trình sản
xuất
hàng
hải

môi
giới
hàng
hải,
phục vụ tẩu
tại
cảng,

vấn hàng
hài, [181.
Tổ
chức
thương mại
thế
giới
WTO
tuy
không đưa
ra
định
nghĩa
về
dịch
vụ
hàng
hải,
tuy
nhiên
ta


Agreement
ôn
Trade
in
Services)
thì phân ngành
thứ
11 được đề cập
tới

dịch
vụ vân
tải biển
bao
gồm 6 nhóm
dịch vụ:
vận
tải
hành khách; vận
tải
hàng hóa; cho thuê
tầu
(có
cả
thuyền
viên);
bảo
dưỡng,
sửa
chữa

ocean
transport)
• Nhóm 2: Dịch vụ hỗ
trợ
hàng
hải (Maritime
Auxiliary
Services)
bao gồm
6 nhóm nhỏ
là:
xếp dỡ hàng
hoa,
lưu kho bãi và cho thuê kho
bãi, dịch
vụ
hải
quan, dịch
vụ làm hàng
container,
đại

tầu
biển,
dịch
vụ
giao
nhận
hàng
hải

thải;
dịch
vụ càng vụ;
bảo
đảm hàng
hải;
dịch
vụ khác trên bờ
(phục
vụ cho
tầu
biến);
sửa
chữa
khẩn
cấp
trang
thiết
bị;
dịch
vụ neo đậu và cập cầu
cảng
Như vậy
theo
cách phân
loại
của WTO có
thể hiểu
dịch
vụ hàng

nghĩa
nào về
dịch
vụ hàng
hải.
Chỉ có Nghị định số 10/2001/NĐ-CP của
Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 3 năm 2001 về
điều
kiện kinh
doanh dịch
vụ
hàng
hải

liệt
ké 9
loại
hình
dịch
vụ hàng hải chịu sự
điều
chỉnh cùa nghị
định, bao gồm: Dịch vụ đại lý tẩu
biển,
Dịch vụ đại lý vận
tải
đường
biển,
Dịch vụ môi
giới

đưấc
hiểu
theo
nghĩa hep, nghĩa
là các
dịch
vụ bổ
trấ
khác ngoài vận
tải
hàng hóa
và hành khách
trong
ngành vận
tải
biên.
2.
Vai
trò
của
dịch
vụ hàng
hải
2.1
Dịch vụ hàng
hải

yếu
tố
không tách

cho thương mại
quốc
tế.
Hàng năm hơn 80%
khối
lưấng
hàng hóa
trong
buôn bán
quốc
tế
đưấc chuyên
chở
bằng
đường
biển.
Con số này ở
Việt
nam là hơn 90%
[18].
Cùng
với
sự
phát
triển
của thương mại
quốc
tế,
khối
lưấng

chở,
xếp
dỡ,
giao
nhân cho đến
cung
ứng cho
tầu
hay
lo
đáp
ứng
các nhu cầu của
tầu
trong
suốt
quá trình vận
chuyển.
Ngày nay họ
quản

những
con
tầu
cỡ hàng vạn
tấn
với
cường
độ làm
việc

những
người
nắm rõ
thủ
tục,
luật
lệ,
tập
quán
cũng
như tình hình
thị
trường
cho
thuê
tầu.
Chính do nhu cầu đòi
hỏi
nói trên của các chủ
tầu
và chù hàng,
hay
nói khác đi là sự đòi
hỏi tất
yếu do sự tăng trường của thương mại
quởc
tế
nói
chung
và ngành vận

lại,
bổ
trợ lẫn
nhau.
Xét ở phạm
vi
một
quởc
gia,
nếu
dịch
vụ
hàng
hải
phát
triển,
sẽ
thu
hút được
lượng
tầu lớn
về các
cảng
trong
nước,
làm
tăng tính
cạnh
tranh
trên

Dịch vụ hàng
hải tạo
nguồn thu cho ngân sách Nhà
nước, tăng
thu
ngoại
tệ
cho
quốc
gia
Doanh
thu từ
các
dịch
vụ hàng
hải
đóng góp không nhỏ cho ngân sách
nhà nước thông qua các
khoản
thuế,
phí và
lệ
phí mà các
doanh
nghiệp
kinh
doanh

nghĩa
vụ đóng góp. Ngoài

xuất
khẩu dịch
vụ hàng
hải
của
Việt
Nam đát 336
triệu
USD, tương đương 8%
tổng
giá
trị
dịch
vụ
xuất
khẩu.
2.3
Dịch vụ hàng
hải
góp phần
tạo
cõng ăn
việc
làm

góp phán
thay
đoi
cơ cấu
nền

góp
phần
giải
quyết
việc
làm cho
ngày càng
nhiều lao
động
với
mức lương được
cải
thiện
hơn.
Mặt
khác,
dịch
vụ hàng
hải
phát
triển
cũng
góp
phần
làm tăng tỷ
trọng
ngành
dịch
vu
trong

hệ
quốc
tế,
đẩy mạnh hội
nhập
kinh
tế quốc

Hội
nhập
kinh tế
quốc
tế

xu
thế
tất
yếu của mọi nền
kinh tế
ngày nay.
Đó là
quá
trình
tham
gia

tuân thù
luật
lệ
của

là thành viên
hoặc
muốn
trở
thành thành viên của
Tổ
chức
thương mai
thế
giới
đều
phải
cam
kết tự
do
hóa,
mở
rộng
thị
trưởng
dịch
vụ vận
tải
biển
(bao
gồm
cả
dịch
vụ
hàng

cùng
với đội
tầu,
bảo
dưỡng

sửa
chữa tầu
thuyền,
các
dịch
vụ đấy

kéo,
các
dịch
vụ
hỗ
trợ
cho vận
tài
biển.
Không
phải tất
cả các
dịch
vụ
hàng
hải
được

hội
nhập quốc
tế

hiệu
quả.
Cho
đến
nay,
ngành hàng
hải
Việt
Nam đã
tham gia
trực
tiếp
vào quá
trình
đàm
phán
tự
do hóa
dịch
vụ
vận
tải
biển
của
ASEAN và WTO và đã có
những

ngoài,
phục
vụ
tốt
cho
tầu

nước ngoài cập
cảng
Việt
Nam
cũng
giúp thúc đấy
môi
quan

hợp tác
kinh
tế
tốt
đẹp
giữa
nước
ta với
các
nước khác
trong
khu vực

trên

mới phát
triển,
ờ kỷ nguyên
"tầu
buồm",
người
chù
tầu
đồng
thời
cũng

thuyền
trưởng -
"master"-

người
trực
tiếp
làm các
công
việc
như tự tìm
nguồn
hàng chuyên
chở,
giao
dịch với
chủ hàng,
điều

khối
lượng
chuyên chờ hàng
hóa
bằng
đường
biển thấp
nên chủ hàng còn có
điều
kiện
tự đi tìm
tầu
để
chuyên
chở.
Thông
tin
liên
lạc cũng
chưa phát
triển
nên
việc giao
dịch
thuê
tầu
thường
diễn
ra
trực

vượt
bậc cả về số
lượng
lẫn chất
lượng.
Một chủ
tầu
không
chỉ
sở hạu một
tầu
biển
nạa mà là
rất nhiều
con
tầu với
trọng
tải
ngày càng
lớn.
Việc
quản
lý kỹ
thuật,
quản

thuyền
viên. nghiên cứu
luật
lệ quốc tế,

châu Á
ngắn
đi
rất nhiều.
Nhu cầu
trao
đổi
hàng hóa
giạa
các châu
lục
tăng
mạnh,
người
có hàng đê
gửi
nhiều
lên.
Nếu các chủ hàng cứ
tự
đi tìm
tẩu
thì sẽ dẫn đến tình
trạng rất lộn xộn.

thế,
các
dịch
vụ hàng
hải

Lloyd,
thường
là nơi các
chủ
tầu
và chủ
hàng
găp gỡ để
giao
dịch
thuê
tầu.
Từ đó Sở
giao
dịch
thuê
tầu London
(Baltic
Exchange)
ra
đời.
Tố
chức
này xây
dựng
nền
tảng,
nguyên
tắc,
chuẩn

lại lợi
nhuận
rụt
cao là bào
hiểm
hàng
hải.
Các
dịch
vụ
hàng
hải
khác
như
kiểm
đếm
hàng hóa,
cung
ứng
tầu biển, lai
dắt
tầu
biển,
vệ
sinh
tầu
biển,.,
phát
sinh
như một nhu cầu tự

tế các
hiệp
hội
giao
nhận
FIATA
(1926),
Hiệp
hội
của
những
người
hành
nghề đại
lý và môi
giới
tầu
của các
quốc
gia
trên
thế
giới
FONASBA
(1969)
lần
lượt
ra
đời,
thúc

chở khí hóa
lỏng,
ra
đòi,
các
dịch
vụ
hàng
hải cũng
phải cải
tiến
rụt nhiều
đê
phục
vụ
cho
tốt.
2 Thực
trạng
thị
trường dịch
vụ hàng
hải thê
giới
2.1
Các
loại hình dịch
vụ hàng
hải
được

hàng
hái
trên
thế
giới
đã
trờ
nên
phong
phú về
loại
hình,
nâng
cao về
chụt
lượng,
về cơ
bản,

thể
liệt
kê một số
loại
hình
dịch
vụ
hàng
hải
chủ yếu
đang được

lai
dắt
tẩu biển;
10
• Dịch vụ hoa tiêu hàng hải;
• Dịch vụ cứu hộ hàng hải;
• Dịch vụ môi
giới
thuê thuyền viên;
• Dịch vụ cho thuê phương
tiện;
• Dịch vụ cho thuê
cảng
trung
chuyển;
• Dịch vụ thông tin hàng hải cho tẩu;
• Dịch vụ môi
giới
thuê tẩu, tìm hàng cho tầu;
• Dịch vụ
cung
ứng tầu biển, bao gồm
cung
cấp vật tư,
thực
phẩm cho
tầu,
cung
cấp nhiên
liệu,

Trên thế
giới
hiện nay
cũng
đang phát
triển
một
loi
hình
dịch
vụ ớ cấp
độ cao -
dịch
vụ
logistics.
về cơ bản có thể hiểu
loi
hình
dịch
vụ này là
dịch
vụ
giao
nhận vận tải phát
triển
ở mức độ cao và hoàn thiện.
Hiểu
theo
nghĩa
rộng hơn, ỉogistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các

của
dịch
vụ
trong
tương
lai.
2.2
Về
tình hình
thị
trường
Trong
những
năm gần đây,
thương
mại
quốc
tế
nói
chung cũng
như
thương
mại
đường
biển
nói
riêng luôn tăng trưởng
qua các năm. Và
theo
đó

dường
27
T
biển)
24
21
18
15
12
1980
1985 1990
1995 2000
Triệu
DVVT
(đội tầu)
T 1000
900
800
700
600
500
2004

Thương
mại
đường
biển
thế
giới
-X-

là 5,8% và
4,3%,
cao hơn hẳn so
với
các năm
trước đó.
Đội
tẩu
thế
giới
cũng
gia
tăng
theo
từng
năm.
12
Biểu
đồ
2:
Biểu
dồ
tình
hình phát triển
của
thương
mại
đường
biển
thế

thì
Châu
Á
vẫn
dẫn đầu
thế
giới
về
khối
lượng
hàng hoa
xuất
bằng
đường
biển với thị
phần
của
nó năm
2004

38,4%.
Châu
Âu đứng
thứ
hai
với 22,7%,
tiếp
đó là
châu
Mỹ -

xuất
bằng
đường
biến
của
thế
giới
trong
các năm
qua,
trong
khi
nhóm
các
nước

nền
kinh
tế
thị
trường phát
triển
đứng
đầu về
thị phần
hàng
hoa
nhập
khổu
bằng

khối
lượng
hàng
nhập bằng
đường
biến.
Các
trung
tâm
hàng hải lớn trên
thế
giới
hiện
nay là
London,
Hổng
Rông,
Singapore,
Thượng
Hải, Mặc
dù có
nhiều
nhận
định cho
rằng
London
đang suy yếu
trong
vai
trò

quốc
tế
đang
dịch chuyển
về phương Đông, nhưng
người ta
không
thể
phủ
nhận London
hiện
vẫn duy trì được
vai
trò hàng đầu của mình
đặc
biệt
trong
lĩnh
vực
dịch
vụ hàng
hải thế
giới,
nhất

đối với
các
loứi
hình
dịch

số
liệu
của
IFSL
(International
Finance
Services,
London),
thị
phần dịch
vụ hàng
hải
của
London
năm
2004
về
dịch
vụ môi
giới
tầu
biển
là 50% toàn
thế
giới,
về
dịch
vụ bảo
hiếm
hàng

thị
trường
dịch
vụ
hàng
hải
thê
giới
trong
thời
gian
qua.
Trong
những
năm gần đây do
những
biến
chuyển
không
thuận
lợi trong
nền kinh
tế
thế
giới
như: suy thoái
kinh tế,
khủng hoảng
an
ninh

trường
khiến
các hãng
tầu lớn

khuynh
hướng
muôn bán
thẳng
sản phẩm vận
tải
của mình cho
người
có hàng mà không cần thông qua
các
trung gian
như trước
với
hy
vọng giảm
thiểu
được
chi
phí,
nâng cao
hiệu
quả
kinh tế.
Thêm vào
đó,

đó có
nghĩa

tuy
nhu cẩu về
dịch
vụ hàng
hải
vẫn tăng
song
thị
trường
dành cho các
doanh
nghiệp
kinh
doanh dịch
vụ hàng
hải
lứi
ngày càng bị
thu
hẹp
do các
doanh
nghiệp
vận
tải
có xu
hướng

hiện
nay đã tứo ra sức ép
cứnh
tranh
rất
lớn đối
với
các
doanh
14
nghiệp
kinh
doanh dịch
vụ hàng
hải,
buộc
họ
phải
tìm
ra
nhúng
hướng
đi mới
trong
tương
lai.
3.
Xu
thế
phát triển

kinh
doanh dịch
vụ hàng
hải
phải

những
thay
đổi
lớn
cả về
chất

lượng
đậi với
những dịch
vụ của mình.
Sự
phát
triển
cùa
các
dịch
vụ hàng
hải

thể
được
tổng
kết

dưới
đây có
thể
cho
ta
thấy
một sậ liên
minh
điển
hình của xu
hướng
sáp
nhập
này:
Bảng
1:
Các
liên
minh hàng
hải
được hình thành thời gian
gần đây
Tên
The
Cosco/
của
Maersk/
Ncvv
Grand
United

OOCL,NUSC
Sậ
141
94
1763 152
90
lượng
Dung
692450
390000
742800 567200 370000
tích
Nguồn: NYK2001 "The world
containerfleets
&
its
operation"
Sự
xuất
hiện
của các liên
minh
toàn cầu đã dẫn đến sự
thay
đổi
trong
cấu
trúc của
mạng
lưới

15
Cùng
với
xu
thế
liên
kết,
hợp
nhất
của vận
tải
biến,
ngành
dịch
vụ hàng
hải
cũng
phát
triển
theo
xu hướng toàn
cầu.
Trước
hết
xu hướng này
thể
hiện

việc
các

thiết
để ký
các hợp đờng
dịch
vụ tương ứng
với nhiều
giá
trị
gộp
lại
cho các chủ
tầu.
Một
mạng
lưới
hệ
thống
dịch
vụ
quốc
tế
thường
cung
ứng các
dịch
vụ
với chất
lượng
cao,
khai

hải lớn
trên thế
giới,
tại
những
cảng
khác
nhau
của các
lục địa:
New
York, Dubai, Singapore,
Hồng kông, Thượng
hải,
Tokyo,
Bất
cứ
dịch
vụ nào về
đại

tầu
biển,
đại

vận
tải
đa phương
thức,
cung

thể
hiện

việc
các hãng tầu
lớn
đang cố
gắng
thay thế
các công ty
đại
lý địa
phương
bằng
các
chi
nhánh
hoặc
công
ty
con của mình mỏ
tại
nước đó nhằm
giảm
chi phí,
đảm bảo được
chất
lượng
dịch
vụ đồng đều trên

khó có
thể
đáp ứng
được.
Tại
một số nước như
Singapore,
Hờng Kông, Đài Loan, các hãng
tầu
như
p&o
Nedloy,
Happag
Loyd,
Maersk,
Moi đã
thiết
lập
các
chi
nhánh của mình
tại
những
nước này.
Hiện nay,
luật
pháp
quốc
gia
một số nước còn

kết
cục nói trên nếu không nỗ lực
nâng cao khả năng
cạnh
tranh
của mình.
3.2
Xu hướng đa dạng hóa
trong dịch
vụ
Ngày
nay,
để
thu
được 10 USD cho
việc
tìm hàng
lẻ
(LCL -
Less
than
container load)
hay 50 USD cho
việc
đất
trước một container là
rất
quý
đối
với

cũng

cung lớn
hơn cầu mà
việc
tìm
kiếm
việc
làm cho
người
cung
cấp
dịch
vụ hàng
hải
không còn dễ dàng như
những
thập
niên
trước,
cộng với
lãi
suất
ít
ỏi
nên
việc
đa
dạng
hóa

cung
ứng là làm thêm
các
dịch
vụ khác như: đại lý
tầu,
đại lý du
lịch,
đại lý sửa
chữa
tầu với
phương châm đa
dạng
hóa đế
tồn
tại,
dịch
vụ này hỗ
trợ
dịch
vụ
kia trong
một
chu
trình khép kín của công
nghệ.
Đây
cũng
là xu
thế

Xu hướng đơn
giản,
gọn nhẹ

hiện
đại
hóa
trong dịch
vụ
Như đã nói ở
trên,
các hãng
tầu lớn
hiện
nay thường có
khuynh
hướng
đến
thắng
với
chủ hàng
với
sự
trợ
giúp đắc
lực
của hệ
thống
thông
tin

là các
giá
trị truyền
thống
không gì
thay thế
được.
Nhận rõ
lợi
thế
này,
các nhà làm
dịch
vụ hàng
hải
có xu
hướng
hình thành hệ
thống
dịch
vụ hoàn
chinh, hiện
đại
hóa và đơn
giản
mọi quy trình để có
thể nhận dịch
vụ
trọn
gói. Đơn cứ

vụ
tại
cảng
bao
thầu
toàn bộ các công
đoạn
trọn
gói cho
việc
xếp
dỡ
container.
Ngoài
ra,
xu
hướng
đơn
giản,
gọn nhẹ và
hiện đại
hóa còn thê
hiện trong
việc
giảm
bớt khâu
giấy
tờ tài
liệu,
áp

(BIMCO) đã sử
dụng dịch
vụ
điện
tử
E-
commerce
trong
các
hoạt
động của mình,
hướng
tới
số hóa hầu
hết
các
chứng
từ,
ngay
cả
đối
với
loại
chứng từ quan
trọng
như vận đơn
đường
biển
(Bin
of

những
thành
tựu
vưừt
bậc của công
nghệ
thông
tin
đã
khiến
cho mọi
hoạt
động
kinh
tế
nói
chung cũng
như
hoạt
động
dịch
vụ hàng
hải
nói riêng
trở
nên
nhanh
chóng,
tiện
lừi,

kinh
tế
nói
chung cũng
như ngành
dịch
vụ hàng
hải
nói
riêng,
nhất

trong
thời
đại
tự
do
hoa và toàn cầu hoa như
hiện
nay.
Cạnh
tranh
gay
gắt,
đòi
hỏi
ngày càng
cao
của khách hàng
buộc

thế
chú
trọng
đào
tạo đội
ngũ
cán bộ có năng
lực
trình độ chuyên môn
cao,
chuyên
nghiệp,
phát huy và
duy
trì đưừc
những
mối
quan
hệ lâu dài, bển
vững với
khách hàng sẽ
quyết
định
sự thành
bại
của
doanh
nghiệp.
18
IU

với
sự hình
thành và phát
triển
của vận
tải
đường
biển.
Vào thòi kỳ
phong
kiến,
vận
tải biển Việt
Nam không có
những
thành
tựu
đáng kể nên các
dịch
vụ
phục
vụ cho quá trình vận
chuyển,
xếp dỡ hàng
hoa
chuyên chở
bứng
đường
biển
hầu như không có gì đáng nói.

nhập khau
phần
lớn
là máy móc, xe
cộ,
hàng tiêu dùng phương Tây.
Sau
ngày
giải
phóng, thòi kỳ
miền
Bắc xây
dựng
chủ
nghĩa

hội,
miền
Nam
tiếp
tục
đấu
tranh
chống
đế
quốc
Mỹ, nhiêm vụ của vận
tải
biến
lúc bấy

cảng

phần
lớn
do
cảng Hải
Phòng
thực
hiện.
Năm
1960,
Nghị định 15/CP của Chính phủ quy định
quyền hạn, nghĩa
vụ
của
đại

tầu
biển
được phê
duyệt
đã đánh dấu cho sự chính
thức
hoa
hoạt
động
hàng
hải

Việt

đây là ngành độc
quyền
của các
doanh
nghiệp
nhà nước
thời
đó. Mỗi
loại
hình
dịch
vụ được Nhà nước
chỉ
định
giao
cho một
doanh
nghiệp
cụ
thế
do
việc
tiếp
xúc
với
nước ngoài được
kiểm
tra,
giám sát
hết

thương do
Viettrans
phụ
trách,
Viconship
làm
dịch
vụ
container, Vietalco
thực
hiện
dịch
vụ
kiểm
đếm, Ở
mỗi
cảng lớn
như Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nang, Quảng
19
Ninh
đều có một công
ty
cung
ứng
tầu biển
thuộc
Uy ban nhân dân
tinh.
thành
phố

đất nước
thực
hiện
chính sách "mở
cạa"
nền
kinh tế.
ngành
vận
tải
biển
nước
ta

điều
kiện
phát
triển
mạnh
mẽ.
Hoạt
động
giao
lưu buôn
bán
tai
các
cảng
biển
tăng, số

đạo và hàng trăm
doanh
nghiệp
đang
hoạt
động
trong
lĩnh
vực này đã làm cho
hiệu
quả sản
xuất
kinh
doanh
của khu vực
dịch
vụ hàng
hải
ngày một cao.
2.
Cơ sở pháp

cho
việc
cung ứng
dịch
vụ hàng
hải

Việt

tham gia
12 công ước
quốc
tế
về hàng
hải,
bao
gồm:
• Công ước
quốc tế
về
luật
biển
1982.
Ngày có
hiệu
lực đối với
Việt
Nam:
23/6/1994
• Công ước về Tổ
chức
hàng
hải
Quốc tế
1948.
Ngày có
hiệu
lực đối với
Việt

hiệu lực đối với Việt
Nam:
18/12/1990
• Công ước về phòng
ngừa
va chạm
tầu
thuyền
trên
biển
năm
1972.
Ngày

hiệu lực đối với Việt
Nam:
18/12/1990
20
•>
Công
ước về
ngăn
ngừa
ô
nhiễm
dầu từ
tầu
biển
năm
1973, sửa

1988.
Ngày

hiệu lực đối với
Việt
Nam:
10/10/2002
• Công
ước về
tổ
chức huấn
luyện,
thi,
cấp
chứng
chỉ chuyên
môn và
trực
ca
cho
thuyền
viên
năm
1978, nghặ
đặnh
thư
sửa
đổi,
bổ
sung

Nam:
17/6/2004
• Công
ước về Tổ
chức
vệ
tinh
hàng
hải quốc tế
năm
1976.
Ngày

hiệu
lực
đối với
Việt
Nam:
15/4/1998
••• Công
ước về
tao
thuận
lợi trong
giao
thông hàng
hải quốc tế
năm
1965.
Ngày

Hiệp
đặnh
khung
ASEAN
về thương mại
dặch
vụ
(15/12/1995)
• Hiêp đặnh
khung
về khu vực đầu tư
ASEAN
(MA)
(7/10/1998)
••• Hiêp đặnh
khung
ASEAN về
tạo điều
kiện
thuận
lợi
cho
hàng
hoa quá
cảnh (16/12/1998)
Hiệp
đặnh
ASEAN về
tạo
thuận

về
Vận
tải
đa
phương
thức
(17/11/2005)
Ngoài
ra
Việt
Nam đã ký
kết
các
hiệp
đặnh Hàng
hải
song
phương
với
17
quốc
gia
trên
thế
giới.
Ngày
07/11/2006
Việt
Nam đã
chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status